Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cấu trúc hệ thống các tổ chức tín dụng tại Việt Nam, bên cạnh các ngân hàng thương mại và công ty tài chính quy mô lớn, tổ chức tài chính vi mô đóng vai trò cung cấp dịch vụ tín dụng chuyên biệt cho người nghèo, hộ gia đình có thu nhập thấp và các doanh nghiệp siêu nhỏ. Thực tiễn kinh tế - xã hội cho thấy phần lớn dân số Việt Nam sinh sống tại khu vực nông thôn với phương thức sản xuất nhỏ lẻ, thu nhập bấp bênh và thiếu tài sản bảo đảm, dẫn đến việc khó tiếp cận nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại do rào cản thế chấp và chi phí quản lý món vay nhỏ lẻ cao. Dù đã hình thành và phát triển gần ba thập kỷ, tính đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu (năm 2016), cả nước mới chỉ có 03 tổ chức tài chính vi mô chính thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép hoạt động. Mặc dù Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 đã chính thức tạo lập địa vị pháp lý cho loại hình này, hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động cho vay — hoạt động cấp tín dụng duy nhất của tổ chức tài chính vi mô — vẫn còn nhiều điểm bất cập, chưa thực sự phù hợp với tính chất vừa kinh doanh tiền tệ vừa thực hiện mục tiêu an sinh xã hội.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức tài chính vi mô, hoạt động cho vay và pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về cho vay của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam, chỉ rõ các kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc và nguyên nhân của những tồn tại đó.
  3. Đề xuất các định hướng và nhóm giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô được thành lập và hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Phạm vi nghiên cứu về thời gian tập trung vào giai đoạn từ khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 có hiệu lực đến năm 2016. Về phạm vi chủ thể, khóa luận giới hạn khảo sát ở 03 tổ chức tài chính vi mô chính thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép hoạt động, bao gồm: Tổ chức tài chính vi mô TNHH MTV Tình Thương (TYM), Tổ chức tài chính vi mô TNHH M7 (M7-MFI), và Tổ chức tài chính vi mô TNHH Thanh Hóa (Thanh Hóa MFI).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Về mặt lý thuyết, đề tài tiếp cận khái niệm tài chính vi mô qua các quan điểm quốc tế như định nghĩa của Ledgerwood ("Tài chính vi mô là một phương pháp phát triển kinh tế nhằm mang lại lợi ích cho dân cư có thu nhập thấp") và định nghĩa của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB). Đồng thời, tác giả viện dẫn tư tưởng của Giáo sư Muhammad Yunus (người sáng lập Ngân hàng Grameen tại Bangladesh, đoạt giải Nobel Hòa bình năm 2006) khẳng định bản chất của tài chính vi mô là hoạt động kinh doanh hướng tới mục đích xã hội giúp người dân thoát nghèo, không phải là hoạt động từ thiện đơn thuần.

Khung pháp lý nền tảng được tác giả sử dụng để đối chiếu và phân tích bao gồm:

  • Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 và Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Bộ luật Dân sự năm 2005 (các quy định về hợp đồng vay tài sản);
  • Quyết định số 2195/QĐ-TTg ngày 06/12/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng và phát triển hệ thống tài chính vi mô tại Việt Nam đến năm 2020;
  • Nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 09/03/2005 và Thông tư số 02/2008/TT-NHNN ngày 02/04/2008 về tổ chức tài chính quy mô nhỏ;
  • Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-NHNN ngày 22/05/2014 của Ngân hàng Nhà nước về quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng;
  • Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011–2015;
  • Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 về trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ (tiêu chí xác định doanh nghiệp siêu nhỏ có từ 10 lao động trở xuống);
  • Thông tư số 07/2009/TT-NHNN ngày 17/04/2009 và Thông tư số 33/2015/TT-NHNN ngày 31/12/2015 (hiệu lực từ 01/03/2016) quy định các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô;
  • Thông tư số 08/2014/TT-NHNN và Quyết định số 2174/QĐ-NHNN ngày 28/10/2014 quy định về trần lãi suất cho vay ngắn hạn.

Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý truyền thống kết hợp liên ngành: phương pháp phân tích quy phạm và tổng hợp lý luận; phương pháp so sánh pháp lý (đối chiếu quy định giữa Luật Các tổ chức tín dụng năm 1997 với năm 2010, giữa Thông tư 07/2009/TT-NHNN và Thông tư 33/2015/TT-NHNN); phương pháp thống kê và phân tích thực tiễn để đánh giá số liệu hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô được cấp phép.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về tổ chức tài chính vi mô và chế định pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của loại hình tổ chức tín dụng này.

  1. Khái niệm và đặc điểm của tổ chức tài chính vi mô: Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tổ chức tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng, là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, tổ chức này mang 4 đặc trưng riêng biệt: (i) Khách hàng mục tiêu là người nghèo, cá nhân/hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ; (ii) Mục tiêu hoạt động kết hợp giữa tìm kiếm lợi nhuận và hỗ trợ xã hội giúp khách hàng thoát nghèo; (iii) Nguồn vốn huy động được chia nhỏ để cấp tín dụng cho nhiều đối tượng với tỷ lệ nợ mất vốn rất thấp (theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước chỉ khoảng 0,08%); (iv) Chủ sở hữu thường là các tổ chức chính trị - xã hội hoặc tổ chức phi chính phủ (như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Quỹ Tình thương...).

  2. Đặc thù hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô: Khóa luận chỉ ra rằng cho vay là hình thức cấp tín dụng duy nhất mà tổ chức tài chính vi mô được phép thực hiện. Hoạt động này có 5 đặc điểm nổi bật:

  • Lãi suất cho vay thường cao hơn ngân hàng thương mại do phát sinh chi phí giao dịch và quản lý lớn khi cán bộ tín dụng phải trực tiếp đến tận địa bàn cư trú của người vay;
  • Triển khai cho vay theo mô hình nhóm khách hàng (từ 3 đến 5 thành viên) cam kết bảo lãnh chéo;
  • Cho vay chủ yếu không cần tài sản bảo đảm hoặc tài sản bảo đảm có giá trị thấp mang tính ràng buộc tâm lý;
  • Phương thức hoàn trả theo dư nợ giảm dần, chia nhỏ kỳ trả nợ cả gốc và lãi theo tuần hoặc theo tháng;
  • Phân loại hình thức cho vay: theo thời hạn (ngắn hạn dưới 1 năm: 3, 6, 12 tháng; trung hạn từ 1 đến 5 năm: 18, 24 tháng; không áp dụng cho vay dài hạn trên 5 năm); theo mục đích (sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng); theo tính chất bảo đảm và nguồn vốn (vốn tự có hoặc vốn ủy thác).
  1. Nội dung quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ cho vay: Pháp luật điều chỉnh hai nhóm quan hệ: quan hệ hợp đồng giữa tổ chức tài chính vi mô với khách hàng và quan hệ quản lý nhà nước của Ngân hàng Nhà nước. Các nguyên tắc luật định bắt buộc gồm: chỉ cho vay bằng Đồng Việt Nam; được bảo đảm bằng tiết kiệm bắt buộc hoặc bảo lãnh nhóm; duy trì tỷ lệ dư nợ cho đối tượng thu nhập thấp/doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định. Các điều kiện đối với bên vay tuân thủ quy định về năng lực pháp luật dân sự, mục đích vay hợp pháp và phương án sử dụng vốn khả thi theo Văn bản hợp nhất 20/VBHN-NHNN. Hợp đồng tín dụng bắt buộc phải lập thành văn bản với đầy đủ các điều khoản về lãi suất, thỏa thuận cơ cấu nợ (điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ).

Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về cho vay của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam hiện nay và các giải pháp hoàn thiện

Chương này đánh giá các mặt ưu điểm, hạn chế của khung pháp lý hiện hành, phân tích nguyên nhân và đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện.

Tiêu chí đánh giá Quy định trước đây (Nghị định 28/2005/NĐ-CP, Thông tư 07/2009/TT-NHNN) Quy định theo Luật Các TCTD 2010 và Thông tư 33/2015/TT-NHNN
Địa vị pháp lý Tổ chức tài chính quy mô nhỏ, chưa là TCTD chính thức Được công nhận là một loại hình TCTD chính thức
Đối tượng khách hàng Hộ gia đình nghèo, cá nhân có thu nhập thấp Bổ sung thêm đối tượng doanh nghiệp siêu nhỏ (dưới 10 lao động)
Giới hạn cho vay Khống chế hạn mức cứng không quá 30 triệu đồng Bỏ hạn mức cứng, quy định tỷ lệ an toàn trên vốn tự có
Tỷ lệ khả năng chi trả Mức tối thiểu là 20% Giảm tỷ lệ tối thiểu xuống 10%
Tiền gửi bắt buộc Tính vào công thức tính tỷ lệ thanh khoản Loại bỏ tiết kiệm bắt buộc khỏi công thức tính khả năng chi trả

Thực trạng và bất cập:

  • Khung pháp lý còn thiếu đồng bộ, nhiều nội dung còn áp dụng chung quy chế của ngân hàng thương mại, chưa tính toán hết tính chất đặc thù của tài chính vi mô.
  • Mức trần lãi suất cho vay ngắn hạn chỉ cho phép tổ chức tài chính vi mô áp dụng mức chênh lệch cao hơn 1% so với các tổ chức tín dụng thông thường (theo Thông tư 08/2014/TT-NHNN và Quyết định 2174/QĐ-NHNN), chưa đủ bù đắp chi phí vận hành món vay nhỏ lẻ tại vùng sâu, vùng xa.
  • Số lượng văn bản dưới luật (đặc biệt là Thông tư) ban hành quá nhiều làm phát sinh thủ tục hành chính phức tạp.
  • Nhận thức của người dân nông thôn về tín dụng vi mô còn hạn chế, dẫn đến tâm lý dè chừng hoặc vẫn tìm đến tín dụng đen, hụi, họ.

Nguyên nhân: Chưa có định hướng lập pháp riêng biệt cho khối tài chính vi mô; thiếu cơ chế đối thoại trực tiếp, định kỳ giữa Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và doanh nghiệp tài chính vi mô; năng lực quản trị, tài chính và hạ tầng của các tổ chức tài chính vi mô còn hạn chế sau quá trình chuyển đổi từ mô hình quỹ/hội; công tác thanh tra, giám sát chuyên ngành của cơ quan quản lý chưa sâu sát do quy mô toàn ngành còn nhỏ.

Phương hướng và giải pháp hoàn thiện:

  1. Xây dựng hành lang pháp lý riêng biệt: Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 dành riêng cho tổ chức tài chính vi mô, giảm bớt các điều kiện cấp phép và thủ tục giấy phép con.
  2. Đổi mới chính sách lãi suất: Nâng biên độ chênh lệch trần lãi suất cho vay của tổ chức tài chính vi mô lên 2% đến 3% so với trần chung của các tổ chức tín dụng (tham khảo thông lệ quốc tế), hoặc từng bước chuyển sang cơ chế tự do hóa lãi suất thỏa thuận trên cơ sở công khai, minh bạch, kết hợp quản lý gián tiếp qua tỷ lệ an toàn vốn.
  3. Thiết lập cơ chế đối thoại chính sách: Cơ quan quản lý nhà nước cần chủ động tổ chức các diễn đàn, hội nghị đối thoại trực tiếp nhằm nắm bắt kịp thời khó khăn thực tế của các tổ chức tài chính vi mô.
  4. Nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát: Chuyển trọng tâm giám sát của Ngân hàng Nhà nước sang vai trò hướng dẫn, hỗ trợ nâng cao năng lực tuân thủ và phòng ngừa rủi ro cho các tổ chức tài chính vi mô.
  5. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật và đào tạo khách hàng: Tăng cường truyền thông về lợi ích của tín dụng vi mô chính thức, phổ biến kiến thức quản lý tài chính hộ gia đình, góp phần đẩy lùi tín dụng đen.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể gắn liền với số liệu thực tế tại thời điểm khảo sát:

  • Tổng kết tình hình phát triển mạng lưới tổ chức tài chính vi mô chính thức tại Việt Nam với 03 đơn vị được cấp phép gồm TYM, M7-MFI và Thanh Hóa MFI.
  • Phân tích số liệu tỷ lệ nợ mất vốn của tổ chức tài chính vi mô ở mức rất thấp (khoảng 0,08% theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước), qua đó chứng minh tính hiệu quả của cơ chế cho vay theo nhóm (3–5 thành viên) và phương thức trả góp định kỳ theo tuần/tháng.
  • Chỉ rõ những bước tiến trong kỹ thuật lập pháp tại Thông tư 33/2015/TT-NHNN khi giảm tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu từ 20% xuống 10% và đưa tiết kiệm bắt buộc ra khỏi công thức tính thanh khoản, giúp các tổ chức tài chính vi mô tối ưu hóa vòng quay vốn.
  • Đề xuất kiến nghị điều chỉnh mức chênh lệch trần lãi suất lên 2%–3% hoặc tự do hóa lãi suất có kiểm soát nhằm giải quyết bài toán bù đắp chi phí hoạt động cho các tổ chức tài chính vi mô.
  • Đóng góp về mặt lý luận: Hệ thống hóa toàn diện các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ cho vay của tổ chức tài chính vi mô từ góc độ luật chuyên ngành ngân hàng, làm rõ bản chất kinh doanh tiền tệ gắn với trách nhiệm xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thực hiện tại thời điểm năm 2016 nên dữ liệu thực tiễn và phạm vi khảo sát mới chỉ tập trung vào 03 tổ chức tài chính vi mô chính thức được Ngân hàng Nhà nước cấp phép theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Do quy định tại Thông tư 33/2015/TT-NHNN mới có hiệu lực từ ngày 01/03/2016, khóa luận chưa thể đánh giá toàn diện tác động dài hạn của văn bản này trên thực tế. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát các mô hình tài chính vi mô bán chính thức thuộc các tổ chức phi chính phủ đang trong lộ trình chuyển đổi, cũng như đánh giá tác động của các chính sách lãi suất mới và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (như các hiệp định thương mại tự do) đối với sự an toàn của hệ thống tài chính vi mô.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên ngành Luật kinh tế, Luật Ngân hàng và ngành Tài chính - Ngân hàng đang nghiên cứu về pháp luật tín dụng vi mô và các định chế tài chính phi ngân hàng. Các phân tích pháp lý tại Chương 1 và các đề xuất hoàn thiện chính sách lãi suất, cơ chế giám sát an toàn tại Chương 2 có giá trị tham khảo thực tế cho các cán bộ pháp chế, cán bộ quản lý tại các tổ chức tài chính vi mô và các nhà hoạch định chính sách thuộc cơ quan quản lý nhà nước.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao tổ chức tài chính vi mô thường áp dụng lãi suất cho vay cao hơn so với ngân hàng thương mại? Do đặc thù đối tượng phục vụ là người nghèo, hộ thu nhập thấp tại vùng sâu, vùng xa với các món vay nhỏ lẻ, cán bộ tín dụng phải trực tiếp đến tận địa bàn cư trú để thẩm định, giải ngân, theo dõi và thu hồi nợ định kỳ. Chi phí vận hành, quản lý và nhân lực trên một đơn vị vốn vay của tổ chức tài chính vi mô cao hơn nhiều so với việc quản lý các khoản vay lớn tại ngân hàng thương mại.

  2. Theo Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, tổ chức tài chính vi mô được thực hiện những hình thức cấp tín dụng nào? Theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, cho vay là hình thức cấp tín dụng duy nhất mà tổ chức tài chính vi mô được phép thực hiện đối với khách hàng của mình.

  3. Thông tư số 33/2015/TT-NHNN đã sửa đổi những điểm mấu chốt nào về tỷ lệ an toàn vốn so với Thông tư số 07/2009/TT-NHNN? Thông tư 33/2015/TT-NHNN đã bãi bỏ quy định hạn mức cho vay tối đa cố định 30 triệu đồng (chuyển sang tỷ lệ bảo đảm trên vốn tự có), giảm tỷ lệ về khả năng chi trả tối thiểu từ 20% xuống 10%, và loại bỏ tiền gửi tiết kiệm bắt buộc ra khỏi công thức tính tỷ lệ chi trả.

  4. Khóa luận đề xuất biên độ chênh lệch trần lãi suất cho tổ chức tài chính vi mô ở mức bao nhiêu? Tác giả kiến nghị nâng mức chênh lệch giữa trần lãi suất của tổ chức tài chính vi mô so với trần chung của các tổ chức tín dụng từ mức 1% hiện tại lên mức 2% đến 3%, hoặc thực hiện chính sách tự do hóa lãi suất thỏa thuận trên cơ sở công khai, minh bạch.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Ngân đã hoàn thành việc hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động cho vay của tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam sau khi Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 ra đời. Công trình chỉ rõ những bất cập về quy định trần lãi suất, rào cản chuyển đổi mô hình và sự thiếu vắng các quy định pháp lý mang tính đặc thù cho ngành. Các giải pháp được đề xuất hướng tới việc hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ, tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính vi mô phát triển bền vững và phục vụ hiệu quả công cuộc giảm nghèo.