Đặt vấn đề Việt Nam là một quốc gia đang phát triển, có thé mạnh về nông nghiệp, là ngành kinh tế quan trọng của nước ta. Năm 2009, giá trị sản lượng của nông nghiệp đạt 71,473 nghìn tỷ đồng, tăng 1,32% so với năm 2008 và chiếm 13,85% tổng sản phẩm quốc nội. Trong đó, ngành chăn nuôi là ngành đóng vai trò quan trọng, góp phần đáng kể trong cơ cấu nông nghiệp nước ta. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi hiện nay đang gặp phải nhiều thách thức, điều này gây ảnh hưởng lớn đến người chăn nuôi nói riêng cũng như sự phát triển bền vững của toàn ngành nói chung và mảng chăn nuôi heo là một trong những lĩnh vực đáng chú ý.
Trong khoảng thời gian từ năm 2018 đến 2019, ngành chăn nuôi thé giới đã phải đối mặt với một dịch bệnh rất nghiêm trọng mang tên “dịch tả heo châu Phi” do vi rút địch tả heo châu Phi (ASFV) gây ra. Đây là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm với tỉ lệ nhiễm bệnh và tỉ lệ tử vong rất cao, đa phần heo nhiễm bệnh sẽ chết và tỉ lệ tử vong được ghi nhận lên đến 100% (Blome và ctv, 2020). Vào ngày 19/02/2019, Chi cục Thú y Việt Nam ghi nhận ô dịch đầu tiên tại Hưng Yên và Thái Bình đồng thời tại các khu vực khác của châu Á như Hàn Quốc, Indonesia, Philippine. cũng ghi nhận nhiều trường hợp nhiễm ASEV trước đó.
Theo tổ chức thú y thế giới (OIE) tinh từ đầu năm 2017 đến ngày 18/02/2019, thế giới đã có 20 quốc gia báo cáo xuất hiện dịch tả heo châu Phi (DTHCP), trong đó Trung Quốc là quốc gia chịu thiệt hại nặng nề nhất. Kiểu gen I và II được xác định đang chiếm ưu thé tại nhiều quốc gia xuất hiện DTHCP cho thấy tỉ lệ tử vong cao hơn so với các kiểu gen còn lại, trong đó kiểu gen II được ghi nhận là kiểu gen phô biến ở các nước châu Âu và chau A. Dịch tả heo châu Phi đã khiến nhiều nước buộc phải tiêu hủy số lượng heo lớn, ước tính tổng số heo buộc phải tiêu hủy trên toàn thế giới lên đến hàng trăm triệu con. Theo thống kê của OIE, tổng đàn heo của thế giới vào tháng 1 năm 2020 đạt khoảng 678 triệu con, giảm gần 12% so với cùng kỳ năm 2019 với tổng đàn heo ước tinh khoảng 768 triệu con.
Trung Quốc là nước chịu thiệt hại nghiêm trọng nhất trong đợt bùng phát dịch này. Cũng theo thông tin của OIE, tổng đàn heo của Trung Quốc tháng 1 năm 2020 là 335 triệu con, giảm 53% so với 710 triệu con trước khi có dịch bệnh. Thời gian dé kiểm soát dich tại Trung Quốc là 17 tháng. Tại Việt Nam, vào năm 2021 chi cục Thú y Việt Nam đã báo cáo rằng cả nước đã phải tiễn hành tiêu hủy hơn 5 triệu cá thé tính đến ngày 22/09/2019 dé lại thiệt hại rất lớn cho nền nông nghiệp nước nha, dịch bệnh đã phát sinh tại 47 xã trong 5 tháng đầu năm 2020, cụ thé có 25 xã mới có dịch và 22 xã tái phát dịch.
Như vậy, DTHCP đã lây lan đến nhiều quốc gia trên thế giới, gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi heo thế giới đồng thời ảnh hưởng đáng kế đến chuỗi cung ứng thịt heo toàn cầu. Song song đó, DTHCP còn cho thấy những điểm yếu trong lĩnh vực chăn nuôi thú y, trong công tác phòng, kiểm soát dịch bệnh tại châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng trong bối cảnh vắc xin phòng bệnh hiệu quả chưa có. Chính vì thế, việc phát hiện sớm tác nhân gây bệnh này đóng vai trò cấp thiết trong công tác phòng chống bệnh DTHCP. Hiện nay, thị trường có nhiều loại hệ thống real-time PCR nhưng nhược điểm chung tốn kém nhiều chi phí lắp đặt và vận hành.
Với kích thước nhỏ gon, may real-time PCR q16 (Primerdesign Ltd, England) là một thiết bị real-time PCR đi kèm với bộ kit được thiết kế đặc hiệu cho máy, được hiểu là phương pháp real-time PCR đi kèm với máy q16, là một trong những lựa chọn hiệu quả. Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả phát hiện ASFV của phương pháp đi kèm với máy real-time PCR q16 và một quy trình PCR truyền thống trên các mẫu thực địa. Mục tiêu đề tài Đánh giá hiệu qua phát hiện ASFV giữa phương pháp đi kèm với máy real-time PCR q16 và một quy trình PCR truyền thống và xác định kiểu gen lưu hành của ASFV trên mẫu thực địa. Nội dung thực hiện 1.
Đánh giá hiệu qua phát hiện vi rút ASF của phương pháp đi kèm với may real-time PCR q16 và một quy trình PCR truyền thống. Xác định kiêu gen của vi rat ASF đang lưu hành trong mẫu thực địa. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Một số đặc điểm nghiên cứu về ASFV 2.
Phần loại học Vi rút dich tả heo Châu Phi (ASFV) được phân loại là loài duy nhất của chi Asfivirus, thuộc họ Asfaviridae (Dixon va ctv, 2005). Vào tháng 7 năm 2019, Uỷ ban quốc tế về phân loại vi rút (ICTV) đã công bố rằng họ Asfaviridae thuộc bộ Asfuvirales, lớp Pokkesviricetes (Alonso và ctv, 2018). Bên cạnh danh pháp chính thức này, một số tranh cãi xoay quanh cách phân loại này đã xếp ASFV vào bộ Megavirales (Andres và ctv, 2020). Cau trúc của hat vi rút ASF Hat vi rút (virion) của ASFV mang thông tin di truyén là một sợi DNA xoắn kép, không đóng vòng, có kích thước từ 170 — 193 kb.
Bộ gen chứa khoảng 150 — 167 khung đọc mở (ORF) với vùng bảo tồn có kích thước khoảng 125 kb và hai đầu biến đổi có kích thước lần lượt là 38 — 48 kb, 13 — 22 kb (Dixon và ctv, 2019). Các trình tự đầu và cuối của bộ gen là các trình tự lặp lại đối xứng đảo ngược có khả năng đóng vòng tạo thành những cấu trúc kẹp tóc (Salas và Andrés, 2013). Bộ gen mã hóa cho nhiều protein khác nhau liên quan đến quá trình lắp ráp, tái bản, sửa chữa DNA (Reis và ctv, 2017). Nhìn chung, cấu trúc của một hat vi rút rất phức tạp có đường kính là 175 — 215 nm, nằm ở trung tâm vùng nhân (nucleoid) là một axit nucleic liên kết với protein (nucleoprotein) có đường kính 70 — 100 nm, một lớp vỏ lõi được bao bọc bởi một lớp màng don lipid, bên ngoài là lớp vỏ capsid đôi được hình thành từ 1892 — 2172 capsomer, ngoài cùng là lớp màng ngoài lipid (envelope) (Alonso và ctv, 2018; Salas va Andrés, 2013) (Hình 1.
Theo Qu va ctv (2022), gen B646L mã hóa cho protein p72, yếu tố lây nhiễm chủ yếu của ASFV và cho phép phân loại các chủng ASFV thành 24 kiểu gen I — XXIV. Có 68 protein cau trúc được xác định có hiện điện trong các hat vi rút có đường kính 200 nm, chiếm 39% khả năng mã hóa của bộ gen, 44 polypeptide liên quan đến đóng gói hạt vi rút và một nửa trong số đó vẫn chưa xác định rõ chức nang (Alejo va ctv, 2018). Hơn 100 protein được xác định có liên quan đến khả năng lây nhiễm ở đại thực bao của heo nhiễm bệnh, trong số đó có ít nhất 50 protein có phản ứng huyết thanh học ở các heo bị nhiễm hoặc đã hồi phục (Sanchez-Vizcaino va Arias, 2012). Outer Envelope Outer Capsid ATIVE 4 Inner Membrane tf Nucleoid Core Shell Inner Capsid Hình 1.
Cấu trúc của hạt vi rat ASFV. Bên trái là hình chụp dưới kính hiển vi điện tử của một hạt vi rút ASFV được cô định hóa học bằng resin; bên phải là hình vé 2D mô phỏng lại cau trúc của hạt vi rút ASFV (Blome và ctv, 2020). Nuôi cấy Vi rút DTHCP xâm nhiễm các tế bào bạch cầu đơn nhân, tế bào bạch cầu trung tính, các tế bào đại thực bao ở tủy xương và trong máu, tế bao thận, tế bào gan (Wilkinson và ctv, 1978; Casal và ctv, 1984; Sierra va ctv, 1987). Vi rút DTHCP được nuôi cấy trên các loại tế bao như tế bao đại thực bào phế nang phối (PAM), tế bao sơ cấp tủy xương (PBMC), Cos | hay Vero (Knudsen và ctv, 1987; Carrascosa và ctv, 1982; Carrascosa va ctv, 2011).
Trước tiên, ta áp dụng quy trình chuẩn bị mẫu nhằm thu nhận tế bào từ heo nhiễm ASFV tùy theo từng loại tế bào, chẳng hạn như tế bào sơ cấp tủy xương (Enjuanes và ctv, 1976), tế bào đại thực bào phế nang phôi (Carrascosa và ctv, 1982). Tiếp theo, ta chọn dòng tế bào mục tiêu cho quá trình nuôi cấy, các dòng tế bào mục tiêu thường được sử dụng như Cos | hay Vero có nguồn gốc từ khi. Kế đến, tế bao sẽ được nuôi cấy trên môi trường phù hợp (phổ biến là môi trường DMEM), sau đó tiến hành lây nhiễm và thu nhận các tế bao nhiễm ASFV đã tăng sinh. Khả năng đề kháng Năm 2019, theo Cục Thú y, ASFV có sức đề kháng cao, có thê tồn tại trong máu, phân và mô, trong xác động vật, thực phẩm được chế biến từ thịt heo như xúc xích, giăm bông.
Vi rút tồn tại trong thịt đông lạnh đến 15 tuần, đến 6 tháng đối với giăm bông bảo quản và 399 ngày đối với giăm bông Parma (Vizcaino và ctv, 2009; McKercher và ctv, 1978; Mebus va ctv, 1993). Vi rút tồn tại ở nhiệt độ 56°C trong 70 4 phút hoặc ở 60°C trong 20 phút (Mebus và ctv, 1997). Vi rút tồn tại trong máu dạng lỏng ở nhiệt độ phòng trong 18 tháng và lên đến 6 năm ở nhiệt độ 4°C (Blome và ctv, 2020): trong máu đã khô được 70 ngày, trong giăm bông được 140 ngày và ở nhiệt độ 50°C tổn tại trong 3 giờ (Cục Thú y, 2019); trong phân chuồng ở nhiệt độ phòng được 11 ngày (Africarne và ctv, 2019). Theo Cục thú y (2019), trong lách heo ASFV được bảo quản ở nhiệt độ sâu (-20°C đến -70°C) có thể tồn tại trong 82 đến 105 tuần và khong phát hiện ASFV trong thịt heo được nấu chín ở nhiệt độ 70°C.
Trong môi trường không có huyết thanh, vi rút có thể bị bat hoạt ở điều kiện pH < 3,9 hoặc pH > I1,5 (Mebus và ctv, 1997); trong môi trường với 25% huyết thanh với pH = 13.4, vi rút có thê tồn tại được trong 7 ngày và khi không có huyết thanh vi rút có thé tồn tại được 21 giờ (OIE, 2019). Theo Cục Thú y (2019), ASFV man cam với ether, chloroform, có thể bất hoạt vi rút bằng 0,8% sodium chloride, hop chat iodine, hypochlorites có chứa 2,3% chlorine, 0,3% formalin hoặc ortho-phenylphenol 3% và phải duy trì thời gian 30 phút.