Đặt vấn đề Cây tre là một hình ảnh quen thuộc trong cuộc sống của người dân Việt từ bao đời. Lũy tre làng là thành lũy chống giặc ngoại xâm, là mái nhà đơn sơ mộc mạc mà đầy vững vàng, là điểm tựa cho ông cha ta vững bước đánh đuổi giặc ngoại xâm từ thời Bắc thuộc đến hai cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ để giảnh lay nên độc lập cho dân tộc, sự bình yên cho tổ quốc. Vì đặc tính bền chắc, đa phan cây tre được sử dụng đề phục vu cho việc xây dựng nhẹ (làm cột, chèo, mái nhà), kết bè qua sông, làm nguyên liệu cho các ngành nghề thủ công truyền thống, trang trí cảnh quan trong những ngôi nhà hiện dai. Tuy nhiên, chưa có nhiều nghiên cứu về các thành phan hợp chất có trong tinh dầu lá tre.
Trong cuộc sống hiện đại với các sản phẩm có nguồn gốc từ các nguyên liệu hóa học tổng hợp thì một sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên như tre sẽ góp phan cải thiện thành phan trong các sản phẩm thương mại giúp con người tiếp cận được các sản phẩm an toàn, lành tính và không gây ô nhiễm môi trường. Mục tiêu của đề tài Chiết xuất tinh dau lá tre bằng phương pháp chưng cat hơi nước. Từ đó, tinh dầu lá tre làm nguyên liệu cho việc xác định các thành phần các chất có hoạt tính sinh học cao như terpenoid, ester, lipid và đánh giá khả năng chống oxy hóa của tinh dầu lá tre (Bambusa vulgaris). Nghiên cứu giúp cung cấp thêm một phan cơ sở đữ liệu về thành phan hóa thực vật quan trọng trong tinh dầu lá tre, phục vụ phát triển các sản phẩm có giá trị thương mại.
Nội dung thực hiện Đề đạt được mục tiêu, đề tài cần thực hiện những nội dung sau: Nội dung 1: Chiết xuất tinh dau lá tre bằng phương pháp chưng cất hơi nước. Nội dung 2: Khảo sát mang tính định tính thành phần các hợp chat trong tinh dau lá tre. Nội dung 3: Đánh giá hoạt tính chống oxy hóa của tinh dau lá tre. TONG QUAN TÀI LIEU 2.
Giới thiệu về tre Bambusa vulgaris 2. Giới thiệu Theo Ttrung tâm Dữ liệu Thực vật Việt Nam tre được phân loại như sau: Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Liliopsida Bộ : Poales Ho : Poaceae Chi : Bambusa Loai : Bambusa vulgaris forma waminiit Wen Tre mỡ hay còn gọi là tre vàng, tre tré, tre bung phật, trac phat bụng to là một loài thuộc họ cỏ (Poaceae). Đây là loài bản dia cua bán đảo Đông Dương và tỉnh Vân Nam, Trung Quốc được đem trồng và tự nhiên hóa tại nhiều nơi. Tre mỡ là một trong những loài tre đễ nhận biết nhất (Ohrnberger, 1999).
Môi trường sống Tre mỡ thương xuất hiện tự nhiên hoặc được trồng chủ yếu trên bờ sông, hai bên đường, đất hoang và đất trống ở độ cao thấp. Trong canh tác, tre phát triển tốt nhất trong điều kiện âm ướt và độ cao dưới 1000 m và chịu được các điều kiện khắc nghiệt như: thời tiết khô hạn cây rụng lá, cây tre có thé tồn tại ở độ cao 1200 m và nhiệt độ -3°C. Ngoài ra, tre còn có thê tồn tại ở nhiều loại đất có thé nhưỡng khác nhau (Ohrnberger, 1999). Cong dung Thân tre dùng dé làm các bộ phận của thuyền (cột buồm, bánh lái, chân chống, sào chéo thuyén), lam don khiéng, hang rao, dao cu, đồ nội that, các ngôi nhà nhỏ và các công trình tạm thời khác và cũng là một nguồn nguyên liệu cho ngành làm giấy.
Măng tre có thé ăn được và được sử dụng như một loại rau. Tre mỡ được trồng làm hang rào ở khu vực biên giới. Lá đôi khi được sử dụng làm thức ăn gia súc (Ohrnberger, 1999). Phân bố Tre vàng là loài thực vật bản địa của Vân Nam (Trung Quốc) và bán đảo Đông Dương.
Ngoài ra, loài tre này còn được trồng ở các khu vực khác trên thé giới như: Hoa 2 Kỳ, Puerto Rico: trồng trọt trên phần lớn hòn đảo và đường như được giới thiệu khoảng trước năm 1840 bởi người Tây Ban Nha. Châu Âu: sớm đưa vào vườn thực vật (Ohrnberger, 1999). Tên gọi Buloh gading, Aur gading, Bulohkuning (tiếng Mã Lai), Bambu kuning (Indonesia); KJnshichiku (tiéng Nhat) (Ohrnberger, 1999), tre vang, tre m6, tre bung phat, tric phat bung to (Viét Nam). Dac diém Bambusa vulgaris là loại tre có kích thước trung bình, moc thành bụi và không có gai, thân cao từ 8 - 20 m.
Thân có mau va sọc vàng hoặc xanh lục. Các long dài 25 - 35 cm, đường kính 5 - 10 cm và độ dày của vách khoảng 7 - 15 mm. Không bi đe dọa do là cây họ cỏ, đễ nhân giống bằng cách cắt thân rễ, gâm cành và chiết cành (Clark và ctv, 2015). Thành phan tinh dầu 2.
Tỉnh dầu Tinh dau là một dạng chat lỏng chứa các hợp chất thơm dé bay hơi và không tan trong nước và thường được chiết xuất bằng cách chưng cắt hơi nước, ép lạnh, dung môi. Các bộ phận của cây như: lá, thân, hoa, vỏ, rễ đều có thể làm nguyện liệu dé chiết xuất tinh dầu (Simon, 1990; Greathead, 2003). Tĩnh dầu chứa nhiều hợp chất hữu cơ có hoạt tính sinh học và hoạt tính cao hơn rất nhiều khi chiết xuất tinh đầu với nguyên liệu tươi. Phần lớn các loại tinh đầu đều không màu, tuy nhiên một vài loài như cây hoắc hương, cam, sả chanh, lá tre thì đều có màu vàng hoặc hỗ phách.
Tinh dau được sử dụng trong sản xuất nước hoa, mỹ phẩm, sữa tắm, xà phòng. Một vài loại được sử dụng trong ngành công nghệ thực phẩm và chất tay rửa gia dụng dé tạo hương thơm cho thức ăn, đồ uống và lấn áp mùi khó chịu trong các chất tây rửa. Tinh dầu chứa nhiều hợp chất hữu cơ có hoạt tính sinh học cao nên rất có tiềm năng trong lĩnh vực y học, chất phụ gia thực pham nhờ vào kha năng kháng khuẩn và chống oxy hóa của nó (Tongnuanchan và Benjakul, 2014). Ở thời điểm hiện tại, các ứng dụng của tinh dầu tre nói riêng và cây tre nói chung đã được áp dụng vào một số sản phẩm như kem đánh răng, bột tay trắng và làm than hoạt tính.
Terpenoid Terpenoid đại điện cho nhóm hợp chất lớn nhất và đa dạng nhất của các hợp chất được tạo ra bởi thực vật. Thực vật sử dụng các chất chuyển hóa terpenoid cho nhiều chức năng cơ bản trong quá trình tăng trưởng và phát triển nhưng phần lớn thực vật sử dụng các terpenoid cho các tương tác hóa học chuyên biệt và bảo vệ môi trường phi sinh học va sinh học. Trong quá khứ, các terpenoid từ thực vật đã được con người sử dung trong thực phẩm, được phẩm và hóa chất. Các ngành công nghiệp gan đây đã khai thác nó trong việc phát triển các sản phẩm nhiên liệu sinh học.
Tài nguyên gen và các nguồn vật liệu sinh học mới tạo điều kiện cho kỹ thuật trao đổi chất của các sản phẩm terpenoid có giá trị cao trong thực vật va vi khuẩn. Hơn nữa, terpenoid còn được ứng dung dé phát triển các chiến lược kiểm soát địch hại (Tholl, 2015). Lipid Lipid là một phân tử sinh học không tan trong nước, tan trong dung môi không phân cực. Các dung môi không phân cực thường là hydrocarbon được sử dụng để hòa tan các phân tử lipid hydrocarbon tự nhiên khác không hoặc không dễ dàng hòa tan trong nước bao gồm: axit béo, sáp, sterol, vitamin tan trong chất béo (như vitamin A, D, E và K), monoglyceride, diglyceride, triglyceride và phospholipids.
Các chức năng của lipid bao gồm lưu trữ năng lượng, tạo tin hiệu và hoạt động như các thành phan cau trúc của mang tế bào. Ngoài ra, lipid có ứng dụng trong ngành công nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm cũng như trong công nghệ nano (Mashaghi, 2013). Hầu hết các chất béo được tìm thấy trong thực phẩm là ở dạng triglyceride, cholesterol va phospholipid. Một số chất béo trong chế độ ăn uống là cần thiết dé tạo điều kiện cho việc hấp thụ các vitamin tan trong chất béo (A, D, E và K) và carotenoid.
Con người và các động vật có vú khác bắt buộc phải bé sung một số axit béo thiết yếu, chăng hạn như axit linoleic (axit béo omega-6) và axit alpha-linolenic (một loại axit béo omega-3) vì không thé được tổng hợp từ các tiền chất đơn giản trong chế độ ăn uống. Phương pháp 2. Phương pháp chung cat hơi nước Phương pháp chưng cất hơi nước hay lôi cuốn hơi nước là một phương pháp được sử dung dé chiết xuất tinh dầu và phân lập các hợp chat chống oxy hóa, kháng khuẩn từ các loại thực vật, đặt biệt là từ các loài cây dược liệu (Farag và ctv, 1989). Đó là một quá trình chưng cất liên tục nhiều tầng trong đó hơi nước được sử dụng đề chiết xuất 4 tinh dầu.
Hơi nước được dẫn qua nguyên liệu thực vật, hỗn hợp hơi nước và các chất được bay hơi và ngưng tụ để tạo ra một chất lỏng trong đó dầu và nước tạo thành hai lớp riêng biệt. Một trong những lớp này là tinh dầu, chứa các hợp chất hòa tan trong dầu và loại còn lại là chất thủy phân hoặc hydrosol, chứa các thành phần hòa tan trong nước. Các hợp chất phân cực của tinh dầu bị thủy phân trong hơi nước và cả trong phan chat nguyên liệu trong nước nhưng chưng cất hoi nước vẫn được sử dụng rộng rãi dé chiết xuất tinh dầu. Ngoài ra, chưng cất hơi nước là một quá trình không chọn lọc vì có thé chiết xuất ra các thành phần không mong muốn trong thực vat (Irmak và Erbatur, 2008).- _- clevenger > water ———— Essential oil - - - - water - - - - steam containing essential oi! Mixture of.
yp} sample and water a --~~ Heating mantle © Hình 2. Hệ thống chưng cat hơi nước (Samadi, 2017). Sắc ký bản mồng Sắc ký bản mỏng hay sắc ký lớp mỏng là một kĩ thuật sắc ký được dùng để tách các chất trong hỗn hợp. Sắc ký bản mỏng (thin layer chromatography - TLC) là kỹ thuật sắc ký dùng dé tách các chat trong hỗn hợp.
Kỹ thuật này được phát hiện bởi M. Sắc ký lớp mỏng được thực hiện trên một tắm nhựa hoặc nhôm giấy bạc, được phủ một lớp mỏng chat hap phụ, vật liệu thường là silica gel, oxit nhôm, hoặc 5 xenlulô (giấy thám). Lớp chất hấp phụ này được gọi là pha tĩnh. Sau khi đã thêm mẫu lên bản mỏng, một dung môi hoặc dung môi hỗn hợp (được gọi là pha động) được đi qua mao dẫn.
Vì có kích thước và khối lượng khác nhau, các chất phân tích sẽ tách ra theo chiều đi chuyên của pha động.