Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích Đền Trần xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình" được thực hiện bởi sinh viên Phan Thị Thêu (ngành Văn hóa Du lịch, Khoa Quản lý Xã hội – Trường Đại học Nội vụ Hà Nội, khóa 2018 – 2022) dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nguyễn Quang Trung.

Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng Thái Bình là địa phương thuộc khu vực Đông Bắc Bộ, có mật độ di tích lịch sử văn hóa được xếp vào loại cao trong cả nước. Trong lịch sử Việt Nam, vương triều nhà Trần (1226–1400) giữ vị thế đặc biệt oai hùng với ba lần lãnh đạo kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên – Mông. Các nghiên cứu lịch sử và khảo cổ học đã chứng minh vùng đất Long Hưng xưa (nay thuộc huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình) không chỉ là quê hương 4 đời của họ Trần kể từ đời vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), mà còn là đất phát tích, sáng nghiệp và nơi đặt lăng mộ, tôn miếu thờ các vị vua đầu triều. Trước định hướng của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTT&DL) tỉnh Thái Bình trong việc quy hoạch quần thể di tích đền Trần thành điểm đến du lịch văn hóa tâm linh mang tính thương hiệu, việc nghiên cứu thực trạng và giải pháp phát triển hoạt động du lịch tại đây mang tính cấp thiết.

Mục đích nghiên cứu của đề tài được xác định rõ:

  1. Tìm hiểu các giá trị du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà.
  2. Cung cấp hệ thống thông tin, tri thức về giá trị văn hóa tâm linh cho du khách tham quan.
  3. Đề xuất các biện pháp phát triển du lịch thông qua việc khai thác, bảo tồn các giá trị văn hóa tâm linh tại di tích.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm 3 nội dung:

  1. Xây dựng nền tảng cơ sở lý luận về loại hình du lịch văn hóa tâm linh.
  2. Khảo sát thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh và công tác tổ chức phát triển du lịch tại quần thể di tích đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp phát triển du lịch, quảng bá giá trị văn hóa và bảo tồn di tích lịch sử đền Trần.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động du lịch văn hóa tâm linh, hoạt động kinh doanh du lịch và các giá trị văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng tại quần thể di tích đền Trần.
  • Phạm vi không gian: Quần thể di tích đền Trần tại xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi nội dung: Thực trạng tổ chức, khai thác hoạt động du lịch văn hóa tâm linh và định hướng giải pháp phát triển tại điểm di tích.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên các khái niệm học thuật, văn bản quy phạm pháp luật và công trình nghiên cứu chuyên ngành:

  • Khái niệm Văn hóa: Trích dẫn định nghĩa văn hóa nói chung và định nghĩa của nguyên Tổng Giám đốc UNESCO Federico Mayor về tính đặc thù văn hóa của các dân tộc.
  • Khái niệm Du lịch và Hoạt động du lịch: Trích dẫn theo Điều 3 Chương 1 Luật Du lịch năm 2017.
  • Mối quan hệ tương tác giữa văn hóa và du lịch: Tham khảo bài giảng môn Nghiệp vụ Văn hóa Du lịch của PGS. Trần Thúy Anh về tác động hai chiều giữa bảo tồn văn hóa và khai thác du lịch.
  • Khái niệm Tâm linh và Văn hóa tâm linh: Sử dụng công trình "Tâm linh Việt Nam" của GS. Nguyễn Duy Hinh (định nghĩa tâm linh là thể nghiệm của con người về cái Thiêng trong tự nhiên và xã hội) và "Văn hóa tâm linh" của tác giả Nguyễn Đăng Duy (tâm linh là cái thiêng liêng cao cả trong đời sống và tín ngưỡng).
  • Phân biệt tín ngưỡng và mê tín dị đoan: Luận giải ranh giới giữa nhu cầu hướng thiện, tri ân tổ tiên với các hành vi trục lợi, cuồng tín, thương mại hóa niềm tin.
  • Khái niệm Điểm đến và Phân loại di tích tâm linh: Phân nhóm các điểm đến tôn giáo (chùa, nhà thờ/giáo đường) và điểm đến tín ngưỡng (đền, đình, miếu, phủ/điện).
  • Đặc điểm du lịch văn hóa tâm linh tại Việt Nam: Gắn kết mật thiết với Phật giáo, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ cúng Hùng Vương, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và tín ngưỡng thờ Mẫu Tam Phủ.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý tài liệu thứ cấp, văn bản lịch sử, báo cáo ngành để xây dựng khung lý luận.
  • Phương pháp điều tra khảo sát: Thu thập số liệu thực tế về cơ sở hạ tầng, nhân lực, dịch vụ và lượng khách tại khu di tích.
  • Phương pháp thống kê, so sánh: Xử lý số liệu khảo sát thực tế và so sánh hoạt động du lịch của đền Trần Thái Bình với một số di tích đền Trần khác như Đền Trần Nam Định, Đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), Đền Trần Thương (Hà Nam).

Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các văn bản chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh ngự lãm địa dư chí lược), các báo cáo khảo cổ học của Viện Khảo cổ học và Bảo tàng Thái Bình (năm 1968, 1969, 1979, 1980), các quyết định xếp hạng của Thủ tướng Chính phủ và Bộ VHTT&DL, cùng số liệu lưu trữ của Ban Quản lý di tích Đền Trần Thái Bình.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh

Chương 1 tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến lịch sử nhà Trần và du lịch văn hóa tâm linh, điểm qua các công trình tiêu biểu như: nghiên cứu kháng chiến chống Nguyên - Mông của Hà Văn Tấn và Đặng Thị Tâm (thập niên 1960); sách "Trần miếu di sản và tín ngưỡng dân gian" (NXB Văn hóa Thông tin, 2006); sách "Đất và người Thái Bình" (Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan); sách "Ngàn năm đất và người Thái Bình" (Sở Văn hóa - Thông tin Thái Bình, 1990); cùng các luận văn về khai thác lễ hội đền Trần của Phạm Văn Duy, Trần Thị Dung.

Tác giả hệ thống hóa các định nghĩa nền tảng về văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể, du lịch, hoạt động du lịch, điểm đến du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và sản phẩm du lịch theo Luật Du lịch 2017. Chương này làm rõ bản chất của du lịch văn hóa tâm linh là sự kết hợp giữa nhu cầu tham quan, thưởng ngoạn cảnh quan với nhu cầu thực hành tín ngưỡng, thỏa mãn đời sống tinh thần và hướng thiện. Đồng thời, tác giả chỉ ra các đặc trưng riêng của du lịch tâm linh tại Việt Nam như gắn liền với di tích lịch sử phụng thờ anh hùng dân tộc, thành hoàng làng và các hình thức tín ngưỡng bản địa.

Chương 2: Thực trạng hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích đền Trần xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Chương 2 trình bày bức tranh toàn diện về điều kiện tự nhiên, tài nguyên du lịch và thực trạng tổ chức khai thác tại di tích đền Trần:

  1. Khái quát tỉnh Thái Bình: Diện tích tự nhiên 1.546,54 km², địa hình đồng bằng ven biển bằng phẳng (độ dốc <1%, cao độ 1–2m). Hệ thống sông bao bọc gồm: sông Hóa (35,3 km), sông Luộc (53 km), sông Hồng (67 km qua tỉnh), sông Trà Lý (chảy từ tây sang đông) cùng 5 cửa biển lớn (Văn Úc, Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân). Tài nguyên văn hóa phi vật thể nổi bật với 3 vùng chèo (Hà Xá - Hưng Hà, Khuốc - Đông Hưng, Sáo Đền - Vũ Thư), nghệ thuật múa rối nước tại 7 phường hội cổ (nổi tiếng nhất là làng Nguyên Xá), cùng hệ thống lễ hội truyền thống.
STT Tên lễ hội Địa điểm Thời gian (Âm lịch)
1 Lễ hội Chùa Keo Xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư Hội xuân: 4/1; Hội thu: 13, 14, 15/9
2 Lễ hội Đền Trần Xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà 13 – 18 tháng Giêng
3 Lễ hội Đình, đền, bến tượng A Sào Thôn A Sào, xã An Thái, huyện Quỳnh Phụ Ngày 10/2
4 Lễ hội Đền Tiên La Xã Đoan Hùng, huyện Hưng Hà Ngày 17/3
5 Lễ hội Đền Đồng Bằng Xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ Ngày 20/8
6 Lễ hội Làng Lộng Khê Xã An Khê, huyện Quỳnh Phụ 23 – 25/3
7 Lễ hội Làng Quang Lang Xã Thụy Vân, huyện Thái Thụy Ngày 14/4
8 Lễ hội Sáo Đền Xã Song An, huyện Vũ Thư 20 – 27/3
  1. Cơ sở xác định Long Hưng là đất phát tích nhà Trần: Dựa trên ghi chép trong Đại Việt sử ký toàn thư (sự kiện năm 1209 Quách Bốc, Trần Lý ở thôn Lưu Gia; sự kiện năm 1288 hai vua Trần đem tướng giặc Tích Lệ Cơ Ngọc, Ô Mã Nhi về làm lễ dâng thắng trận tại Chiêu Lăng), Đại Nam nhất thống chí và luận điểm của GS. Lê Văn Lan với công thức "Đất lăng mộ = Đất phát tích", tác giả khẳng định thôn Tam Đường (xưa là Thái Đường, hương Tinh Cương, phủ Long Hưng) chính là nơi an táng mộ tổ (khởi đầu từ mộ cụ Trần Kinh do Trần Hấp táng tại gò Hỏa Tinh) và xây dựng tôn miếu của các vị vua đầu triều.

  2. Lịch sử tôn tạo và quy mô kiến trúc di tích:

  • Ngày 30/10/1990: Bộ Văn hóa - Thông tin ban hành Quyết định số 1214/QĐBT xếp hạng Di tích Khảo cổ học và Di tích Lịch sử Quốc gia.
  • Năm 1992: Bảo tàng tỉnh Thái Bình khôi phục ngôi đền gỗ lim 7 gian, kết cấu chữ Nhất.
  • Năm 1999: Dự án quy hoạch, tu bổ tôn tạo khu di tích với tổng mức đầu tư trên 25 tỷ đồng.
  • Ngày 31/12/2014: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt.
  • Năm 2014–2015: Lễ hội đền Trần được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Các hạng mục kiến trúc chính trên tổng diện tích hơn 32 ha gồm:

  • Tứ trụ nghi môn (Nghinh môn): Dài 11m, cao 6,5m, xây tam quan cuốn vòm, mái chồng diêm hai tầng.
  • Sân đền: Diện tích 550 m², hai bên có giếng ngọc.
  • Tòa Bái Đường (Đại Bái): Diện tích 330 m², gồm 7 gian, 2 tầng mái chồng diêm, kết cấu gỗ lim, lưu giữ chuông đồng đường kính 80cm, cao 1,1m, nặng gần 300kg do ông Trần Nhượng tiến cúng.
  • Sân Chầu: Diện tích 400 m², khép kín bởi hai tòa Giải vũ Đông - Tây (mỗi tòa 5 gian).
  • Tòa Đệ Nhị: Diện tích 270 m², 5 gian kết cấu gỗ lim kiểu chữ Đinh; chính giữa đặt khám thờ, tượng thờ vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), bên trái thờ tượng vua Trần Thánh Tông, bên phải thờ tượng vua Trần Nhân Tông.
  • Tòa Hậu Cung: Diện tích 359 m² (diện tích sàn nội thất 90 m², nền cao hơn 1m); chính giữa thờ linh vị Mục Tổ Trần Kinh, Ninh Tổ Trần Hấp, Nguyên Tổ Trần Lý và tượng Thái Tổ Trần Thừa; bên phải thờ tượng Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ, bên trái thờ tượng Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung.
  • Thư viện Đền Trần: Khánh thành ngày 10/12/2009, lưu trữ 1.500 đầu sách về lịch sử nhà Trần và văn hóa dân tộc.
  • Ngũ Tiền Môn và trục Thần đạo: Khởi công ngày 31/12/2009 dẫn ra các lăng mộ vua Trần.
  1. Giá trị khảo cổ học và văn hóa phi vật thể:
  • Dấu tích khảo cổ: Khu mộ địa gồm nhóm phía Nam (Phần Trung, Phần Thính, Phần Bụt/Nấm Sỏi, Phần Đa, Phần Cựu, Mả Tít) và nhóm phía Bắc (Phần Lợn, Phần Quang, Phần Mao, Mả bà già). Các đợt khai quật năm 1979–1980 tại Cồn Nhãn và Phần Bia (diện tích trên 600 m²) phát hiện 296 hiện vật lớn cùng hàng ngàn mảnh gốm, đất nung, gạch ngói in nổi dòng chữ Hán "Vĩnh Ninh Trường".
  • Lễ hội đền Trần (13–18 tháng Giêng âm lịch): Phục dựng từ năm 2010 với Lễ khai ấn lúc 23h00 đêm 13/1, màn sử thi "Âm vang hào khí Đông A", tế lễ, rước kiệu, thi đấu cờ người, kéo co, chọi gà, liên hoan diễn xướng chầu văn 8 huyện, thành phố.
  • Tục lễ cỗ cá Thái Đường: Phục dựng năm 2012, bắt nguồn từ tục giao hảo kết nghĩa giữa hai làng Thái Đường và Vân Đài vào ngày giỗ công chúa Diệu Từ Ân (15/2 âm lịch) và công chúa Diệu Từ Dong (15/9 âm lịch). Quy cách chia làm hai loại:
    • Cỗ kép: Gồm 1 con cá trắm đen (từ 3 kg trở lên), 4 con cá mè (mỗi con trên 1 kg), làm sạch, xát muối, nẹp lá chuối, luộc chín theo tuần hương, bài trí trên gắng gỗ kèm 4 bát thịt lợn luộc, giò lụa, giò pha, chả chìa, nem, dưa hành, xôi, bát ninh chân giò, mọc miến.
    • Cỗ đơn: Gồm cá chép (từ 3 kg trở lên) và 4 con cá mè (mỗi con từ 1 kg trở lên), cách thức bày trí tương tự cỗ kép.
  1. So sánh với các di tích đền Trần khác: Luận văn phân tích đối sánh hoạt động du lịch đền Trần Thái Bình với Đền Trần Côn Sơn - Kiếp Bạc (Hải Dương), Đền Trần (Nam Định) và Đền Trần Thương (Hà Nam) để chỉ ra nét riêng biệt về quy mô lăng mộ phát tích.

Chương 3: Một số giải pháp đối với hoạt động du lịch văn hóa tâm linh tại quần thể di tích Đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Dựa trên thực trạng khảo sát, tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp chính:

  1. Đề cao trách nhiệm quản lý khu di tích: Tăng cường vai trò chỉ đạo của Ban quản lý, phối hợp liên ngành giữa chính quyền địa phương và các cơ quan văn hóa; hoàn thiện quy chế bảo vệ di tích, kiểm soát trật tự và vệ sinh môi trường.
  2. Đa dạng hóa sản phẩm du lịch: Phát triển các sản phẩm đặc thù dựa trên thế mạnh văn hóa ẩm thực (tục cỗ cá), trình diễn nghệ thuật truyền thống (hát chèo, múa rối nước, diễn xướng chầu văn) và kết nối tour tuyến với các điểm di tích lân cận như đền Tiên La, chùa Keo.
  3. Nâng cao nhận thức của cộng đồng địa phương: Tuyên truyền người dân địa phương tham gia bảo tồn tài nguyên, giữ gìn nếp sống văn minh lễ hội, khắc phục hiện tượng thương mại hóa, mê tín dị đoan.
  4. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch: Tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức lịch sử thời Trần, kỹ năng thuyết minh và văn hóa ứng xử cho đội ngũ nhân viên Ban quản lý và người phục vụ du lịch.
  5. Đẩy mạnh thông tin truyền thông và xúc tiến quảng bá: Tăng cường phối hợp giữa Sở VHTT&DL tỉnh Thái Bình với Ban quản lý khu di tích trong việc phát hành ấn phẩm, bản đồ số, ứng dụng công nghệ thông tin quảng bá hình ảnh di tích quốc gia đặc biệt đền Trần trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể sau:

  • Làm rõ hệ thống sử liệu và chứng cứ khảo cổ học (296 hiện vật lớn, gạch "Vĩnh Ninh Trường", hệ thống lăng mộ vua Trần) chứng minh xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà là đất phát tích, nơi đặt mộ tổ và tôn miếu của triều đại nhà Trần.
  • Thống kê, ghi nhận đầy đủ các thông số kiến trúc, di vật (chuông đồng nặng gần 300kg, thư viện 1.500 đầu sách, hệ thống tượng thờ tại Tòa Bái Đường, Đệ Nhị, Hậu Cung) và tiến trình xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg.
  • Khảo tả chi tiết các giá trị phi vật thể đặc sắc, tiêu biểu là quy trình nghi lễ Lễ khai ấn và quy cách thực hành ẩm thực dân gian của tục lễ cỗ cá Thái Đường (cỗ đơn, cỗ kép).
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ khâu quản lý, phát triển sản phẩm, đào tạo nhân lực đến công tác xúc tiến du lịch, đóng góp căn cứ thực tiễn cho cơ quan quản lý văn hóa địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Tác giả tự nhận định khóa luận còn những thiếu sót nhất định; phạm vi khảo sát dữ liệu tập trung chủ yếu tại địa bàn xã Tiến Đức và huyện Hưng Hà, chưa có điều kiện đào sâu mở rộng so sánh định lượng về mức độ hài lòng hay chi tiêu của từng phân khúc du khách qua nhiều mùa lễ hội.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế xã hội hóa trong công tác trùng tu di tích khảo cổ học; xây dựng các mô hình liên kết tuyến du lịch văn hóa tâm linh liên tỉnh (Thái Bình - Nam Định - Hải Dương - Quảng Ninh) nhằm khai thác toàn diện chuỗi di sản vương triều Trần.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành: Văn hóa du lịch, Quản lý văn hóa, Việt Nam học, Lịch sử học trong việc tìm hiểu phương pháp tiếp cận một điểm đến du lịch tâm linh gắn với di tích khảo cổ và lịch sử triều đại.
  • Cơ quan quản lý và cán bộ địa phương: Cung cấp tài liệu hệ thống hóa các mốc pháp lý, thông số hiện vật, quy trình lễ hội cổ truyền phục vụ công tác quy hoạch, thuyết minh và quản lý lễ hội tại Ban Quản lý di tích Đền Trần Thái Bình và Sở VHTT&DL tỉnh Thái Bình.

Câu hỏi thường gặp

1. Dựa vào những căn cứ lịch sử và khảo cổ học nào để khẳng định xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà là đất phát tích của nhà Trần?
Trả lời: Khóa luận dẫn chứng văn bản Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận dòng họ Trần từ đời cụ Trần Kinh, Trần Hấp, Trần Lý đã về định cư làm nghề chài lưới tại thôn Lưu Gia, Hải Ấp; Đại Nam nhất thống chí ghi mộ tổ nhà Trần đặt tại xã Thái Đường; cùng các cuộc khai quật khảo cổ học tại Cồn Nhãn, Phần Bia (năm 1979–1980) thu thập 296 hiện vật và các viên gạch in nổi chữ "Vĩnh Ninh Trường", chứng minh nơi đây là khu mộ địa và hành cung thời Trần. Ngoài ra, GS. Lê Văn Lan đúc kết qua công thức "Đất lăng mộ = Đất phát tích", việc an táng các vị vua đầu triều (Trần Thái Tông an táng tại Chiêu Lăng) khẳng định Long Hưng là đất phát tích.

2. Bài trí thờ tự tại Tòa Hậu Cung và Tòa Đệ Nhị của Đền Trần Thái Bình được sắp xếp như thế nào?
Trả lời: Tại Tòa Hậu Cung (chữ Đinh, diện tích 359 m²), chính giữa thờ linh vị Mục Tổ Trần Kinh, Ninh Tổ Trần Hấp, Nguyên Tổ Trần Lý và tượng Thái Tổ Trần Thừa; bên phải thờ tượng Thống quốc Thái sư Trần Thủ Độ; bên trái thờ tượng Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung. Tại Tòa Đệ Nhị (270 m²), chính giữa thờ tượng vua Trần Thái Tông (Trần Cảnh), bên trái thờ tượng vua Trần Thánh Tông, bên phải thờ tượng vua Trần Nhân Tông.

3. Tục lệ cỗ cá Thái Đường trong lễ hội đền Trần có nguồn gốc và quy cách thực hiện ra sao?
Trả lời: Tục cỗ cá bắt nguồn từ quan hệ giao hảo giữa hai làng Thái Đường và Vân Đài vào ngày giỗ hai vị công chúa Diệu Từ Ân (15/2 âm lịch) và Diệu Từ Dong (15/9 âm lịch). Quy cách gồm hai dạng: Cỗ kép có 1 cá trắm đen từ 3kg trở lên và 4 cá mè trên 1kg, kết hợp 4 bát thịt lợn luộc, giò lụa, giò pha, chả chìa, nem, xôi, mọc miến; Cỗ đơn gồm cá chép từ 3kg trở lên và 4 cá mè từ 1kg trở lên. Cá được xát muối, nẹp lá, luộc chín theo tuần hương và trình bày thẳng hàng trên gắng gỗ.

4. Quần thể di tích lăng mộ và đền thờ các vua Trần Thái Bình được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt theo văn bản pháp lý nào?
Trả lời: Di tích được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt. Trước đó, Bộ Văn hóa - Thông tin đã công nhận là Khu Di tích Khảo cổ học và Di tích Lịch sử Quốc gia theo Quyết định số 1214/QĐBT ngày 30/10/1990.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phan Thị Thêu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và khảo sát toàn diện thực trạng tại quần thể di tích Đền Trần, xã Tiến Đức, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Thông qua việc phân tích các cứ liệu khảo cổ học, kiến trúc, văn hóa lễ hội và tục lệ cỗ cá cổ truyền, công trình khẳng định vị thế của Long Hưng là đất phát tích và tôn miếu của vương triều Trần. Đồng thời, đề tài đề xuất 5 nhóm giải pháp quản lý, bảo tồn và xúc tiến du lịch có giá trị ứng dụng thiết thực cho địa phương.