Phần mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận chung. Thực trạng khai thác du lịch tại di tích chùa Keo - Thái Bình. Đề xuất một số giải pháp khai thác di tích chùa Keo phục vụ phát triển du lịch tại Thái Bình.
4 CHƢƠNG 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG. Khái niệm về di tích lịch sử văn hóa. Khái niệm di tích lịch sử văn hoá đƣợc bắt nguồn từ các khái niệm về di tích lịch sử và di tích văn hóa. Vậy có thể hiểu: Di tích lịch sử văn hoá là nơi ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biểu có ý nghĩa quyết định chiều hƣớng phát triển của đất nƣớc, của địa phƣơng.
Đây là nơi ghi dấu những kỉ niệm, ghi dấu chiến công xâm lƣợc, ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến. Di tích văn hóa là những đặc điểm ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hóa trong lịch sử, là những di tích gắn với các công trình kiến trúc có giá trị. Những di tích này không chỉ chứa những giá trị kiến trúc mà còn chứa đựng cả những giá trị văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần. Theo Luật di sản văn hóa thì: Di tích lịch sử văn hoá đƣợc hiểu là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa khoa học.
Di tích lịch sử văn hoá là những không gian vật chất cụ thể khách quan trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử do tập thể hoặc cá nhân con ngƣời sáng lập ra trong lịch sử để lại. Di tích lịch sử văn hoá là tài nguyên văn hóa quý báu của mỗi địa phƣơng, mỗi dân tộc, mỗi đất nƣớc và của cả nhân loại. Nó là bằng chứng trung thành, xác thực và cụ thể về đặc điểm văn hóa của mỗi nƣớc. Ở đó chứa đựng tất cả những gì thuộc về truyền thống tốt đẹp, những tinh hoa, trí tuệ, tài năng, giá trị văn hóa nghệ thuật của mỗi quốc gia.
Đó chính là bộ mặt quá khứ của mỗi dân tộc, mỗi đất nƣớc, là biểu tƣợng chói ngời trong kho tàng văn hóa dân tộc và nhân loại. Mỗi quốc gia đều có những quan niệm về di tích lịch sử văn hoá. Để các quan niệm đƣợc thống nhất với nhau thì cần có những quy định chung nhƣ sau: - Di tích lịch sử văn hoá là nơi ẩn dấu một bộ phận giá trị văn hóa khảo cổ. 5 - Những địa điểm khung cảnh ghi dấu về dân tộc.
- Những nơi diễn ra sự kiện chính trị quan trọng có ý nghĩa thúc đẩy lịch sử đất nƣớc, lịch sử địa phƣơng phát triển. - Những địa điểm ghi dấu chiến công xâm lƣợc, áp bức. - Những nơi ghi dấu giá trị lƣu niệm về nhân vật lịch sử, anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa, nhà khoa học. - Những công trình kiến trúc nghệ thuật có giá trị toàn quốc hoặc khu vực.
- Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên bài trí sẵn và có bàn tay con ngƣời tạo dựng thêm vào đƣợc xếp là một loại trong các di tích lịch sử văn hoá. Các loại di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu: 1. Đình làng Đình là yếu tố vật chất quan trọng nhất trong văn hóa làng. Ngôi đình là biểu tƣợng cho văn hóa làng Việt và khi nói đến văn hóa làng Việt là nói đến cây đa, giếng nƣớc, sân đình.
Đình làng ra đời vào khoảng thế kỉ XV, các ngôi đình cổ nhất còn lại hiện nay là: đình Thụy Phiêu (Ba Vì - Hà Nội - 1531), đình Lỗ Hạnh (Hiệp Hòa - Bắc Giang - 1576), đình La Phù (Thƣờng Tín - Hà Nội - 1579), đình Tây Đằng (Ba Vì - Hà Nội - 1583). Đến thế kỉ XVI đình phát triển nhiều và đến thế kỉ XVII là sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật điêu khắc đình. Đình không chỉ là biểu tƣợng cho làng xã Việt Nam mà còn là hình ảnh của con ngƣời Việt Nam, đặc biệt là trƣớc cách mạng tháng Tám không ở đâu có hệ thống đình phong phú nhƣ ở nông thôn miền Bắc nƣớc ta. Không biết tự bao giờ, đình làng đã trở thành một bộ phận trong đời sống của bà con nông dân, đây là nơi chứng kiến mọi sinh hoạt, lề thói, mọi thay đổi trong đời sống văn hóa - xã hội của làng quê Việt Nam.
Có thể nói đình là biểu tƣợng, là linh hồn của làng quê, đình là dấu ấn trong văn hóa truyền thống. 6 Đình có ba chức năng chính đó là: chức năng hành chính, chức năng văn hóa và chức năng tôn giáo.Trƣớc hết đình là nơi thờ Thành Hoàng làng - ngƣời có công với làng. Tín ngƣỡng Thành Hoàng làng có nguồn gốc từ Trung Quốc và du nhập vào nƣớc Việt Nam từ thời Bắc thuộc. Thành Hoàng có nhiều loại: đó có thể là nhân thần vật lịch sử (hay còn gọi là nhân thần) đã có công với đất nƣớc nhƣ: các tƣớng của Hai Bà Trƣng, Ngô Quyền, Trần Hƣng Đạo; có thể là các tăng ni cao đạo nhƣ: Không Lộ, Minh Không, Từ Đạo Hạnh; có thể là thiên thần nhƣ Thánh Tản Viên; có thể là những ngƣời có công lập làng (gọi là Tiền Thần), hay những ông tổ họ của làng, những ngƣời là tổ nghề (gọi là Tiền Sƣ).
Ngoài chức năng trên đình còn có chức năng hành chính. Đây là nơi thực hiện công việc của cả làng, cả xã. Việc xử, việc phạt, khao đều đƣợc tiến hành tại đình, phổ biến hƣơng ƣớc cũng đƣợc tiến hành tại đây. Đây là nơi chứng kiến những việc của làng xã, những thay đổi trong tổ chức hành chính của làng quê Việt Nam.
Chức năng văn hóa: Đình là nơi để biểu diễn kịch hay các hoạt động văn hóa nghệ thuật. Đặc biệt vào là vào dịp lễ hội, ngoài phần lễ nghi không thể thiếu phần hội với nhiều trò chơi dân gian nhƣ: múa hát, trọi trâu, trọi gà, đánh đu, bơi thuyền, hát xoan ghẹo. Ở lễ hội, một mặt ngƣời ta biểu dƣơng, giáo dục truyền thống tốt đẹp của quê hƣơng đất nƣớc, hƣớng con ngƣời ta đến cái “chân - thiện - mỹ ”, ở đây họ tìm thấy sự thoải mái và bình đẳng. Mỗi dịp lễ hội nhƣ là một lần hẹn, vào dịp này tại mỗi làng quê, những ngƣời lao động không phải lo nghĩ gì, họ thả hồn mình đi trảy hội, đây là dịp để nam nữ hẹn hò gặp mặt.
Đình cũng là nơi để phát hiện, nuôi dƣỡng những môn nghệ thuật độc đáo. Ngay kể cả vào dịp không có lễ hội, mỗi khi thoáng mát, đình cũng là nơi nghỉ ngơi, trò chuyện của ngƣời dân làng quê. Việc xây dựng đình có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của dân làng. Ngƣời dân Việt Nam luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho đình làng.
Đình đƣợc xây dựng do sự đóng góp tài sản và sức lực của mọi thành viên trong làng. Đình là nơi hội tụ những nét đẹp về mặt truyền thống, kiến trúc nghệ thuật và cả yếu tố phong thủy. Để xây dựng đình, ngƣời dân phải chọn một mảnh đất có phong thủy 7 đẹp, tức là địa điểm đó phải có sông, có cây, có hƣớng đất đẹp, là nơi cao ráo, có long mạch. Chính vì vậy nhiều đình để tạo thế đất ngƣời ta đào ao, hồ nƣớc trƣớc cửa đình.
Ngoài những giá trị văn hóa, xã hội mà đình để lại cho đến ngày nay, thì giá trị kiến trúc - nghệ thuật lại không thể bỏ qua và đặc biệt ở đây là nghệ thuật điêu khắc. Tại đây ghi lại sự phát triển vƣợt bậc của nghệ thuật điêu khắc, đặc biệt là hình tƣợng con rồng. Các nghệ nhân đã dùng đôi bàn tay khéo léo và tâm hồn của mình để khắc họa lên những suy nghĩ, tâm tƣ, tình cảm và nguyện vọng của ngƣời dân Việt Nam. Tạo cho đình một không gian thoáng mát, linh thiêng và hội tụ những giá trị nghệ thuật cao đẹp.
Đây không chỉ là những bằng chứng xác thực cho một thời kì, một nền văn hóa mà là một nguồn tài liệu về lịch sử - mỹ thuật Việt Nam để nghiên cứu đời sống hàng ngày cũng nhƣ tâm hồn của ngƣời dân Việt Nam. Về kiến trúc của đình thƣờng có một số kiểu kiến trúc phổ biến sau: Kết cấu chữ “Nhất” là kết cấu một tòa đình có 5 gian hoặc 7 gian và 2 dĩ. Kết cấu này thƣờng thấy ở các ngôi đình thời nhà Mạc, đến thế kỉ XVII ngƣời ta đƣa Thành Hoàng vào thờ ở đình, xuất hiện tục thờ thần, cấu trúc chữ “Nhất” của đình bị phá vỡ và phát triển thành kiểu kiến trúc nhƣ sau: Cấu trúc chữ “Nhị” gồm có phần đại đình và phần hậu cung. Cấu trúc chữ “Đinh” hay còn gọi hình “chuôi vồ”, bao gồm phần đại đình và phần hậu cung.
Cấu trúc chữ “Công” gồm phần đại đình, hậu cung và tòa ống muống nối giữa hai phần này. Giống nhƣ đền và chùa, là những nơi linh thiêng nhƣng lại là nơi có kiến trúc tôn giáo khác biệt. Tại đây ta có thể bắt gặp những hình ảnh sinh động gần gũi với cuộc sống đời thƣờng. Cảnh hội hè đình đám: uống rƣợu, bơi chải, chọi gà; cảnh lao động làm ăn: dựng đình, săn hƣơu; cảnh sinh hoạt ở làng: bế con, gánh con, cõng con đã biến những khúc gỗ vô tri vô giác thành những bức trạm 8 trổ mang tính nghệ thuật cao; cũng có khi là những hình ảnh thoáng đạt nhƣ hiện tƣợng đôi trai gái đùa ghẹo nhau hay đang tự tình; cũng có thể là hình tƣợng ngƣời phụ nự ngồi khỏa thân.
Qua sự biến đổi, phát triển của thời gian. Đến nay đã có nhiều ngôi đình trở thành kiệt tác nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đặc sắc, độc đáo và trở thành những di tích lịch sử văn hoá quốc gia nhƣ: đình Tây Đằng (Hà Nội), Đình Bảng (Bắc Ninh), đình Phù Lãng (Vĩnh Phúc). Chùa Chùa là một loại di tích lịch sử, có kiến trúc nghệ thuật độc đáo, chiếm số lƣợng lớn, do vậy chùa có vị trí quan trọng trong di sản văn hóa nƣớc ta. Chùa có lịch sử ra đời và phát triển gắn liền với sự du nhập và phát triển của đạo phật ở nƣớc ta và lịch sử phát triển của đất nƣớc.
Chùa đƣợc phát triển theo thời gian và phân hóa theo không gian, làng nào cũng có chùa (đất vua chùa làng). Chùa Việt Nam chủ yếu là chùa làng và chùa nƣớc. Chùa làng thƣờng đƣợc xây dựng trong một không gian đẹp, yên tĩnh, trong lành tĩnh mịch, nơi hội tụ khí thiêng trời đất.