CHƯƠNG I MÔ HÌNH THÍ NGHIỆM I. Laser xung cực ngắn Laser có tên tiếng Anh là “Light Amplification Stimulated Emission of Radiation” ( laser ) — sự khuếch đại ánh sáng bằng bức xạ cưỡng bức. Cơ chế hoạt động của laser dựa trên việc dùng photon kích thích vào các điện tử ( trong môi trường hoạt tính ) ở mức năng lượng cao đẻ khi chuyền xuống mức năng lượng thấp hơn, điện tử sẽ phát xạ ra hai photon có cùng năng lượng, củng pha, cùng phương, cùng độ phân cực gọi là những photon đồng nhất. Photon kích thích Erk, Hình 1.
Sự phát xạ chim photon đồng nhất ( laser } nhờ photon kích thích vào điện tứ ở mức năng lượng cao của môi trường hoạt tính. Laser có hai chế độ làm việc là chế độ liên tục và chế độ xung. Trong dé tài nay, chúng tôi chỉ đề cập đến laser làm việc ở chế độ xung. Laser làm việc ở chế độ xung có vector cường độ điện trường (hay còn gọi vector phân cực điện) E biến thiên phụ thuộc thời gian theo quy luật ham lượng giác: E = Eo(t)cos (wt + @).
Như vậy, sẽ có những thời điểm cường độ điện trường E hoàn toàn bị triệt tiêu và những thời điểm cường độ điện trường E đạt cực đại. Đô thị cường độ điện trưởng của laser làm việc theo chê độ xung. Laser làm việc ở chế độ xung được đặc trưng bởi những thông số như sau: + Cưởng do laser: được kí hiệu là I, là bình phương môđun của vector cường độ điện trường. Nếu gọi cường độ đỉnh của laser ứng với biên độ của điện trường là I, thì cường độ hiệu dung I), của một xung laser bằng một nửa cường độ định.
+ Độ đài xung: được ký hiệu là t,, là khoảng thời gian ngắn nhất giữa hai lần cường độ I bằng The ( hình 3 ). + Tân số laser: được ký hiệu là @ xuất hiện trong biểu thức điện trường của laser: E = E,(t)cos (wt + @). Tan số laser liên hệ với bước sóng laser bởi công thức 4 = 2nc/œ với c là vận tốc ánh sáng trong chân không. + Hình dạng xung: được quyết định bởi quy luật biến thiên của E(t) mà chúng ta có xung dang Gauss, dạng vuông, dạng sin’.
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng xung dang sin’. Dé thị của cường độ laser theo thời gian. Trong hình 3, I là cường độ của laser với I, là cường độ đỉnh và I, là cường độ hiệu dụng của xung laser. Dé thực hiện quá trình phát xạ sóng hài bậc cao khi cho laser tương tác với phân tứ, laser được sử dụng phải là laser xung cực ngắn cường độ cao.
Laser xung cực ngắn là laser làm việc ở chế độ xung và có độ đài xung là cực nhỏ vào khoảng 10'S giây. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng laser xung cực ngắn có cường độ đỉnh là 2.10! W/em’, độ đài xung là 30.10” giây, bước sóng là 800 nm và xung hình dang sin’. Trong lich sử phát triển laser xung cực ngắn, các nhà khoa học đã có cuộc chạy đua rút ngắn độ dài xung của xung laser. Từ xung laser 10” giây ( 1960 ), họ đã rút ngắn đến xung laser 12.
Tuy nhiên, thời gian chuyên động của điện tử là vào khoảng 0. Vì vậy với độ đài xung này, chúng ta vẫn chưa thể chụp ảnh của điện tử. Do đó trong tương lai, độ dài xung laser sẽ tiếp tục được rút ngắn hơn nữa. Phương pháp chụp ảnh cắt lớp thực nghiệm Trong thực nghiệm, quá trình chụp ảnh cắt lớp phân tử được thực hiện với sự tham gia của hai loại laser: laser xung cực ngăn cường độ mạnh ( độ dai xung 30 fs, bước sóng 800 nm, cường độ 2.10!" W/cm?) có vector phân cực điện là E và laser định phương ( độ đải xung 300 ps, bước sóng 797 nm, cường độ 2.
Đối tượng được khảo sat là tập hợp các phân tử nitơ. Dau do HHG 4) Hình 4. Mô hình thí nghiệm chụp ảnh phân tứ. ¬ (1) Nguồn laser xung cực ngắn E Vector phân cực điện của lascr (2) Nguồ n l as er đị n h p h ươ n g định phương (3) Hệ thống gương phản xạ E Vector phân cực điện của laser xung cực ngắn (4) Tập hợp phân từ nitơ (5) Đầu dò sóng hài Es, Vector phân cực điện của tín hiệu HHG song song (6) Phân tử nitơ Es, Vector phân cực điện của tín hiệu HHG vuông góc Pau tiên.
laser định phương được chiếu vào tập hợp các phân tử nitơ. Dưới tác dụng của vector phân cực điện E, trục của các phân tử bị định phương trên phương của vector E’. Quá trình nay được gọi là quá trình định phương phân tử. Sau đó, laser xung cực ngắn sẽ được chiếu vào tập hợp các phân tử nito dé kích thích các phân tử phát xạ sóng hài bậc cao HHG.
Đầu dò tín hiệu HHG sẽ được đặt phía sau các phân tử nitơ dé thu nhận các tín hiệu HHG phát ra. Đầu dd này chỉ thu nhận các tín hiệu HHG có vector phân Cực Song song và vuông góc với vector phân cực E của laser xung cực ngắn (từ đây chúng tôi sẽ gọi là HHG song song — kí hiệu Sy và HHG vuông góc — kí hiệu $,). Gọi 0 là góc hợp bởi vector Ê và E”. Chúng tôi lần lượt thay đôi góc 6.
đo HHG song song và HHG vuông góc phat ra ứng với mỗi giá trị góc này. Các dit liệu của cường độ HHG song song và cường độ HHG vuông góc sau đó sẽ được sử dung dé tái tạo HOMO phân tử nitơ theo phương pháp chụp ảnh cắt lớp trong công trình [3], [5], [12]. Phương pháp chụp ảnh cắt lớp bằng mô phỏng lý thuyết Trong luận văn này, quá trình chụp ảnh cắt lớp phân tử nitơ sẽ được tiến hành bằng mô phỏng lý thuyết bởi mô hình ba bước Lewenstein và phương pháp tai tạo lại hình ảnh HOMO trong công trình [3], [5], [12]. Tất cả đều được thực hiện trên source code của ngôn ngữ lập trình Fortran.
Dé làm được điều này, chúng tôi cân có: + Một tập hợp phân tử nitơ với cau trúc giả định cho trước. Phan mềm tính toán Gaussian và Gaussview cho phép chúng tôi thiết lập cấu trúc giá định cho phân tử nitơ. Cụ thé, chúng tôi sử dụng phương pháp phiém hàm mật độ DFT (Density Function Theory) với hiệu chỉnh Gradient B3LYP và hệ ham cơ sở là 6-31 G+{(d,p) [7]. + Laser xung cực ngắn có các thông số laser như trên và góc hợp với laser định phương là 6.
Các thông số laser và giá trị góc 8 được khai báo trong source code Fortran của mô hình ba bước Lewenstein. + Laser định phương có hiệu quả định phương xác định. Hiệu quả định phương được quy định bởi ham phan bố định phương phân tu vả được lập trình bằng một đoạn code viết bằng ngôn ngữ Fortran. Đoạn code này sẽ được bé sung vào source code tính toán của mô hình ba bước Lewenstein dé tính toán dữ liệu HHG.
Cúc dữ liệu HHG tính toán cũng gồm hai thành phan là HHG song song và HHG vuông góc như trong thực nghiệm. Các dữ liệu này sẽ được sứ dụng để tái tạo HOMO phân tử nitơ theo phương pháp chụp ảnh cắt lớp như trong phương pháp thực nghiệm. CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYET I. Mô hình ba bước Lewenstein về sự phát xạ sóng hài bậc cao “M6 hình ba bước Lewenstein về sự phát xạ sóng hài bậc cao” được nhà khoa học Lewenstein dé xuất vào năm 1993 [8] dé mô tả cơ chế phát xạ HHG khi cho laser xung cực ngắn tương tác với phân tử.
Khi phân tử được đặt vào trường laser mạnh thì the năng của điện tử sẽ được hiệu chỉnh thành thế tông hợp của trường Coulomb và trường thế đo điện trường của laser gây ra ( hình 5 ) [9], điện tử sẽ có khả năng thoát ra ngoài. khi đó phân tử sẽ bị ion hoá. Đồ thị thể tổng hợp của điện tứ trong trưởng hợp một chiêu. Thể tổng hợp được thể hiện bằng đường màu đen, thé Coulomb là đườn g màu đó và thé điện trường laser mạnh là đường màu xanh.
Thế tông hợp của điện tử sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào cường độ của trưởng laser so với trường thế Coulomb ( hình 6 ). Do đó, phân tử sẽ bị ion hoá theo nhiều cách khác nhau: ion hoa da photon, ion hoá xuyên ham và lon hoá vượt rào. Đồ thị thể tổng hợp của điện tứ (đường màu đen) và mức năng. lượng cơ bản của điện tử (đường màu xanh lá) trong các trường hop Trong trường hợp (a), trưởng laser yêu hơn so với trường Coulomb.
Thế tông hợp không khác biệt nhiều so với trường Coulomb, điện trường laser lúc này chỉ có tác dụng làm nhiều loạn trường Coulomb, gây ra sự đao động của điện tử [10]. Trong trường hợp nay, điện tử chỉ có thê thoát ra khỏi hồ thế băng cách hấp thụ nhiều photon liên tiếp. Đó gọi là sự ion hoá theo cơ chế đa photon [9]. Trong trường hợp (b).
trường laser mạnh tương đương so với trường Coulomb. Thế tông hợp hẹp hơn so với thế Coulomb, điện tử có thẻ xuyên hầm thoát ra khỏi hỗ thé. Đó gọi là sự ion hoá xuyên hầm [9]. Trong trường hợp (c), trường laser rất mạnh so với trường Coulomb.
Thế tông hợp hẹp hơn và thấp hơn so với mức năng lượng cơ bản. điện tử dễ dang vượt ra khỏi hỗ thế. Đó gọi là sự ion hoá vượt rào [9]. Mô hình ba bước Lewenstein giải thích sự phát xạ sóng hài do điện tử quay trở lại trạng thái cơ bản sau khi điện tử xuyên hầm thoát khỏi hồ thế.
Nội dung của mô hình này gom ba giai đoạn như sau ( hình 7 ) [10]: + Giai đoạn |: Điện tử thoát khỏi trạng thai cơ bản ra miền liên tục theo cơ chế xuyên ham. + Giai đoạn 2: Điện tử lúc này không còn chịu tác dụng bởi trường Coulomb nữa mà sẽ được gia tốc bởi trường điện của laser. + Giai đoạn 3: Khi trường điện laser đôi chiều, điện tử bị kéo ngược lại tái kết hợp với ion mẹ, trong quá trình đó phát xạ ra HHG. tập bợp EMUV 20 tử |—~VV* Seo = \ñ —| phản cực ngắn —^A#ư= (2n†])œ Hình 7.
Cơ chế phát xạ HHG theo mô hình ba bước Lewenstein. Cơ sở tính toán của mô hình này được tác giả dựa trên hai giả thiết gần đúng của Keldysh [11]: + Trong vùng phô liên tục (năng lượng dương). tác dụng của trường Coulomb được bỏ qua, điện tử có thẻ được coi như một hạt tự do. + Phần đóng góp của tất cả các trạng thái liên kết khác ngoài trạng thái cơ bản vào quá trình phát xạ sóng hài là không đáng kẻ.