Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Tỉnh Thái Bình là vùng đất đồng bằng sông Hồng có bề dày lịch sử và truyền thống văn hóa gắn liền với nhiều nhân vật lịch sử như Bát Nạn tướng quân Vũ Thị Thục Nương, Lý Bí (Lý Nam Đế), Sứ quân Trần Lãm, và nhà bác học Lê Quý Đôn. Địa phương này hiện còn lưu giữ hệ thống di tích lịch sử phong phú như đền Trần (Tiến Đức – Hưng Hà), đền Đồng Bằng (An Lễ – Quỳnh Phụ) và đặc biệt là di tích chùa Keo (xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư). Chùa Keo là công trình kiến trúc cổ kính, độc đáo, giữ vị trí quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc và là nguồn tài nguyên du lịch nhân văn có tiềm năng lớn đối với ngành du lịch tỉnh Thái Bình.

Tuy nhiên, thực tiễn khai thác di tích chùa Keo phục vụ phát triển du lịch trong những năm qua chưa phát huy được hiệu quả tương xứng với tiềm năng. Hoạt động du lịch tại điểm đến này còn mang tính tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ, công tác quản lý tài nguyên từ chính quyền địa phương chưa chặt chẽ, dẫn đến lãng phí tài nguyên và đóng góp kinh tế cho địa phương còn hạn chế. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Khai thác di tích chùa Keo ở Thái Bình phục vụ phát triển du lịch" được thực hiện nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác du lịch tại di tích này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Nghiên cứu, tìm hiểu di tích chùa Keo nhằm hệ thống hóa các giá trị lịch sử, nghệ thuật kiến trúc, lễ hội cổ truyền và tiềm năng du lịch của công trình.
  2. Vận dụng lý luận khoa học du lịch để khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động khai thác du lịch tại di tích chùa Keo cũng như bối cảnh du lịch tỉnh Thái Bình.
  3. Đề xuất các nhóm giải pháp mang tính định hướng nhằm khắc phục bất cập, bảo tồn di tích và thúc đẩy phát triển du lịch địa phương trong thời gian tới.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Di tích chùa Keo tại xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi nghiên cứu: Không gian kiến trúc - cảnh quan di tích và thời gian lịch sử hình thành, tồn tại của di tích chùa Keo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng nội dung dựa trên khung pháp lý và lý thuyết chuyên ngành du lịch học:

  • Khái niệm di tích lịch sử văn hóa: Dẫn chiếu quy định của Luật Di sản văn hóa về công trình xây dựng, địa điểm, di vật, bảo vật quốc gia có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học; phân loại di tích thành di tích khảo cổ học (di chỉ cư trú, di chỉ mộ táng), di tích lịch sử văn hóa, di tích văn hóa nghệ thuật, di tích cách mạng và danh lam thắng cảnh.
  • Khái niệm du lịch văn hóa: Căn cứ Điều 4 Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 (hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống) và giáo trình Nhập môn khoa học du lịch của tác giả Trần Đức Thanh (hoạt động du lịch diễn ra trong môi trường nhân văn hoặc tập trung khai thác tài nguyên du lịch văn hóa/nhân văn).
  • Lý thuyết về tài nguyên du lịch văn hóa (vật thể và phi vật thể), đặc trưng sản phẩm du lịch văn hóa, mối quan hệ biện chứng giữa du lịch và bảo tồn di tích, các tác động tích cực - tiêu cực và 4 xu hướng phát triển của du lịch văn hóa (gia tăng số lượng, xã hội hóa du khách, mở rộng địa bàn, kéo dài thời vụ).

Khóa luận sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính:

  1. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Thu thập thông tin từ thư tịch cổ, sách "Không Lộ Thiền sư ký ngữ lục", văn bia, địa bạ chùa Keo, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội và tài liệu quy hoạch du lịch tỉnh Thái Bình để xử lý, chọn lọc dữ liệu.
  2. Phương pháp thực địa: Khảo sát trực tiếp cảnh quan, các hạng mục công trình kiến trúc, hiện vật cổ và các hoạt động lễ hội tại chùa Keo nhằm ghi nhận thông tin thực tế.
  3. Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Phân tích các chỉ số phát triển du lịch (lượng khách, doanh thu, cơ sở lưu trú) và đối chiếu thực trạng khai thác nhằm hình thành cơ sở đề xuất giải pháp.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm các văn bản pháp quy (Luật Di sản văn hóa, Luật Du lịch 2005, Quy chế lễ hội của Bộ Văn hóa Thông tin năm 1994 và 2001), số liệu thống kê của Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, Sở Thương mại và Du lịch tỉnh Thái Bình, cùng các tư liệu lịch sử lưu trữ tại ban quản lý di tích.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung

Chương này tập trung làm rõ hệ thống khái niệm nền tảng về di tích lịch sử văn hóa và mối quan hệ với hoạt động du lịch:

  • Phân tích các loại hình di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu ở Việt Nam:
    • Đình làng: Xuất hiện từ thế kỷ XV (như đình Thụy Phiêu 1531, đình Lỗ Hạnh 1576, đình Tây Đằng 1583), thực hiện 3 chức năng (hành chính, văn hóa, tôn giáo thờ Thành Hoàng), các kiểu bố cục mặt bằng hình chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Đinh, chữ Công và nghệ thuật chạm khắc gỗ thời Mạc - Lê.
    • Chùa: Gắn liền với lịch sử Phật giáo Việt Nam, phân chia thành chùa làng và chùa nước; các kiểu thức kiến trúc miền Bắc (tháp, chữ Nhất, chữ Đinh, chữ Công, Nội công ngoại quốc, chữ Tam), miền Trung (chữ Khẩu, chữ Nhị) và miền Nam (chữ Tam, Nội công ngoại quốc).
    • Đền, miếu, nghè, am, quán, phủ: Thiết chế thờ tự thần linh, danh nhân, Đạo giáo và tín ngưỡng thờ Mẫu (Điện Mẫu, Phủ).
  • Mối quan hệ tương tác giữa du lịch và di tích lịch sử văn hóa:
    • Tác động tích cực: Tăng cường giao lưu văn hóa theo phương châm "hòa nhập nhưng không hòa tan", tạo nguồn thu tái đầu tư cho bảo tồn, phục hồi không gian văn hóa phi vật thể, giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ và đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân.
    • Tác động tiêu cực: Tình trạng quá tải sức chứa gây xuống cấp di tích, ô nhiễm môi trường do xả rác bừa bãi, thương mại hóa làm sai lệch giá trị lịch sử (thuyết minh sai, chèo kéo khách, hàng kém chất lượng), phát sinh tệ nạn mê tín dị đoan, ăn xin, trộm cắp.
  • Xu hướng phát triển của du lịch gắn với di tích: Tăng nhanh về số lượng du khách do nâng cao mức sống và thời gian rỗi; xã hội hóa thành phần khách du lịch; chuyển dịch luồng khách quốc tế theo hướng Tây - Đông (khu vực châu Á - Thái Bình Dương); từng bước giảm thiểu tính thời vụ trong du lịch văn hóa.

Chương 2: Thực trạng khai thác du lịch tại di tích chùa Keo – Thái Bình

Chương 2 trình bày bức tranh tổng thể về tài nguyên du lịch tỉnh Thái Bình, đi sâu khảo sát các giá trị đặc trưng và hiện trạng khai thác tại chùa Keo:

1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hạ tầng du lịch tỉnh Thái Bình:

  • Tự nhiên: Diện tích 1.84 km² (ghi chú theo văn bản), bờ biển dài 52 km, mạng lưới 4 sông chính (sông Hóa 35 km, sông Luộc 53 km, sông Hồng 67 km, sông Trà Lý 65 km) đổ ra 4 cửa sông (Diêm Điền, Ba Lạt, Trà Lý, Lân). Nhiệt độ trung bình 23,5°C, lượng mưa trung bình 1.200 mm/năm, độ ẩm 85–90%. Tỉnh có Khu dự trữ sinh quyển châu thổ sông Hồng (UNESCO công nhận năm 2004) gồm rừng ngập mặn Thái Thụy và Khu bảo tồn thiên nhiên Tiền Hải.
  • Kinh tế - xã hội: Dân số năm 2011 đạt 1.000.000 người, mật độ 1.138 người/km² (90,1% sống ở nông thôn). GDP năm 2013 đạt 37.188 tỷ đồng (tăng 8,8%), cơ cấu Nông nghiệp - Công nghiệp/Xây dựng - Dịch vụ tương ứng là 31,97% - 34,76% - 33,27%; GDP bình quân đầu người đạt 26,1 triệu đồng/năm. Toàn tỉnh có gần 82 lễ hội, 16 loại hình diễn xướng/trò chơi dân gian, hơn 1.400 di tích lịch sử văn hóa (261 di tích xếp hạng).
  • Cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật du lịch: Trục giao thông kết nối gồm Quốc lộ 10, Quốc lộ 39, Quốc lộ 37, đường 217, ĐT 458 (đường 39B), dự án Cầu Hiệp (dài 542,5 m, rộng 12 m); hệ thống điện có 1 trạm 220kV và 8 trạm 110kV. Năm 2012, toàn tỉnh có 140 cơ sở lưu trú (gồm 01 khách sạn 4 sao Dầu Khí, 04 khách sạn 2 sao, 01 khách sạn 1 sao).
Địa bàn (Huyện/Thành phố) Số lượng cơ sở lưu trú Số phòng ước tính
Thành phố Thái Bình Khoảng 20 khách sạn Hơn 400 phòng
Huyện Tiền Hải Khoảng 20 khách sạn Hơn 350 phòng
Huyện Vũ Thư Khoảng 15 khách sạn Hơn 180 phòng
Huyện Quỳnh Phụ Khoảng 13 khách sạn Hơn 170 phòng
Huyện Hưng Hà Khoảng 14 khách sạn/nhà hàng Hơn 100 phòng
Huyện Thái Thụy Khoảng 16 khách sạn Hơn 100 phòng
Huyện Kiến Xương Khoảng 7 khách sạn 100 phòng
Huyện Đông Hưng Khoảng 3 khách sạn 90 phòng
  • Tình hình kinh doanh du lịch tỉnh Thái Bình:
Tiêu chí Năm 2006 Năm 2009 Năm 2012
Tổng lượt khách 257.000 lượt 302.500 lượt 525.000 lượt
Trong đó: Khách quốc tế 3.400 lượt 5.182 lượt 8.900 lượt
Doanh thu du lịch 67 tỷ đồng - 172 tỷ đồng

(Tốc độ tăng trưởng lượng khách bình quân đạt 17%/năm; khách nội địa chiếm 98%, chủ yếu đến từ Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định; doanh thu giai đoạn 2000–2005 đạt 54,1 tỷ đồng).

2. Khảo sát di tích chùa Keo – Thái Bình:

  • Lịch sử và nhân vật thờ tự: Gắn liền với Thiền sư Dương Không Lộ (húy Minh Nghiêm, 1016–1094, thọ 79 tuổi), tổ đời thứ 10 thiền phái Vô Ngôn Thông, Quốc sư triều Lý và ông tổ nghề đúc đồng (tác giả của "Thiên Nam tứ khí": Tháp Báo Thiên, Tượng Phật Quỳnh Lâm, Vạc Phổ Minh, Chuông Phả Lại). Chùa nguyên tên là Nghiêm Quang tự (xây dựng năm 1061), năm 1167 đổi thành Thần Quang tự. Sau sự cố vỡ đê, cư dân chuyển sang tả ngạn sông Hồng lập chùa Keo Thượng (Duy Nhất, Vũ Thư, Thái Bình), đối xứng với chùa Keo Hạ (Hành Thiện, Xuân Trường, Nam Định).
  • Quy mô kiến trúc: Khu di tích nguyên bản rộng 28 mẫu (154 gian thuộc 21 công trình trên diện tích 58.000 m²). Hiện nay còn tồn tại 17 công trình với 128 gian bằng gỗ lim, bố cục đăng đối theo trục dọc theo mô hình "tiền Phật hậu Thánh":
    • Tam quan ngoại (3 gian 2 chái, vì giá chiêng chồng rường, sân đá 11,10m x 10,10m), hồ nước lớn.
    • Tam quan nội (3 gian 2 chái, bộ cửa trung quan thế kỷ XVII hiện lưu giữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, bản tại chùa là phục chế).
    • Khu chùa Phật (mặt bằng chữ Công): Chùa Ông Hộ (7 gian, thức tàu đao lá mái), tòa Ống muống (3 gian, sập thờ thời Lê Trung hưng), tòa Tam bảo (3 gian).
    • Tòa Giá Roi và Khu Đền Thánh: Tòa Giá Roi (5 gian, dấu ấn trung tâm hành chính thôn xã cổ - nơi xử kiện, phạt vạ, bổ bán công điền của làng Keo), tiếp nối Thiêu hương (5 gian), Phụ quốc, Thượng điện (5 gian) kết hợp thành chữ Công.
    • Hai dãy hành lang Đông - Tây: Mỗi bên 33 gian (tổng chiều dài 91m, kích thước gian từ 1,65m đến 3,25m), khép kín tạo thế chữ Quốc.
    • Gác chuông: Cao 11,04m, kết cấu 3 tầng mái cổ các chồng diêm với 12 đao loan, 4 cột cái chịu lực (đường kính chân 0,55m, cao 5m).
    • Hiện vật: Lưu giữ 197 di vật, cổ vật, 3 bia đá thời Lê, chuông đồng, khánh đá cùng 86 con sơn gỗ chạm trổ tinh xảo hình rồng, nghê, mây lửa thời Lê.
  • Lễ hội chùa Keo: Gồm Hội xuân (mùng 4 Tết với các trò thi bắt vịt, nấu cơm, ném pháo) và Hội thu (13–16 tháng 9 âm lịch, tưởng niệm ngày mất và ngày sinh Thiền sư Không Lộ). Các nghi lễ đặc thù gồm: Lễ rước nước, Lễ mộc dục (lau tượng bằng nước ngũ vị), Lễ Phục miều y (dựng cột phướn dài 10m có hình quạ đen), Lễ Thánh đản (đêm 13 rạng 14) và Lễ rước phụng nghinh sáng ngày 14 (rước kiệu bay, kiệu thuyền rồng, giải Phù Kiều, sắc chỉ Cảnh Hưng 43 năm 1783).
  • Đánh giá thực trạng khai thác: Khai thác chưa có quy hoạch tổng thể; dịch vụ du lịch tại chỗ nghèo nàn; còn hiện tượng quá tải cục bộ vào mùa lễ hội gây ảnh hưởng cảnh quan và môi trường di tích; quản lý nguồn thu và công tác hướng dẫn, thuyết minh còn nhiều hạn chế.

Chương 3: Một số giải pháp khai thác di tích chùa Keo phục vụ phát triển du lịch tại Thái Bình

Chương này đề xuất 3 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm phát triển du lịch gắn với bảo tồn di tích:

  • Bảo tồn di tích thông qua hoạt động du lịch: Trùng tu, tôn tạo các hạng mục kiến trúc gỗ lim, bảo vệ 197 di vật, cổ vật và 3 bia đá thời Lê; quy hoạch phân vùng bảo vệ nghiêm ngặt khu vực di tích gốc; kiểm soát sức chứa du khách trong mùa lễ hội; thiết lập hệ thống thu gom và xử lý rác thải; trích một phần doanh thu du lịch tái đầu tư cho công tác tu bổ.
  • Xây dựng hình ảnh điểm đến: Tăng cường tuyên truyền, quảng bá giá trị kiến trúc Gác chuông và lễ hội chùa Keo; chuẩn hóa nội dung thuyết minh phục vụ khách tham quan; tổ chức lễ hội theo đúng quy chế văn hóa, loại bỏ các hiện tượng tiêu cực (chèo kéo, mê tín dị đoan, hàng rong); nâng cao ý thức văn minh du lịch cho cộng đồng dân cư địa phương.
  • Kết hợp với các loại hình du lịch khác: Xây dựng các tuyến du lịch tổng hợp và chuyên đề, kết nối chùa Keo với các di tích lịch sử lân cận (cụm đền Trần - Hưng Hà, đền Tiên La, đền Đồng Bằng, đền Đồng Xâm, khu lưu niệm danh nhân Lê Quý Đôn, Nguyễn Đức Cảnh, Bác Hồ) và các tuyến du lịch sinh thái, làng nghề (làng vườn Bách Thuận, múa rối nước Nguyên Xá, làng chạm bạc Đồng Xâm, khu du lịch Cồn Vành – Cồn Thủ, rừng ngập mặn Thái Thụy).

Kết quả và đóng góp của đề tài

  • Tổng hợp và hệ thống hóa toàn diện các dữ liệu khoa học về di tích chùa Keo: Khảo cứu nguồn gốc lịch sử Thiền sư Không Lộ, kết cấu 17 công trình kiến trúc (128 gian), thông số kỹ thuật Gác chuông 3 tầng (cao 11,04m), hệ thống 86 con sơn chạm khắc và kho tàng 197 di vật, cổ vật quý giá.
  • Phân tích rõ nét tính độc đáo của thiết chế tôn giáo - hành chính thông qua sự hiện diện của tòa Giá Roi trước Đền Thánh, phản ánh vai trò của ngôi chùa như một trung tâm quản lý làng xã cổ truyền của làng Dũng Nhuệ.
  • Cung cấp số liệu thống kê thực chứng về thực trạng hạ tầng và hoạt động kinh doanh du lịch tỉnh Thái Bình giai đoạn 2000–2012 (tổng lượt khách đạt 525.000 lượt năm 2012, doanh thu 172 tỷ đồng, hệ thống 140 cơ sở lưu trú).
  • Đề xuất hệ thống 3 nhóm giải pháp khai thác gắn liền với bảo tồn, chỉ ra hướng liên kết không gian du lịch văn hóa tâm linh chùa Keo với du lịch sinh thái và làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Các số liệu thống kê kinh tế du lịch và lượng khách trong khóa luận chủ yếu phản ánh quy mô toàn tỉnh Thái Bình, chưa bóc tách được chuỗi số liệu định lượng độc lập về lượng khách, cơ cấu chi tiêu và doanh thu chuyên biệt tại riêng điểm di tích chùa Keo.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Triển khai các nghiên cứu điều tra xã hội học định lượng về mức độ hài lòng và hành vi tiêu dùng của du khách tại chùa Keo; nghiên cứu so sánh đối chiếu mô hình quản trị, khai thác du lịch giữa Chùa Keo Thái Bình (chùa Keo Thượng) và Chùa Keo Nam Định (chùa Keo Hạ).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Du lịch học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Văn hóa học và Lịch sử khi nghiên cứu về di tích lịch sử văn hóa và phương thức khai thác tài nguyên du lịch nhân văn vùng đồng bằng sông Hồng.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và du lịch tại địa phương trong việc xây dựng quy hoạch điểm đến và kế hoạch quản lý lễ hội truyền thống.
  • Các doanh nghiệp lữ hành trong quá trình khảo sát, thiết kế và xây dựng các tour du lịch văn hóa tâm linh kết hợp du lịch làng nghề, sinh thái tại Thái Bình.

Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình là phần khảo cứu chi tiết về nghệ thuật kiến trúc gỗ lim, cấu trúc tòa Giá Roi, kỹ thuật dựng Gác chuông và quy trình thực hiện các nghi lễ cổ truyền trong Lễ hội mùa thu chùa Keo tại Chương 2.

Câu hỏi thường gặp

1. Quần thể di tích chùa Keo Thái Bình hiện nay có quy mô kiến trúc như thế nào? Theo văn bia và địa bạ, toàn khu di tích xưa rộng 28 mẫu (58.000 m²) gồm 21 công trình với 154 gian. Hiện nay, chùa Keo còn lại 17 công trình với 128 gian bằng gỗ lim, bố cục đăng đối theo trục dọc gồm Tam quan ngoại, Tam quan nội, khu chùa thờ Phật (chùa Ông Hộ, Ống muống, Tam bảo), tòa Giá Roi, khu Đền Thánh (Thiêu hương, Phụ quốc, Thượng điện), hai dãy hành lang Đông - Tây (mỗi bên 33 gian) và Gác chuông.

2. Tòa Giá Roi trong quần thể chùa Keo có nguồn gốc và chức năng gì đặc biệt? Tòa Giá Roi gồm 5 gian nằm ngay phía trước Đền Thánh, là công trình không xuất hiện trong các kinh sách Phật giáo hay chùa chiền thông thường. Xưa kia, đây là nơi dân làng Dũng Nhuệ (làng Keo) dùng làm nơi xử kiện, phạt vạ, bổ bán công điền, công thổ. Sự hiện diện của tòa Giá Roi chứng minh chùa Keo từng giữ vai trò là trung tâm hành chính của thôn xã cổ.

3. Gác chuông chùa Keo có những thông số kỹ thuật và đặc điểm kiến trúc nào nổi bật? Gác chuông nằm ở phía sau khu di tích, có chiều cao 11,04m tính từ nền tới bờ nóc, thiết kế 3 tầng mái cổ các chồng diêm với 12 đao loan uốn cong. Toàn bộ trọng lực công trình đặt trên 4 cột gỗ lớn (đường kính chân 0,55m, cao 5m), liên kết bằng hệ thống xà ngang, xà nách và các dàn đấu ăn mộng thước thợ chắc chắn.

4. Lễ hội chùa Keo được tổ chức vào các thời điểm nào và có những nghi lễ chính nào? Lễ hội được tổ chức 2 kỳ trong năm: Hội xuân vào ngày mùng 4 Tết Nguyên Đán (với các trò thi bắt vịt, nấu cơm, ném pháo) và Hội thu từ ngày 13 đến 16 tháng 9 âm lịch. Hội thu gồm các nghi thức: Lễ rước nước, Lễ mộc dục, Lễ Phục miều y (kéo lá phướn dài 10m có hình quạ đen), Lễ Thánh đản (đêm 13 rạng 14) và Lễ rước phụng nghinh vào sáng ngày 14 (rước kiệu bay, thuyền rồng, kiệu sắc phong Cảnh Hưng 43).

5. Thực trạng hoạt động lưu trú và phát triển du lịch tại Thái Bình được ghi nhận ra sao trong giai đoạn nghiên cứu? Năm 2012, toàn tỉnh có 140 cơ sở lưu trú (1 khách sạn 4 sao Dầu Khí, 4 khách sạn 2 sao, 1 khách sạn 1 sao). Tổng lượng khách du lịch đạt 525.000 lượt (tăng trưởng bình quân 17%/năm), trong đó khách nội địa chiếm 98% (chủ yếu từ Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định) và khách quốc tế đạt 8.900 lượt. Doanh thu du lịch năm 2012 đạt 172 tỷ đồng.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp đã cung cấp cái nhìn hệ thống về giá trị lịch sử, kiến trúc gỗ lim và lễ hội truyền thống đặc sắc của di tích chùa Keo trong không gian văn hóa tỉnh Thái Bình. Trên cơ sở phân tích thực trạng kinh doanh và hạ tầng du lịch giai đoạn 2000–2012, tác giả đã chỉ ra những mặt hạn chế trong công tác quản lý và khai thác điểm đến. Công trình đã đề xuất 3 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm gắn kết việc bảo tồn di sản với phát triển du lịch văn hóa bền vững, tạo cơ sở tham khảo cho công tác quy hoạch và xây dựng sản phẩm du lịch tại địa phương.