Khóa luận: Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội huyện Tĩnh Gia giai đoạn 2021-2030

Luận văn tốt nghiệp kinh tế nghiên cứu tốt nghiệp lâm sinh đánh giá tiềm năng các nguồn lực phát triển kinh tế xã hội làm cơ sở đề xuất, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Chuyên ngành

Lâm Sinh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan khóa luận quy hoạch KT XH huyện Tĩnh Gia 2030

Khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Đánh giá tiềm năng các nguồn lực phát triển kinh tế- xã hội làm cơ sở đề xuất Quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế- xã hội Huyện Tĩnh Gia- Tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2021-2030” là một công trình nghiên cứu khoa học, chi tiết. Tài liệu này cung cấp một cái nhìn toàn diện về các yếu tố nội tại và ngoại lực, làm nền tảng vững chắc cho việc xây dựng chiến lược phát triển trong tương lai. Việc nghiên cứu quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thị xã Nghi Sơn (trước đây là huyện Tĩnh Gia) không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết mà còn mang ý nghĩa chiến lược, định hình Tĩnh Gia trở thành một cực tăng trưởng quan trọng của tỉnh Thanh Hóa và khu vực Bắc Trung Bộ. Nghiên cứu này phân tích sâu sắc các điều kiện tự nhiên, tài nguyên, nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng, từ đó xác định những lợi thế cạnh tranh và các điểm nghẽn cần tháo gỡ. Mục tiêu cuối cùng là đề xuất một lộ trình phát triển hợp lý, đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường, hướng tới phát triển bền vững huyện Tĩnh Gia. Đây là một dạng luận văn về quy hoạch đô thị và phát triển vùng, có giá trị tham khảo cao cho các nhà hoạch định chính sách và các bên liên quan.

1.1. Tầm quan trọng của quy hoạch phát triển KT XH Tĩnh Gia

Việc lập quy hoạch phát triển KT-XH huyện Tĩnh Gia có vai trò kim chỉ nam, định hướng cho mọi hoạt động đầu tư và phát triển trên địa bàn. Một bản quy hoạch chất lượng giúp sắp xếp, phân bổ không gian các hoạt động kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh một cách khoa học. Điều này cho phép khai thác hiệu quả các nguồn lực như đất đai, tài nguyên biển, và đặc biệt là sức hút từ Khu kinh tế Nghi Sơn. Quy hoạch giúp địa phương tránh được sự phát triển tự phát, chồng chéo, gây lãng phí nguồn lực và tác động tiêu cực đến môi trường. Hơn nữa, đây là cơ sở pháp lý quan trọng để thu hút đầu tư, triển khai các dự án hạ tầng quy mô lớn và thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tĩnh Gia theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một chiến lược rõ ràng sẽ tạo ra động lực mạnh mẽ, góp phần nâng cao đời sống người dân và thay đổi diện mạo kinh tế của toàn vùng.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu khóa luận phát triển kinh tế xã hội

Khóa luận đặt ra các mục tiêu cụ thể và rõ ràng. Mục tiêu tổng quát là đánh giá chính xác các tiềm năng và nguồn lực để xây dựng phương án phát triển kinh tế - xã hội huyện Tĩnh Gia giai đoạn 2021-2030. Các mục tiêu cụ thể bao gồm: (1) Phân tích và đánh giá các yếu tố về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức. (2) Đánh giá thực trạng phát triển KT-XH Tĩnh Gia trong giai đoạn vừa qua, đặc biệt là sự phát triển của các ngành, lĩnh vực chủ chốt. (3) Xây dựng hệ thống các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển đến năm 2030, đảm bảo khai thác hiệu quả tiềm năng và thế mạnh của Nghi Sơn. (4) Đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế huyện Tĩnh Gia một cách đồng bộ, bao gồm các chính sách về đầu tư, nhân lực, công nghệ và môi trường. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học đáng tin cậy cho việc ra quyết định của các cấp chính quyền.

II. Phân tích thực trạng và thách thức phát triển KT XH Tĩnh Gia

Mặc dù sở hữu nhiều tiềm năng, huyện Tĩnh Gia (nay là thị xã Nghi Sơn) vẫn đối mặt với không ít khó khăn và thách thức trong quá trình phát triển. Việc phân tích thực trạng phát triển KT-XH Tĩnh Gia cho thấy sự tăng trưởng chưa thực sự đồng đều và bền vững. Cơ cấu kinh tế dù đã có sự chuyển dịch tích cực nhưng ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lao động lớn, năng suất còn hạn chế. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp yêu cầu của các ngành công nghiệp công nghệ cao tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng xã hội như y tế, giáo dục tại các xã ngoài trung tâm còn nhiều bất cập. Vấn đề ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp, làng nghề và khu vực ven biển đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đe dọa đến hệ sinh thái và chất lượng sống của người dân. Thêm vào đó, các vấn đề về an sinh xã hội tại Tĩnh Gia, giải quyết việc làm cho lao động địa phương khi các dự án lớn triển khai vẫn là bài toán cần lời giải thấu đáo. Việc nhận diện rõ những thách thức này là bước đi tiên quyết để xây dựng các giải pháp khả thi.

2.1. Hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tĩnh Gia

Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tĩnh Gia đã đạt được những kết quả ban đầu, với sự gia tăng tỷ trọng của công nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình này còn bộc lộ nhiều hạn chế. Theo tài liệu nghiên cứu, lao động trong ngành nông - lâm - thủy sản vẫn chiếm tỷ lệ cao (76,27% năm 2018), cho thấy sự chuyển dịch về lao động chậm hơn chuyển dịch về giá trị sản xuất. Nông nghiệp chủ yếu vẫn mang tính nhỏ lẻ, thiếu liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế. Các ngành dịch vụ chất lượng cao, đặc biệt là dịch vụ hậu cần cảng biển, tài chính, du lịch nghỉ dưỡng vẫn chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của Nghi Sơn. Sự phụ thuộc lớn vào một vài dự án công nghiệp nặng trong Khu kinh tế Nghi Sơn cũng tiềm ẩn rủi ro về sự phát triển cân đối và bền vững.

2.2. Vấn đề môi trường và an sinh xã hội tại Tĩnh Gia

Sự phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp đã đặt ra những thách thức lớn về môi trường. Tài liệu gốc chỉ ra tình trạng ô nhiễm không khí và ô nhiễm tại các điểm tập kết rác thải trong Khu kinh tế Nghi Sơn là vấn đề đáng báo động. Việc khai thác tài nguyên, đặc biệt là khoáng sản và tài nguyên biển, nếu không được quản lý chặt chẽ sẽ dẫn đến suy thoái hệ sinh thái. Song song đó, vấn đề an sinh xã hội tại Tĩnh Gia cũng cần được quan tâm. Quá trình đô thị hóa và thu hồi đất nông nghiệp cho các dự án đã tác động lớn đến đời sống một bộ phận người dân. Việc đảm bảo việc làm, đào tạo lại nghề và xây dựng các thiết chế văn hóa, xã hội để người dân thích ứng với nhịp sống công nghiệp là yêu cầu cấp bách, đòi hỏi những chính sách cụ thể và hiệu quả.

III. Phương pháp khai thác tiềm năng tự nhiên cho quy hoạch Tĩnh Gia

Tĩnh Gia được thiên nhiên ưu đãi với địa hình đa dạng, bao gồm đồng bằng, ven biển và bán sơn địa. Việc khai thác hiệu quả các đặc điểm tự nhiên huyện Tĩnh Gia là chìa khóa để tạo ra sự phát triển đột phá. Khóa luận đã đề xuất các phương pháp quy hoạch dựa trên lợi thế từng vùng. Vùng ven biển với 42km bờ biển và cảng nước sâu Nghi Sơn là trung tâm cho kinh tế biển, bao gồm dịch vụ cảng, logistics, công nghiệp đóng tàu, nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu. Vùng đồng bằng cần được quy hoạch thành các khu nông nghiệp công nghệ cao, sản xuất hàng hóa tập trung, kết nối với công nghiệp chế biến. Vùng đồi núi phía Tây có tiềm năng phát triển lâm nghiệp, chăn nuôi gia súc quy mô lớn và du lịch sinh thái, khám phá. Quy hoạch phải gắn liền với việc bảo vệ tài nguyên nước và đa dạng sinh học, đảm bảo sự hài hòa giữa khai thác và bảo tồn. Đây là nền tảng để xây dựng một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Tĩnh Gia một cách toàn diện và bền vững, tận dụng tối đa mọi nguồn lực sẵn có.

3.1. Phát huy tiềm năng và thế mạnh của Nghi Sơn từ kinh tế biển

Kinh tế biển là mũi nhọn trong định hướng phát triển thị xã Nghi Sơn. Với cảng nước sâu Nghi Sơn có khả năng tiếp nhận tàu trọng tải lớn, huyện có lợi thế đặc biệt để trở thành một trung tâm logistics của khu vực. Cần tập trung đầu tư vào hạ tầng cảng, kho bãi và các dịch vụ hậu cần. Bên cạnh đó, với ba cửa lạch lớn, Tĩnh Gia có điều kiện thuận lợi để phát triển ngành khai thác và nuôi trồng thủy sản. Quy hoạch cần xác định các vùng nuôi trồng tập trung, áp dụng công nghệ thâm canh để tăng năng suất và giá trị, đặc biệt là các sản phẩm xuất khẩu như tôm, ngao. Du lịch biển với các bãi biển đẹp như Hải Hòa cũng là một thế mạnh cần được đầu tư bài bản, xây dựng các khu nghỉ dưỡng cao cấp, kết hợp du lịch sinh thái đảo Hòn Mê, tạo ra chuỗi sản phẩm du lịch đa dạng, hấp dẫn.

3.2. Quy hoạch sử dụng tài nguyên đất và khoáng sản hiệu quả

Tĩnh Gia có quỹ đất đa dạng với hơn 45.828 ha, bao gồm đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp và đất phi nông nghiệp. Báo cáo hiện trạng sử dụng đất năm 2019 cho thấy đất chưa sử dụng còn chiếm tỷ lệ đáng kể (7.647,57 ha). Việc quy hoạch sử dụng đất cần được thực hiện một cách khoa học, ưu tiên cho các dự án trọng điểm trong Khu kinh tế Nghi Sơn, phát triển hạ tầng và các khu đô thị mới. Đối với tài nguyên khoáng sản, dù trữ lượng không lớn nhưng các loại vật liệu xây dựng như đá vôi, cát, sỏi cần được khai thác hợp lý, gắn với công tác phục hồi môi trường. Quy hoạch phải đảm bảo việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ diện tích đất lúa, đất rừng phòng hộ, tránh xung đột lợi ích giữa phát triển công nghiệp và nông nghiệp, hướng tới phát triển bền vững huyện Tĩnh Gia.

IV. Giải pháp phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng thị xã Nghi Sơn

Để hiện thực hóa mục tiêu trở thành thị xã công nghiệp, hai yếu tố then chốt là con người và hạ tầng. Khóa luận đã nhấn mạnh sự cần thiết phải có các giải pháp đồng bộ cho cả hai lĩnh vực này. Về con người, cần có chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thị xã Nghi Sơn, tập trung vào đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp, đặc biệt là các ngành kỹ thuật cao phục vụ Khu kinh tế Nghi Sơn. Về hạ tầng, việc phát triển cơ sở hạ tầng Nghi Sơn phải đi trước một bước. Điều này không chỉ bao gồm hạ tầng kỹ thuật như giao thông, điện, nước, viễn thông mà còn cả hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí. Một hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại sẽ tạo ra môi trường sống và đầu tư hấp dẫn, là nền tảng vững chắc để thu hút các dự án lớn, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội huyện Tĩnh Gia và nâng cao chất lượng sống cho người dân.

4.1. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thị xã Nghi Sơn

Dân số Tĩnh Gia năm 2018 là 214.420 người, với lực lượng lao động dồi dào. Tuy nhiên, thách thức lớn là tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật còn thấp (khoảng 19-20%). Để đáp ứng nhu cầu của một khu kinh tế năng động, chiến lược nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thị xã Nghi Sơn cần được ưu tiên hàng đầu. Cần tăng cường liên kết giữa các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn (như Trường Trung cấp nghề Nghi Sơn) với các doanh nghiệp để xây dựng chương trình đào tạo sát thực tế. Bên cạnh đó, cần có chính sách thu hút nhân tài, lao động có tay nghề cao từ các địa phương khác đến làm việc và sinh sống. Việc đầu tư cho giáo dục phổ thông, nâng cao trình độ dân trí cũng là giải pháp nền tảng, tạo ra một thế hệ lao động mới có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại.

4.2. Phát triển cơ sở hạ tầng Nghi Sơn đồng bộ hiện đại

Hạ tầng là bộ khung cho sự phát triển. Khóa luận chỉ ra rằng, dù đã được đầu tư lớn, hệ thống hạ tầng của Tĩnh Gia vẫn chưa đáp ứng kịp tốc độ phát triển, đặc biệt ở các xã ngoài Khu kinh tế Nghi Sơn. Do đó, việc phát triển cơ sở hạ tầng Nghi Sơn cần được quy hoạch tổng thể. Ưu tiên hoàn thiện các tuyến giao thông kết nối huyết mạch như Quốc lộ 1A, đường ven biển, các tuyến đường tỉnh lộ kết nối cảng Nghi Sơn với các vùng lân cận và đường Hồ Chí Minh. Đồng thời, cần đẩy mạnh đầu tư vào hạ tầng xã hội. Việc thu hút các nhà đầu tư xây dựng các khu đô thị mới, bệnh viện, trường học chất lượng cao không chỉ phục vụ người dân địa phương mà còn tạo điều kiện để thu hút chuyên gia, lao động chất lượng cao đến với Nghi Sơn, tạo nền tảng cho sự phát triển lâu dài.

V. Hướng đi và giải pháp trong quy hoạch phát triển huyện Tĩnh Gia

Trên cơ sở phân tích tiềm năng và thực trạng, khóa luận đã đề xuất các quan điểm và giải pháp mang tính chiến lược cho quy hoạch phát triển KT-XH huyện Tĩnh Gia. Quan điểm cốt lõi là phát triển nhanh nhưng phải bền vững, lấy Khu kinh tế Nghi Sơn làm động lực lan tỏa, đồng thời không bỏ quên khu vực nông thôn. Các giải pháp tập trung vào việc hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh để thu hút các dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tĩnh Gia theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo và các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao. Chú trọng phát triển nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ cao. Song song đó, các giải pháp phát triển kinh tế huyện Tĩnh Gia phải gắn liền với việc đảm bảo an sinh xã hội tại Tĩnh Gia, bảo vệ môi trường và giữ vững quốc phòng - an ninh. Đây là một lộ trình tổng thể, đòi hỏi sự quyết tâm chính trị và sự đồng thuận của toàn xã hội.

5.1. Vai trò Khu kinh tế Nghi Sơn trong chuyển dịch cơ cấu

Khu kinh tế Nghi Sơn được xác định là hạt nhân tăng trưởng, là đầu tàu dẫn dắt quá trình phát triển kinh tế - xã hội huyện Tĩnh Gia. Với các dự án trọng điểm quốc gia như Liên hợp Lọc hóa dầu Nghi Sơn, các nhà máy nhiệt điện, cảng biển nước sâu, khu kinh tế này tạo ra sức hút đầu tư khổng lồ và đóng góp lớn vào ngân sách. Vai trò của KKT Nghi Sơn không chỉ dừng lại ở việc tạo ra giá trị công nghiệp mà còn là động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tĩnh Gia. Nó kéo theo sự phát triển của các ngành dịch vụ phụ trợ như logistics, tài chính, nhà ở, thương mại, đồng thời tạo ra thị trường tiêu thụ lớn cho sản phẩm nông nghiệp của địa phương. Quy hoạch cần tối ưu hóa sự kết nối và lan tỏa từ KKT Nghi Sơn đến các vùng phụ cận, tạo thành một chuỗi giá trị liên hoàn.

5.2. Các giải pháp cho phát triển bền vững huyện Tĩnh Gia

Để đảm bảo phát triển bền vững huyện Tĩnh Gia, khóa luận đề xuất một hệ thống giải pháp đồng bộ. Về kinh tế, cần đa dạng hóa các ngành nghề, tránh phụ thuộc vào một vài ngành công nghiệp nặng; khuyến khích các dự án công nghệ sạch, tiêu tốn ít năng lượng. Về xã hội, cần thực hiện tốt các chính sách đền bù, giải phóng mặt bằng, đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án; đầu tư mạnh mẽ hơn cho y tế, giáo dục để nâng cao chất lượng sống. Về môi trường, cần tăng cường công tác giám sát, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm; quy hoạch các khu vực cây xanh, vành đai xanh và bảo vệ nghiêm ngặt hệ sinh thái ven biển, rừng phòng hộ. Các giải pháp phát triển kinh tế huyện Tĩnh Gia chỉ thực sự hiệu quả khi có sự cân bằng giữa ba trụ cột: Kinh tế - Xã hội - Môi trường.

12/10/2025
Khóa luận tốt nghiệp lâm sinh đánh giá tiềm năng các nguồn lực phát triển kinh tế xã hội làm cơ sở đề xuất quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội huyện tĩnh gia tỉnh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1Trên thế giới Trong nghiên cứu lãnh thổ thường nảy sinh những khái niệm khác nhau về từ “quy hoạch”, có những nơi hiểu quy hoạch là kế hoạch. Trên thực tế quy hoạch và kế hoạch gần nghĩa như nhau, bao hàm hai tầng nghĩa: một là suy nghĩ phác họa miêu tả tương lai – giả tưởng căn cứ vào nhận thức hiện tại đối với mục tiêu và trạng thái phát triển trong tương lai; hai là hành vi quyết sách về trình tự và các bước hành động thực hiện mục tiêu trong tương lai. Quy hoạch là việc sắp xếp, phân bố không gian các hoạt động kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với phát triển kết cấu hạ tầng, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường trên lãnh thổ xác định để sử dụng hiệu quả các nguồn lực của đấy nước phục vụ mục tiêu bền vững cho thời kỳ xác định. Kế hoạch là một nội dung và là một chức năng quan trọng nhất của quản lý, vì nó gắn liền với việc lựa chọn và tiến hành các chương trình hoạt động trong tương lai của một tổ chức, của một doanh nghiệp.

QHTTPTKTXH huyện thuộc phạm trù quy hoạch vùng lãnh thổ. QHTTPTKTXH huyện là quy hoạch vùng lãnh thổ được giới hạn trong đơn vị hành chính cấp huyện. Vì quy hoạch vùng lãnh thổ mang tính chất hành chính kinh tế. Mục đích quy hoạch vùng lãnh thổ: Quy hoạch vùng lãnh thổ nhằm xác định các biện pháp tổ chức lãnh thổ về kinh tế, kỹ thuật để giải phóng và phát triển sản xuất, sử dụng hợp lý và hiểu quả đất đai, tài nguyên thiên nhiên, lao động tăng cường cơ sở hạ tầng, khai thác các nguồn lực trong địa phương để nâng cao hiệu quả sản xuất của xã hội, đáp ứng yêu cầu đời sống của con người trong xã hội, góp phần xây dựng nông thôn mới và xã hội mới.

Nhiệm vụ của quy hoạch vùng lãnh thổ: 2 Xây dựng cơ cấu kinh tế đúng đắn để chuyên môn hóa sản xuất và phát triển tổng hợp. Bố trí cơ cấu đất đai phù hợp với cơ cấu kinh tế. Xây dựng cơ sở hạ tầng (thủy lợi, giao thông, cơ khí, năng lượng và dịch vụ sản xuất và đời sống). Tổ chức lao động, xây dựng và phát triển các ngành phù hợp với lợi ích xã hội.

Xây dựng các biện pháp bảo vệ môi trường. Nguyên tắc của quy hoạch vùng lãnh thổ: Xây dựng nền kinh tế hàng hóa phù hợp với nhu cầu xã hội và cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên đất, rừng và lao động một cách có hiệu quả nhằm tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý, giải phóng và phát triển sức sản xuất. Trên cơ sở phát triển kinh tế, giải pháp yêu cầu nâng cao đời sống văn hóa, vật chất và tinh thần con người.

Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển sản xuất và đời sống. Xây dựng hệ thống các điểm dân cư, tạo điều kiện cho sự phát triển đồng nhất về sản xuất, văn hóa đời sống tinh thần của nhân dân trong vùng. Áp dụng các quy trình công nghệ tiến bộ, hiện đai các giải pháp tổ chức lãnh thổ và kinh tế kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất lao động, tăng hiệu quả sản xuất xã hội. Giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên với việc bảo vệ môi trường sống.

Nội dung quy hoạch vùng lãnh thổ: * Điều tra đánh giá điều kiện cơ bản về tự nhiên, KTXH. Nội dung QHTTPTKTXHhuyện, - Phân tích các đặc điểm tự nhiên, KTXH của vùng trên các mặt khó khăn, thuận lợi, tiềm năng và thách thức liên quan đến điều kiện cơ bản, kỹ thuật và công nghệ. - Xác định phương hướng và mục tiêu cơ bản. 3 - Bố trí cơ cấu sử dụng đất.

- Xác định phương hướng, quy mô phát triển các ngành và các lĩnh vực. - Bố trí các cơ sở hạ tầng. - Tổ chức sử dụng lao động. - Tổ chức các khu dân cư.

- Bảo tồn thiên nhiên và bảo vệ môi trường. - Ước tính nhu cầu vốn đầu tư cho phương án. - Dự tính kết quả của phương án quy hoạch. *Quy hoạch vùng lãnh thổ ở một số quốc gia Liên Xô (cũ): Ở Liên Xô (cũ) nghiên cứu tổ chức lãnh thổ (quy hoạch) thể hiện ở tổng sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất cả nước và các vùng vĩ mô, đây cũng là cơ sở cho nghiên cứu quy hoạch vùng (ray-on-naia plan-nhia-roopka).

Nội dung quy hoạch vùng gắn liền với quy hoạch đất đai, thực hiện trên quy mô một tỉnh, một tiểu vùng. Những tư liệu luận chứng kinh tế kỹ thuật này được chấp nhận là cơ sở khoa học cho công tác xây dựng kế hoạch.Sơ đồ quy hoạch vùng thể hiện cơ cấu kiến thức – quy hoạch, bảo đảm các điều kiện hợp lý cho sự phát triển sản xuất, dịch vụ, xây dựng đô thị, sử dụng hợp lý điều kiện tự nhiên và bảo vệ môi trường. Phương hướng phát triển KTXH phải gắn liền với phương hướng sử dụng đất. Ở các nước phương Tây, các chương trình, dự án phát triển vùng đều tiến hành dựa trên sơ đồ cấu trúc kiến trúc – quy hoạch vùng gắn với quy hoạch sử dụng đất, dựa trên phương hướng mục tiêu phát triển (hay chiến lược) của vùng vĩ mô.

Nội dung tổ chức lãnh thổ ở Pháp là chấn chỉnh lãnh thổ, chia cả nước thành 21 vùng, sau nâng lên thành 22 vùng, 95 tỉnh. Năm 1965 thành lập cơ quan chuyên trách về tổ chức lãnh thổ, lấy mục tiêu cân bằng để chấn chỉnh lãnh thổ, khống chế dân số và ngành nghề quá tập trung vào vùng Thủ đô Paris, sử dụng các biện pháp kinh tế và hành chính để phát triển các vùng núi lạc hậu: 4 chú trọng xây dựng đô thị mới, phát triển du lịch và bảo vệ môi trường trên cơ sở các sơ đồ kiến trúc – quy hoạch chi tiết tỉnh, thành phố. Nghiên cứu phát triển các vùng ở nước Anh thể hiện chủ yếu trong công tác kế hoạch hóa vùng (Regional Planning), nhằm sử dụng hợp lý quỹ đất quốc gia trong chính sách định vị công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và các đô thị; giải quyết những vấn đề cơ cấu liên ngành, liên vùng, liên ngành – liên vùng, xây dựng các phương án phân vùng vĩ mô (11 đến 16 vùng); với các chính sách can thiệp thúc đẩy các vùng mới, cải thiển các đỉnh đốn. * Malaysia: Phát triển kinh tế lãnh thổ ở Malaysia được tiến hành mạnh từ năm 1972.

Quốc hội phê chuẩn thành lập 7 vùng: cùng với sự chỉ đạo của Bộ Tài nguyên đất và Phát triển vùng ở Tung ương, mỗi vùng có cơ quan phát triển vùng chỉ đạo trực tiếp các trọng điểm, soạn thảo chiến lược phát triển kinh tế xã hội, đưa ra các quyết định ngân sách đảm thực thi các dự án như một động lực thúc đẩy sản xuất, lưu thông phân phối trong công nghiệp, dịch vụ và cơ cấu hạ tầng kỹ thuật – xã hội, gắn kết các đô thị lớn hình thành mạng lưới các cực tăng trưởng trong phát triển vùng và các điểm dân cư ở các vùng biên giới. * Nhật Bản: Chương trình phát triển vùng ở Nhật Bản là một chương mục trong kế hoạch toàn diện quốc gia, phải mang tính toàn diện, không chỉ vì kinh tế xã hội, mà phải đảm bảo tiêu chuẩn sử dụng hiệu quả quỹ đất quốc gia, tài nguyên nước, năng lượng, giao thông…sau chiến tranh phải tập trung liền kề vào các thành phố lớn Tokyo – Osaka – Chib, hình thành vành đai Thái Bình Dương. Sau đó bố trí phân tán các phân xưởng mới ở ngoại vi các thành phố lân cận tạo thành các trung tâm công việc mới, khống chế đô thị lớn, chấn hưng địa phương theo loại hình phân tán nhiều cực, khai thác các vùng định cư, nhằm phát triển cân đối toàn quốc. Phát triển mạng lưới quốc gia có vai trò chiến lược trong gia tăng nguồn lực trên các vùng chậm phát triển, kết hợp chính sách công nghệ và chính sách vùng.

Chiến lược được thực hiển bởi các sơ đồ kiến trúc – quy hoạch cụ thể. 5 * Trung Quốc: Khoảng 300 năm trước công nguyên, nước Trung Hoa đã mô tả đất, nước và các vùng trên bản đồ, lấy sản xuất nông nghiệp là chính, xoay quanh các trung tâm là thành thị, có nhiều đường có nhiều đường nhỏ chạy ngang dọc, xung quanh là ruộng, vườn;ở thời kỳ đó có tính đến bao nhiêu đất có thể nuôi sống bao nhiêu người, xây dựng bao nhiêu thành thị thị trấn là thích hợp. Sản vật đã mở rộng nhiều mặt hàng nông lâm thủy sản, khoáng sản, thủ công nghiệp; thành phố được khảo sát lại những nút giao thông quan trọng, đi lại thuận lợi, hàng hóa giao lưu xuất nhập phồn vinh. Những mô tả phân tích bố trí sản xuất và định cư đã phản ánh tư tưởng quy hoạch vùng, tuy còn sơ lược.

Sau cách mạng công nghiệp, quy hoạch vùng là vấn đề kinh tế xã hội đặt ra nhằm giải quyết mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp và mở rộng thành thị. Chủ xí nghiệp tự lựa chọn ví trị vùng công nghiệp, tuyến đường giao thông, vị trí vùng cảng…, gây nhiều lộn xôn và xung đột giữa sản xuất. Dân số thành thị tăng nhanh, hình thành nhiều điểm dân cư, nảy sinh mối quan hệ giữa nội thị và ngoại ô, gắn với công trình giao thông cấp nước xử lý nước thải, giáo dục, bệnh viện, khu nghỉ ngơi, khu bảo vệ tự nhiên, đòi hỏi phải tiến hành điều hòa xây dựng và quản lý đất đai. Ngày nay những nội dung này được hoàn thiện với tên gọi là Quy hoạch vùng với sơ đồ “kiến trúc – quy hoạch”.

Năm 1956, Ủy ban Xây dựng Quốc gia Trung Quốc thành lập Cục Quản lý quy hoạch vùng và quy hoạch thành thị, đến 1958 – 1960 nhiều tỉnh đã xây dựng tổng sơ đồ và sơ đồ phát triển và phân bố lực lượng sản xuất và Sơ đồ Quy hoạch vùng với sự giúp đỡ của đoàn cố vấn Liên Xô. Sau năm 1985, do sự thúc đẩy của công tác quy hoạch lãnh thổ quốc gia, lấy chấn chỉnh khai thác tổng hợp làm quy hoạch phát triển vùng các cấp, triển khai toàn diện trong phạm vi cả nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ