CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH MUA HÀNG VÀ THANH TOÁN 1. Khái quát chung về kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp 1. Khái niệm, mục tiêu của kiểm soát nội bộ 1. Khái niệm kiểm soát nội bộ Từ lâu, kiểm soát nội bộ (KSNB) luôn là một vấn đề thu hút sự quan tâm lớn.
Ban đầu, KSNB chủ yếu gắn liền với kiểm to án độc lập. Một trong những định nghĩa sớm nhất về KSNB do Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đưa ra vào năm 1929 xác định rằng KSNB là công cụ bảo vệ tài sản, nâng cao hiệu quả hoạt động và hỗ trợ kiểm toán viên trong quá trình kiểm tra. Theo thời gian, nhiều công trình nghiên cứu và chuẩn mực quốc tế đã được ban hành, mở rộng phạm vi của KSNB, đặc biệt trong mối liên hệ với kiểm toán nội bộ (KTNB) và quản trị doanh nghiệp. Trước năm 1980, KSNB chủ yếu được xem là công cụ phục vụ kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC).
Tuy nhiên, giai đoạn 1970- 1980 chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Hoa Kỳ cùng với hàng loạt vụ gian lận tài chính nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn. Để đối phó với tình trạng này, năm 1985, COSO (Ủy ban Chống gian lận khi lập BCTC) ra đời, sau đó công bố Báo cáo COSO 1992 – tài liệu nghiên cứu toàn diện đầu tiên về KSNB. Trước những thách thức của nền kinh tế toàn cầu, COSO tiếp tục cập nhật Báo cáo COSO 2013, nhấn mạnh KSNB là một quá trình do ban lãnh đạo và nhân viên thực hiện nhằm đảm bảo độ tin cậy của BCTC, tuân thủ quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tại Việt Nam, theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315, KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giám đốc và nhân viên thiết lập để đảm bảo tính tin cậy của BCTC, hiệu quả hoạt động và sự tuân thủ pháp luật.
Luật Kế toán năm 2015 cũng định nghĩa KSNB là hệ thống cơ chế, chính sách, quy trình nội bộ nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý rủi ro kịp thời. Dù có nhiều góc nhìn khác nhau, các định nghĩa về KSNB đều thống nhất ở ba điểm chính: KSNB là một quá trình: Mọi hoạt động của đơn vị đều được thực hiện thông qua quá trình lập kế hoạch, thực hiện và giám sát. Để đạt được mục tiêu của đơn vị, mỗi hoạt động này đều cần được kiểm soát. KNSB khôngchỉ là một thủ tục hay một chính sách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở mọi cấp độ, ở mọi hoạt động của đơn vị.
6 KSNB do con người vận hành: KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người, bao gồm nhà quản lý và nhân viên trong đơn vị đó. Suy nghĩ và hành động của các thành viên trong đơn vị sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến KSNB. Một KNSB chỉ hữu hiệu khi từng thành viên trong đơn vị hiểu rõ về trách nhiệm và quyền hạn của mình. Từng thành viên cần hiểu rõ mối liên kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ, trách nhiệm của bản thân với nhiệm vụ, trách nhiệm của các thành viên khác trong đơn vị, thiết lập lên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng, nhằm thực hiện và hướng tới các mục tiêu của đơn vị.
KSNB cung cấp sự đảm bảo hợp lý: KSNB chỉ có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý cho nhà quản lý trong việc đạt được mục tiêu của đơn vị chứ không thể mang đến sựđảm bảo tuyệt đối. KSNB có thể phát hiện, ngăn chặn, phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra nhưng không thể đảm bảo chắc chắn tuyệt đối không xảy ra sai phạm. Có thể thấy KSNB là một phần của quản trị doanh nghiệp, là sự tích hợp những hoạt động, biện pháp, kế hoạch, quan điểm, nội quy, chính sách và nỗ lực của mọi thành viên trong tổ chức giúp kiểm soát mọi hoạt động đang diễn ra trong doanh nghiệp, ngăn ngừa và xử lý các rủi ro có thể xảy ra nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động theo đúng phương hướng, chiến lược đã đề ra, đạt hiệu quả, hiệu suất hoạt động cao nhất với mức rủi ro thấp nhất trong phạm vi có thể chấp nhận được. Mục tiêu của kiểm soát nội bộ KSNB là việc thiết lập cơ chế giám sát mà ở đó doanh nghiệp không quản lý bằng lòng tin, mà bằng những quy định bằng văn bản nhằm: giảm bớt nguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong kinh doanh; bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng, mất mát, hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp.; đảm bảo tính chính xác của các số liệu kế toán và báo cáo tài chính; đảm bảo mọi thành viên tuân thủ nội quy của công ty cũng như các quy định của luật pháp; đảm bảo sử dụng tối ưu các nguồn lực và đạt được mục tiêu đặt ra; bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư, cổ đông và gây dựng lòng tin đối với họ.
Kiểm soát nội bộ được thiết kế, thực hiện và duy trì nhằm giải quyết các rủi ro kinh doanh đã được xác định, gây ra nguy cơ đơn vị không đạt được một trong các mục tiêu liên quan đến: Nhóm mục tiêu về hoạt động: Nhấn mạnh đến hiệu quả, hiệu suất hoạt động của việc sử dụng các nguồn lực. Đảm bảo sự phối hợp, làm việc của toàn bộ nhân viên để đạt được mục tiêu của đơn vị với hiệu suất cao, tránh được các chi phí không đáng có phát sinh; Nhóm mục tiêu về báo cáo: Nhấn mạnh đến độ tin cậy của quy trình lập và trình bày BCTC, phi tài chính mà đơn vị cung cấp cho cả bên trong lẫn bên ngoài; 7 Nhóm mục tiêu về tuân thủ: Nhấn mạnh đến việc tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật và các quy định, các chính sách, quy trình nghiệp vụ, chuẩn mực, giá trị cốt lõi của đơn vị. Một KSNB hữu hiệu được mong đợi cung cấp sự đảm bảo hợp lý đạt được các mục tiêu nêu trên. Tuy nhiên không thể yêu cầu các mục tiêu được thực hiện một cách tuyệt đối mà KSNB chỉ có thể đảm bảo hợp lý việc thực hiện các mục tiêu.
Điều này xuất phát từ những rủi ro tiềm tàng trong quá trình xây dựng và vận hành KSNB, sự đánh đổi lợi ích-chi phí, chi phí kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đợi từ quá trình kiểm soát dẫn đến việc không thực hiện được mục tiêu. Các yếu tố cấu thành kiểm soát nội bộ 1. Môi trường kiểm soát Môi trường kiểm soát bao gồm các chức năng quản trị và quản lý, các quan điểm, nhận thức, hành động cuả Ban quản trị và Ban giám đốc liên quan đến KSNB. Môi trường kiểm soát được thể hiện thôngqua các quy định, quy trình, cơ cấu tổ chức, tác động trực tiếp đến ý thức của từng thành viên trong nội bộ đơn vị giúp mỗi thành viên nhận thức được tầm quan trọng của KSNB.
Môi trường kiểm soát là nền tảng cho mọi bộ phận khác của KSNB. Môi trường kiểm soát bao gồm cả các nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài. Các nhân tố của môi trường kiểm soát thể hiện thái độ, quan điểm, nhận thức của các nhà quản lý trong doanh nghiệp. Các nhân tố bên ngoài không chịu sự kiểm soát của các nhà quản lý doanh nghiệp tuy nhiên lại ảnh hưởng đến quan điểm, thái độ, phong cách kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng đến việc thiết kế và vận hành các thủ tục kiểm soát.
Các nhân tố bên ngoài bao gồm sự kiểm soát của các cơ quan chức năng, các yếu tố pháp lý, sự cạnh tranh của thị trường, nhà đầu tư, chủ nợ, chính sách kinh tế. Môi trường kiểm soát không trực tiếp ngăn ngừa, phát hiện hay sửa chữa các sai sót, gian lận trọng yếu. Một môi trường kiểm soát tốt chưa chắc KSNB cũng tốt. Tuy nhiên, nó ảnh hưởng đến hiệu quả của các thủ tục kiểm soát, chi phối đến các bộ phận khác của KSNB.Môi trường kiểm soát tốt là nền tảng cho hoạt động của KSNB hữu hiệu.
Quy trình đánh giá rủi ro Không phụ thuộc vào tính chất, loại hình hoạt động, đặc điểm kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào, trong quá trình hoạt động kinh doanh luôn tồn tại các rủi ro 8 rình rập, được thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau, tác động làm giảm khả năng thực hiện mục tiêu của đơn vị. Vì vậy, doanh nghiệp cần phải ý thức được với việc nhận diện rủi ro và đối phó rủi ro mà đơn vị mình có thể gặp phải. ủi ro được định nghĩa là khả năng một sự kiện sẽ xảy ra có thể tác động tiêu cực đến việc đạt được mục tiêu. ủi ro được tạo ra từ các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài đơn vị, ảnh hưởng đến nhiều mặt hoạt động của doanh nghiệp.Quy trình đánh giá rủi ro là các hoạt động xác định mục tiêu, nhận diện, đánh giá các rủi ro kinh doanh, từ đó quyết định các hành động thích hợp nhằm đối phó với các rủi ro đó.
COSO (1992) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết lập mục tiêu là điều kiện tiên quyết trong quá trình đánh giá rủi ro. Vì vậy nhà quản trị cần thiết lập mục tiêu trước khi nhận diện các rủi ro làm giảm khả năng thực hiện mục tiêu đó. Việc thiết lập mục tiêu được thực hiện ở tất cả các cấp của doanh nghiệp nhằm thực hiện mục tiêu chung của đơn vị. Hầu hết các doanh nghiệp đều thiết lập mục tiêu, kế hoạch, định hướng phát triển khác nhau tại mỗi thời điểm.
Mặc dù mục tiêu của đơn vị luôn biến đổi theo các mốc thời gian tuy nhiên chúng đều hướng đến các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp với các quy trình đánh giá rủi ro cụ thể: - Các mục tiêu hoạt động: liên quan đến sự hữu hiệu, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; - Các mục tiêu báo cáo gắn liền với sự trung thực và hợp lý của báo cáo, bao gồm cả báo cáo tài chính và báo cáo phi tài chính. Các báo cáo đáng tin cậy cung cấp cho nhà quản lý các thông tin đầy đủ để điều hành, giám sát hoạt động của doanh nghiệp. Quy trình đánh giá rủi ro gắn với mục tiêu báo cáo bao gồm việc Ban Giám đốc xác định các rủi ro kinh doanh có liên quan như thế nào đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính, ước tính độ rủi ro, đánh giá khả năng xảy ra rủi ro và quyết định các hành động nhằm xử lý, quản trị rủi ro và kết quả thu được.