MỞ ĐẦU 1.1 ĐẶT VẤN ĐÈ Dưa lê có tên khoa học là Cucumis melon L. thuộc họ bau bí dưa Cucurbitaceae, có nguồn gốc từ châu Phi, sau đó được trồng lan rộng ra các nước A1 Cập, Ấn Độ, Trung Quốc và ngày nay được trồng ở tất cả các nước trên thế giới (Vũ Văn Liết và Hoàng Đăng Dũng, 2012). Dưa lê có thời gian sinh trưởng ngắn, quả sử dụng ăn tươi có hương vị thơm ngon, màu sắc hấp dẫn, hàm lượng dinh dưỡng phong phú có lợi cho sức khỏe nên được nhiều người ưa thích. Ngoài cung cấp năng lượng và chất xơ, quả dưa lê giàu các vitamin A, B, C, chất khoáng, chất chống oxy hóa như Pcaroten.
Trong 01 g dưa lê có tới 20,4 wg B-caroten, gấp khoảng 100 lần so với táo, 20 lần so với cam và 10 lần so với chuối (Tạ Thu Cúc, 2005). Tại Kiên Giang, diện tích dưa lê trồng tập trung chủ yếu ở 2 xã Bình Minh và Vĩnh Bình Bắc; trong đó, gần 400 ha đã được thu hoạch với năng suất bình quân 18 — 20 tan/ha. Dia phương thực hiện trồng dưa theo mô hình sản xuất vụ lúa — vụ màu, lợi nhuận đạt từ 200 triệu đồng/ha trở lên (Cơ quan ngôn luận của bộ công thương, 2019). Tuy nhiên, việc trồng dưa lê cũng gặp phải nhiều khó khăn do nhiều loại bệnh hại, chủ yếu là các bệnh do nam.
Trong đó, nấm Fusarium sp. gây bệnh héo rũ là một trong những nắm bệnh gây hại rất nặng, làm cây chết đột ngột và giảm năng suất từ 25 — 40%. Nam Fusarium sp. tồn tai vài năm trong đất vẫn có thé xâm nhập vào cây chủ.
Việc phòng trị nam Fusarium sp. thường rất khó khăn do chúng vừa có khả năng ký sinh, vừa hoại sinh nên lưu tồn rất lâu trong dat (Đỗ Tan Dũng, 2001). Ghép cây là một biện pháp canh tác nhằm kiêm soát được dịch bệnh, tăng khả năng kháng bệnh héo rũ, nếu chọn được tô hợp ghép phù hợp thì cây ghép sinh trưởng mạnh, cho năng suất và phâm chất cao. Theo Lee (2003) trồng rau ghép là một kĩ thuật tiên tiến ở nhiều nước Châu Á và Châu Âu.
Tỷ lệ dưa lê ghép trồng ngoài đồng năm 2000 ở Hàn Quốc là 83%, ở các nước Châu Âu như Ý là 5 triệu cây, Pháp 2 triệu cây, Tây Ban Nha là | triệu cây (Alfredo, 2007). Ở nước ta trong những năm gần đây, van đề nghiên cứu và ứng dụng gốc ghép trong sản xuất rau phát trién khá mạnh mẽ. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu về gốc ghép trên dưa lê ở nước ta thì còn nhiều hạn chế, đặc biệt rất cần thiết trong điều kiện canh tác hiện nay khi bệnh héo rũ đã và đang gây thiệt hại nặng nề. Với đặc điểm lưu tồn lâu trong đất dưới dạng bào tử nên nam bệnh có thé gây hại qua nhiều vụ (Pham Văn Kim, 2000), làm giảm năng suất đáng ké và rất khó phòng trị bằng thuốc hóa học (Burgess và cs., 2009), đây là một trở ngại lớn cho nông dân trong việc chuyên canh dưa lê nhiều vụ trên cùng một vùng đất.
Vấn đề đặt ra là cần tìm được giải pháp hiệu quả để giúp nông dân canh tác dưa lê có thể giảm thiêu tác hại do bệnh héo rũ gây ra nhưng vẫn phải đảm bảo năng suất và pham chat. Do vậy đề tài “Phân lập tác nhân gây bệnh héo rũ trên cây dưa lê tại Kiên Giang và đánh giá kha năng kháng nam Fusarium sp. trên bầu, mướp và bình bát dây” được thực hiện.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Phân lập các chủng nam Fusarium sp. trên dưa lê tại tỉnh Kiên Giang.
Xác định chủng nắm có khả năng gây hại nghiêm trọng. Phân lập tuyên chọn 3 loại cây bầu, mướp, bình bát dây có khả năng kháng bệnh héo rũ trên dưa lê do nam Fusarium sp.3 ĐÓI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Các chủng nam Fusarium sp. được phan lập từ đất trồng dưa lê tại tỉnh Kiên Giang. Ba loại cây bầu, mướp hương và bình bát dây được dùng dé thí nghiệm.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Thu thập, phân lập nam Fusarium sp.
Đánh giá khả năng gây hại của các chủng nam Fusarium sp. trên cây dua lê. Đánh giá khả năng chống chịu bệnh héo rũ nam Fusarium sp. trên các giống bau, mướp hương, bình bát dây.
CHƯƠNG 2 TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CUU 2.1 GIOI THIEU VE CAY DUA LE 2.1 Nguồn gốc, phân loại và giá trị dinh dưỡng của dưa lê Dưa lê có tên khoa học là Cucumis melo L., thuộc họ Cucurbitaceae bao gồm 118. Chi với 825 loài (Jeffrey, 1990). Dưa lê còn gọi là Muskmelon, Cantaloupe hay Melon, là loại cây song tử diệp, cây thuộc dang than leo, cơ quan dự trữ là trái. Chi Cucumis melo L.
có nguồn gốc từ Châu Phi, Châu Mỹ, Chau A, có những giống dưa lê riêng biệt ở các nước Án Độ, Trung Quốc, Nhật Bản và vùng Trung Đông (Joy L, 1991). Dưa lê du nhập vào nước ta khoảng thập niên 60 của thế kỉ 20, năm 1960 các chuyên viên Đài Loan du nhập các giống dưa hoàng kim vào Đồng bằng sông Cửu Long. Nguôn gôc Theo Joy L (1991); Kerje và Grum (2000), đưa lê có nguồn gốc ở phía Đông và Nam Phi. Dưa lê là loại cây trồng quan trọng ở Trung Quốc cách đây ít nhất hai nghìn năm.
Quá trình thuần hoá giống hầu hết diễn ra ở châu Á. Sản xuất lớn hiện nay là Pháp, An Độ, Trung Quốc, Mỹ, Thổ Nhĩ Kỳ và Tây Ban Nha. Do nguồn gốc xuất xứ va được trồng trước nhấtở vùng đất sa mạc khô hạn của bán đảo Án Độ, vùng Trung Á, Trung Đông và bờ biển Địa Trung Hải nên hau hết các loại dưa lê trên thế giới có khả năng thích nghỉ đối với điều kiện khí hậu hơi khó ẩm. Trong khi các nhóm khác phân bố trong những vùng mưa chịu ảnh hưởng của gió mùa như ở Nhật và Đông Nam Á, chịu được khí hậu khi âm (Shinohara, 1984; Mai Thị Phương Anh và cs.
Dua lê là một trong những loại cây trồng đã tồn tại hàng nghìn năm (Mai Thị Phương Anh và cs. Phân loại Do có nguồn gốc trải dài trên thế giới nên dưa lê có nhiều sự khác biệt về hình dang, kích thước, màu sắc, chất lượng thịt trái cũng như các đặc tính sinh lý của cây nên có nhiều cách phân loại dưa lê khác nhau. Theo Tôn That Trinh (1998) dua lê trên thé giới có thé ké ra: dưa lê vỏ rỗ, dưa lê vỏ tròn, nhóm Crenshaw. Tuy nhiên theo Geogre và cs (1991) va Lewis va cs (1999) đã chia dưa lê thành 7 loại: dưa đỏ, dưa lưới, dưa không mùi, dưa trái dai, dua Conomo, dưa Chito và dưa Dudaim.
Các giống dưa này được phân biệt với nhau chủ yếu dựa vào các đặc điểm: Dưa lưới (Reticulous): Trái trung bình, và vỏ có dạng mạng lưới bao quanh thịt trái có màu xanh hay hồng cam, khi chín có mùi thơm dễ chịu, được trồng nhiều ở Bắc Mỹ. Dưa không mùi (Indorus): Bề mặt vỏ thường trơn láng hay có nếp gấp, vỏ trái có màu vàng hay xanh nhạt, thịt trái có màu trắng hay xanh, mùi ít thơm, thời gian bảo quản lâu hơn dưa đỏ, khi chín không bị nút, thường có hoa đực và hoa cái trên cùng một cây giống này có nhiều ở Châu Âu. Dưa đỏ (Cataloupe): Cỡ trái trung bình, và có nhiều mụn cơm, có vảy màu xanh lục, thịt trái có màu vàng nhưng đôi lúc có màu xanh, trái chin có hương vi dé chịu và có mùi xạ hương. Dựa trái dài: Có hình dạng mảnh khánh như con rắn.
Dưa Conomo: Được tìm thay ở Phương Đông. Dưa Dudaim: Trái có dạng qua lựu. Trong 7 nhóm trên chỉ có dưa lưới và dưa không mùi là có ý nghĩa quan trọng (Geogre và cs., 1991), các nhóm còn lại không có giá trị kinh tế nhưng có ý nghĩa quan trọng trong chọn giống (Nguyễn Văn Bình, 2005). Giá trị dinh dưỡng cay dưa lê Dưa lê: Trái còn non thì được sử dụng như một loại rau, trái chín có thể dùng dé ăn tươi làm thức uống (sinh tố) và được xem như là món tráng miệng trong các bữa tiệc.
So với dưa hấu thi hàm lượng dinh dưỡng thịt trái của dưa lê cao hơn nhiều đặc biệt là Vitamin C (42-68 mg), thịt trái màu vàng hay màu cam thì chứa nhiều Vitamin A (N516 mg), hơn nữa dua lê còn là một nguồn phong phú các khoáng, đặc biệt là Kali (461 mg). Dưa lê còn là nguồn cung cấp chất chống oxy hóa, những hóa chất được biết rất có lợi cho sức khỏe về hệ thống tim mạch và hệ thống miễn dịch. Những hóa chất này được biết dé điều chỉnh chat nitric oxide, một chìa khóa hóa học trong việc xúc tiến sức khỏe của mảng trong và ngăn ngừa bệnh tim mạch. Ngoài ra, trái dưa lê còn có hiệu ứng trong việc chống ung thư (Nonnecke và cs., 1989 và Foster và cs.
Dưa lê thì không độc và bổ dưỡng, giá trị dinh dưỡng của nó cao hơn dưa hấu bởi vi hàm lượng vitamin C rat lớn. Những trái dua lê mà thịt trái vàng và cam bao gồm beta carotene và tiền vitamin A. Vì thế, dua lê là trái cây phổ biến ở các nước phát triển hơn đưa hấu (Bonanno và Lamont, 1987).2 Đặc tính thực vật * Rễ: Dưa lê thuộc nhóm cây hàng năm, bộ rễ phát triển sâu và ăn rộng, cấu trúc rễ dưa lê thường không khác biệt so với rễ dưa hấu, bao gồm rễ chính dài 0,6-1,0 m và có khoảng 11-12 rễ phụ: rễ phụ ăn lan rộng trên mặt đất vì thế dưa lê chịu hạn khá tốt nhưng yếu hơn so với dưa hấu (Trần Thị Ba và cs. Bộ rễ có khả năng ra nhiều rễ bắt định ở các đốt cây, do đó có tính chịu hạn cao (Nguyễn Văn Thắng, 1999).
* Thân: Thân dưa lê thuộc dạng dây bò, sống hàng năm, trên thân phủ nhiều lông ngắn va có tua cuốn đơn (Đường Hồng Dat, 2000). Chiều dài thân chính của dưa lê có thé đạt 3-4 m, thân cứng giòn, chịu va chạm kém (Henry, 2001), trên thân chính chỉ có hoa đực, mỗi nhánh cấp I cho từ 1-2 hoa cái nằm gần nách của thân chính. * Lá: Dưa lê thuộc loài trong họ bầu bí nên có 2 lá mầm, mọc đối xứng nhau qua đỉnh sinh trưởng, hình trứng. Dưa lê có 2 lá mầm nhỏ, đây cũng là chỉ tiêu đánh giá tinh hình sinh trưởng của cây.
La thật dạng lá đơn, mọc xen, cuống dai, phién va cuống lá có nhiều lông tơ, lá có hình xoan, màu sắc từ xanh nhạt đến xanh đậm (Mai Thị Phương Anh và cs. La mọc cách, có dạng hình tròn hoặc hình trứng lá chè với 3-5 thùy, lá có răng cưa, cuống lá dài khoảng 4-10 cm (Tindall, 1983).