CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ 1.1 khái niệm về nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp 1.1 Khái niệm giá trị gia tăng Có rất nhiều trường phái đưa ra khái niệm về giá trị gia tăng nhưng đều có cùng một nội dung chính, giá trị gia tăng là GTGT của một sản phẩm là sự chênh lệch giữa giá trị của sản phẩm được bán với chi phí vật chất (materials) hoặc những chi phí bổ sung (supplies) khác để tạo ra sản phẩm đó. Gần đây thuật ngữ giá trị gia tăng (GTGT) ngành hàng nông sản thường được nhắc đến trong nhiều kế hoạch, chiến lược, giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn từ trung ương tới địa phương. Nó được coi là giải pháp giúp ngành nông nghiệp nâng cao giá trị, giúp nông dân cải thiện thu nhập, giảm rủi ro trong sản xuất nông nghiệp. Vấn đề nâng cao giá trị gia tăng thường được đề cập với nhiều tên gọi “cải thiện chuỗi giá trị”, “nâng cao giá trị chuỗi cung ứng” hay “cải thiên chất lượng chuỗi sản xuất – chế biến – tiêu thụ” v.2 Khái niềm về nông nghiệp Nông nghiệp, theo nghĩa hẹp là ngành sản xuất ra của cải vật chất mà con người phải dựa vào quy luật sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm như lương thực, thực phẩm… để thỏa mãn các nhu cầu của mình.
Nông nghiệp theo nghĩa rộng còn bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp. Như vậy, nông nghiệp là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên. Những điều kiện tự nhiên như đất đai, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời, … trực tiếp ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng cây trồng và vật nuôi. Nông nghiệp cũng là ngành sản xuất có năng suất lao động rất thấp, vì đây là ngành sản xuất phụ thuộc rất nhiều vào tự nhiên, là ngành sản xuất mà việc ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ gặp rất nhiều khó khăn.
Ngoài ra sản xuất nông nghiệp thường gắn liền với những phương pháp canh tác, tập quán… 5 Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả nước, nhất là ở các nước đang phát triển. ở những nước này còn nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được.
Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.3 Khái niệm về kinh tế nông nghiêp Kinh tế nông nghiệp là một ngành kinh tế của quốc dân có chức năng phân tích ảnh hưởng của các quy luật kinh tế trong nông nghiệp, áp dụng những thành tựu kinh tế vào thực tế lãnh đạo các cơ sở nông nghiệp, tạo điều kiện phát triển lực lượng sản xuất. Kinh tế nông nghiệp còn là một môn khoa học nghiên cứu những vấn đề kinh tế của sản xuất nông nghiệp: mối quan hệ giữa người và người, tác động và sự vận dụng cụ thể các quy luật kinh tế về sản xuất và phân phối sản phẩm trong nội bộ ngành nông nghiệp. Kinh tế nông nghiệp theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp: Nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp) theo nghĩa hẹp nó là một ngành trực tiếp trồng trọt lương thực, chăn nuôi. ở luận văn này nông nghiệp được nghiên cứu theo nghĩa rộng của nó.4 Khái niệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp là quá trình chuyển đổi nền nông nghiệp từ TT,TC sang nền SXHH, tức sang sản xuất chuyên canh gắn với nhu cầu của thị trường.
Quá trình này được chia thành ba 6 giai đoạn sau: + Giai đoạn một: Đó là nông nghiệp sinh tồn, quy mô nhỏ của nông dân chiếm ưu thế. Cơ cấu nông nghiệp có tính thuần nông với mục tiêu sản xuất tự cung, tự cấp mà chủ yếu là sản xuất lương thực. + Giai đoạn hai: Đặc trưng của giai đoạn này là quá trình đa dạng hoá sản xuất nông nghiệp, nghĩa là ngoài sản xuất lương thực còn phát triển các cây trồng khác và chăn nuôi. Một yếu tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp là việc áp dụng công nghệ mới của nông dân đã xuất hiện.
+ Giai đoạn ba: Đặc trưng chủ yếu của nền nông nghiệp trong giai đoạn này là nền nông nghiệp thương mại, chuyên môn hoá với quy mô sản xuất lớn, với các trang trại chuyên môn hoá cao. Ba giai đoạn trên gắn liền với sự phát triển của ngành công nghiệp và quá trình CNH, HĐH nền kinh tế quốc dân.5 Khái niệm về mục tiêu phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng GTGT Phát triển kinh tế nông nghiệp là quá trình lớn lên hay tăng lên về mọi mặt của nền kinh tế nông nghiệp trong một thời kỳ nhất định. Phát triển mức sản xuất trong nông nghiệ, phát triển công lao động trong nông nghiệp, nâng cao dân trí, giải quyết tốt vấn đề môi trường. Mực tiêu của phát triển kinh tế nông nghiệp là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài.
Tăng nhanh sản xuất nông sản hàng hóa và hóa xuất khẩu. Nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho dân cư nông nghiệp, nông thôn. Bảo vệ môi trường sinh thái, giảm nhẹ thiên tai để phát triển bền vững.2 Nội dung của kinh tế nông nghiệp 1.1 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành Kinh tế nông nghiệp theo ngành, gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp. Trong từng ngành cụ thể được phân ngành theo sản phẩm, như: ngành sản xuất cây lương thực, thực phẩm, rau quả, cây công nghiệp ngắn và dài 7 ngày, trồng rừng, chăm sóc, chăn nuôi gia súc, gia cầm, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
Chuyên môn hoá càng cao và phân công lao động càng sâu thì phân ngành càng chi tiết, đa dạng. Sự hình thành các ngành sản xuất chuyên môn hoá phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và được thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia, địa phương trong từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy, việc xác định và phát triển đúng hướng các ngành chuyên môn hoá trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế của địa phương và của từng vùng. Nó sẽ sử dụng một cách hợp lý các điều kiện đặc thù, làm tăng năng suất lao động từng ngành và lao động xã hội, tiết kiệm vốn đầu tư, tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hoá lớn, chất lượng cao, giả rẻ, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội bộ và xuất khẩu.
Các nhân tố làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo ngành, gồm: Mức thu nhập bình quân đầu người; các yếu tố đầu vào (đất đai, vốn, lao động và các nguồn lực khác); sự phát triển của khoa học - công nghệ; quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới 1.2 Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng Cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng biểu hiện sự phân công lao động theo lãnh thổ trên phạm vi cả nước, trong từng địa phương. Sự phân công lao động theo ngành kết hợp với sự chuyên môn hoá, kéo theo sự phân công lao động theo vùng lãnh thổ. Đây là hai mặt gắn bó hữu cơ, khăng khít với nhau trong quá trình phân công lao động. Việc bố trí các ngành trồng cây gì, nuôi con gì, tổ chức sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai đều phải được thực hiện trong những không gian nhất định, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của nó.
Hình thành cơ cấu vùng nhằm tạo ra khối tượng hàng hoá lớn tập trung, có hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu là xu thế chung hiện nay. Vì vậy, phải xác định được tính đặc thù của từng vùng và lợi thế so sánh để hình thành cơ cấu kinh tế nông nghiệp hợp lý cho mỗi vùng. Điều đó, 8 đòi hỏi phải thận trọng nghiên cứu xem xét mục tiêu, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo vùng. Đồng thời, chủ động sáng tạo, tranh thủ thời gian, phát huy nội lực, tranh thủ sự hổ trợ bên ngoài về vốn và kỹ thuật, đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã được xác định theo vùng.
Bảy vùng kinh tế nông nghiệp nước ta rất đa dạng, phong phú, đất đai hoang hoá còn nhiều, nguồn lao động dồi dào, đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật đông đảo và cùng với thành tựu, kinh nghiệm quý báu trong sản xuất nông nghiệp sau 27 năm đổi mới ở nước ta là cơ sở để xây dựng cơ cấu vùng kinh tế nông nghiệp hợp lý. Để xây dựng một cơ cấu kinh tế vùng nông nghiệp hợp lý, chúng ta không chỉ đánh giá lợi thế và các điều kiện cụ thể trong vùng một cách tỉ mỉ, khách quan mà phải đặt trong sự tác động qua lại giữa các vùng trong một địa phương, một quốc gia và trong tương quan cả khu vực và thế giới, trong quá trình hội nhập kinh tế hiện nay và dự báo cho cả tương lai. Điều đó tránh được một cơ cấu kinh tế nông nghiệp biệt lập, manh mún, tự cung tự cấp, không có hiệu quả.3 Cơ cấu theo thành phân kinh tế nông nghiệp Cơ cấu thành phần kinh tế là nội dung quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Trong một thời gian dài chúng ta đã xây dựng một nền kinh tế tập trung dựa vào hai thành phần kinh tế chủ yếu là: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể.
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Đại hội đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã coi trọng các thành phần kinh tế với đầy đủ đặc trưng của nó, đặc biệt là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ và được coi như một đơn vị sản xuất kinh doanh; là đơn vị trực tiếp, chủ yếu sản xuất ra đại bộ phận sản phẩm nông nghiệp cho nền kinh tế quốc dân.