Khóa luận tốt nghiệp luật học điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014

Khóa luận tốt nghiệp luật học về điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, phân tích các quy định pháp lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và đặc điểm của mang thai hộ vì mục đích nhân đạo

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là một hình thức hỗ trợ sinh sản được quy định trong Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 của Việt Nam. Đây là quá trình mà một phụ nữ (được gọi là bên mang thai hộ) mang thai và sinh con cho một cặp vợ chồng (bên nhờ mang thai hộ) không có khả năng sinh con do các vấn đề y tế. Điều kiện mang thai hộ được thiết lập để bảo vệ quyền lợi của tất cả các bên liên quan và đảm bảo sự an toàn về mặt pháp lý, y tế và đạo đức. Việc quy định rõ ràng các điều kiện giúp ngăn chặn các hành vi lạm dụng và đảm bảo rằng quyết định mang thai hộ xuất phát từ mục đích nhân đạo chính đáng.

1.1. Định nghĩa mang thai hộ

Theo Nghị định số 10/2015/NĐ-CP, mang thai hộ là việc một phụ nữ mang thai và sinh con mà phôi thai được tạo thành từ tinh trùng và trứng của bên nhờ hoặc của người khác. Bên mang thai hộ không có mối quan hệ di truyền với trẻ sinh ra, nhằm giải quyết vấn đề vô sinh của các cặp vợ chồng không có khả năng sinh con tự nhiên.

1.2. Đặc điểm chính của mang thai hộ

Các đặc điểm nổi bật bao gồm: (1) Là hành vi có ý đồ giúp đỡ nhân đạo, không vì lợi nhuận; (2) Liên quan đến kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON); (3) Yêu cầu sự đồng ý rõ ràng của tất cả các bên; (4) Tuân thủ các quy định pháp luật và y tế nghiêm ngặt.

II. Điều kiện đối với các bên liên quan trong mang thai hộ

Pháp luật Việt Nam quy định điều kiện mang thai hộ khắt khe để bảo vệ các bên tham gia. Bên nhờ mang thai hộ phải là cặp vợ chồng có hôn nhân hợp pháp, không có khả năng sinh con hoặc sinh con sẽ gây nguy hiểm cho sức khỏe. Bên mang thai hộ phải là phụ nữ độc thân hoặc có chồng (nếu chồng đồng ý), khỏe mạnh về thể chất, tâm lý, có khả năng mang thai an toàn. Cả hai bên phải ký kết thỏa thuận mang thai hộ rõ ràng, được xác thực pháp lý. Các điều kiện này nhằm đảm bảo sự an toàn, bảo vệ quyền lợi của trẻ em và tuân thủ các nguyên tắc đạo đức y tế.

2.1. Điều kiện đối với bên nhờ mang thai hộ

Bên nhờ phải: (1) Là cặp vợ chồng hợp pháp; (2) Chứng minh được không có khả năng sinh con tự nhiên thông qua kết luận y tế; (3) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; (4) Không mắc bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh lý nguy hiểm cho con.

2.2. Điều kiện đối với bên mang thai hộ

Bên mang thai hộ cần: (1) Là phụ nữ từ 20-45 tuổi, khỏe mạnh; (2) Có năng lực hành vi dân sự; (3) Nếu có chồng, phải được chồng đồng ý bằng văn bản; (4) Không mắc bệnh truyền nhiễm hoặc điều kiện sức khỏe nguy hiểm.

III. Quy trình pháp lý và thỏa thuận mang thai hộ

Thỏa thuận mang thai hộ là yếu tố then chốt trong việc thiết lập mối quan hệ pháp lý giữa các bên. Thỏa thuận phải được lập thành văn bản, xác thực hoặc chứng thực công chứng, và phải tuân thủ các quy định về Luật Hôn nhân và Gia đình. Thỏa thuận cần nêu rõ: quyền lợi và trách nhiệm của bên mang thai hộ, bên nhờ mang thai hộ, quy định về chi phí y tế, và cam kết của bên mang thai hộ giao nộp trẻ sau khi sinh. Điều kiện này đảm bảo rằng tất cả các bên đều hiểu rõ nghĩa vụ của mình và bảo vệ quyền lợi của trẻ em. Quá trình phải được thực hiện tại cơ sở y tế được phép và dưới sự giám sát của các cơ quan chức năng.

3.1. Nội dung bắt buộc trong thỏa thuận

Thỏa thuận phải bao gồm: (1) Xác nhận các bên không nhờ/mang thai vì lợi nhuận; (2) Quyền sinh con của bên nhờ; (3) Trách nhiệm chăm sóc sức khỏe của bên mang thai hộ; (4) Chi phí y tế và hỗ trợ tài chính; (5) Cam kết giao nộp con sau sinh.

3.2. Xác thực và công chứng thỏa thuận

Thỏa thuận mang thai hộ phải được xác thực hoặc công chứng tại cơ quan tư pháp hoặc công chứng viên. Quá trình này đảm bảo tính pháp lý, bảo vệ quyền lợi các bên, và tạo bằng chứng pháp lý khi cần thiết trong các tranh chấp sau này.

IV. Thách thức và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 đã quy định về mang thai hộ, nhưng trong thực tiễn vẫn tồn tại nhiều khó khăn và hạn chế. Các vấn đề bao gồm: thiếu sự nhất quán trong giải thích pháp luật, hiểu biết không đầy đủ của công chúng, chi phí cao làm cho mang thai hộ trở nên khó tiếp cận. Để hoàn thiện, cần: (1) Sửa đổi pháp luật để làm rõ các khái niệm; (2) Nâng cao đào tạo cho các cơ sở y tế; (3) Tăng cường truyền thông về điều kiện mang thai hộ hợp pháp; (4) Bảo vệ quyền lợi tối đa của trẻ em.

4.1. Những khó khăn trong thực hiện hiện nay

Thách thức chính gồm: (1) Thiếu hướng dẫn cụ thể từ cơ quan chức năng; (2) Chi phí thực hiện TTTON rất cao; (3) Số cơ sở y tế được phép thực hiện hạn chế; (4) Tâm lý xã hội chưa chấp nhận hoàn toàn; (5) Rủi ro pháp lý trong xác định quyền nuôi con.

4.2. Các kiến nghị cải thiện pháp luật

Cần: (1) Ban hành hướng dẫn chi tiết thực hiện các điều kiện; (2) Cấp phép cho nhiều cơ sở y tế hơn; (3) Hỗ trợ tài chính cho các cặp vợ chồng vô sinh; (4) Nâng cao đào tạo chuyên môn y tế; (5) Hoàn thiện thủ tục pháp lý trong xác định quyền nuôi.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN MANG THAI HỘ VÌ MỤC ĐÍCH NHÂN ĐẠO 1. Khái quát về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo 1. Khái niệm mang thai hộ vì mục đích nhân đạo Mang thai là hành trình đặc biệt, khi cơ thể người phụ nữ trở thành nơi ươm mầm cho một sự sống mới. Như tác giả Harriette Hartigan đã từng viết trong cuốn sách Brought to Earth by Birth: “Sinh con và con được sinh ra đưa chúng ta đến với cốt lõi của sự sáng tạo, nơi tinh thần con người dũng cảm và táo bạo, còn cơ thể là một phép màu của trí tuệ”5.

Nói như vậy để thấy rằng quá trình này không chỉ gắn liền với việc tạo ra một sinh linh mới mà còn khắc sâu ý nghĩa của tình yêu thương và sự hy sinh của người mẹ. Với mỗi trái tim bắt đầu đập bên trong cơ thể người phụ nữ, mang thai trở thành minh chứng cho sức mạnh phi thường và vẻ đẹp kỳ diệu của tạo hóa. Nếu xem xét dưới góc độ xã hội, mang thai không chỉ đơn thuần là một hiện tượng sinh học mà còn là một quá trình mang ý nghĩa và bản chất xã hội sâu sắc bởi vì quá trình này đảm nhận vai trò then chốt trong việc duy trì nòi giống và tái tạo nguồn nhân lực cho xã hội. Như Friedrich Engels, nhà tư tưởng duy vật vĩ đại đã từng nhấn mạnh rằng: “…nhân tố quyết định trong lịch sử, quy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp.

Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt, là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác, là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống”6. Điều đó cho thấy chức năng sinh sản của gia đình không chỉ mang giá trị bền vững, mà còn là phương thức cốt yếu để cung cấp nguồn nhân lực cho toàn xã hội. Việc thực hiện tốt chức năng này dù trong bất kỳ bối cảnh nào cũng sẽ đáp ứng cả nhu cầu tồn tại, phát triển của xã hội như cung ứng lực lượng lao động, tạo ra sản phẩm cho cộng đồng,.

và những nhu cầu khác thiên về bản năng của cá nhân mỗi con người đó là được làm cha, làm mẹ, duy trì nòi giống. Từ những phân tích trên, có thể đưa ra định nghĩa mang thai dưới góc độ xã hội như sau: Mang thai là quá trình sinh học và xã hội, trong đó một phụ nữ mang trong mình một hoặc 5 Harriette Haritgan: Brought to Earth By Birth, Motherbaby Press, 2008. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.

9 nhiều phôi thai, đảm nhận vai trò duy trì nòi giống và tái tạo nguồn nhân lực, góp phần vào sự tồn tại và phát triển liên tục của xã hội. Nghiên cứu dưới góc độ y học, theo định nghĩa của Zegers-Hochschild và cộng sự (2017), mang thai (pregnancy) là trạng thái sinh sản bắt đầu từ khi phôi thai làm tổ trong tử cung của người phụ nữ và kết thúc khi tất cả các sản phẩm của quá trình làm tổ được hoàn toàn tống xuất và/hoặc lấy ra khỏi cơ thể7. Khái niệm này chỉ ra hai dấu mốc quan trọng trong quá trình mang thai đó là sự bắt đầu của thai kỳ được tính từ khi phôi thai làm tổ trong tử cung và kết thúc khi thai nhi và các mô liên quan được sinh ra hoặc được loại bỏ hoàn toàn khỏi tử cung. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ “sản phẩm của quá trình làm tổ” trong khái niệm này khá trừu tượng, có thể dẫn đến sự nhầm lẫn, khó hiểu.

Bên cạnh đó, một số nhà nghiên cứu cũng chấp nhận cách định nghĩa như sau: “Mang thai là thuật ngữ dùng để mô tả giai đoạn thai nhi phát triển bên trong tử cung của người phụ nữ”8. Với cách giải thích này, khái niệm mang thai dường như được tiếp cận dưới một góc độ đơn giản hơn. Tuy nhiên, các học giả lại chỉ mới đề cập đến khoảng thời gian bào thai phát triển trong tử cung mà không xác định rõ thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc và các quá trình sinh học cụ thể như sự làm tổ, sự phát triển của phôi thai bên trong tử cung hay sự tống - xuất các sản phẩm của thai kỳ. Tiếp thu những nghiên cứu trên, theo quan điểm của tác giả, dưới góc độ y học khái niệm “mang thai” có thể được có thể được hiểu như sau: Mang thai là quá trình sinh sản ở phụ nữ, bắt đầu từ khi phôi thai làm tổ trong tử cung, tiếp tục với sự phát triển của bào thai, và kết thúc khi tất cả các sản phẩm của thai kỳ, bao gồm thai nhi và các cấu trúc phụ trợ, được đẩy ra hoặc lấy ra khỏi cơ thể.

Việc xây dựng một khái niệm hoàn chỉnh về mang thai có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hiểu đúng và đưa ra định nghĩa chính xác về mang thai hộ (surrogacy). Ngày nay ở Việt Nam, rất nhiều người vẫn hiểu nhầm và đồng nhất khái niệm “mang thai hộ” với các tên gọi khác nhau như “đẻ thuê”, “đẻ mướn”,. Tuy nhiên, xét về mặt ngữ nghĩa, thuật ngữ “hộ” cần được hiểu theo hướng rằng mang thai trong trường hợp này là việc một người phụ nữ mang thai giúp cho người khác 7 Zegers-Hochschild, F.393 - 406, Available at: https://www.org/article/S0015-0282(17)30429-6/fulltext, Accessed: 02 January 2025. 8 Eunice Kennedy Shriver National Institute of Child Health and Human Development (no date), “Pregnancy”, U.

Department of Health and Human Services, Available at: https://www.gov/health/topics/factsheets/pregnancy, Accessed: 02 January 2025. 10 mà không phải mang thai con của chính mình. Cách hiểu này sẽ thống nhất với ý nghĩa của thuật ngữ “surrogatus” trong tiếng Latinh, có nghĩa là “người thay thế” - một cá nhân được chỉ định để thực hiện một công việc thay cho người khác 9. Hay theo Bách khoa toàn thư Britannica (Encyclopedia Britannica), mang thai hộ được định nghĩa là việc một phụ nữ mang thai một đứa trẻ cho một cặp đôi không thể có con theo cách thông thường10.

Tương tự, tại Báo cáo của Warnock về thụ tinh và phôi học ở người (1984) HF&E cũng mô tả mang thai hộ là việc một phụ nữ mang thai một đứa trẻ cho người khác, với ý định sẽ trao lại đứa trẻ sau khi sinh11. Nhìn chung, cả hai định nghĩa đều nhấn mạnh vai trò của người phụ nữ mang thai thay cho người khác và việc chuyển giao đứa trẻ sau khi sinh. Điều này cho thấy giữa người mang thai và thai nhi không tồn tại mối liên hệ về mặt huyết thống hay nói cách khác việc mang thai hộ không đồng nghĩa với các trường hợp “đẻ thuê”, “đẻ mướn”,. dù theo bất kỳ cách thức nào.

Về mặt bản chất, mang thai hộ chính là quá trình thực hiện các kỹ thuật y tế với những phương pháp y học hiện đại nhằm can thiệp vào việc mang thai tự nhiên của con người, khi mà việc tự mình mang thai bị hạn chế bởi những nguyên nhân khác nhau và thường xuất phát từ tình trạng y khoa của người phụ nữ không thể mang thai hoặc rất nguy hiểm khi mang thai. Các tình trạng đó bao gồm: (1) người phụ nữ không có tử cung hoặc tử cung dị dạng, (2) các bệnh lý tại tử cung đã điều trị bằng các phương pháp hỗ trợ sinh sản khác nhưng thất bại, (3) bệnh lý nội khoa nặng không thể mang thai, (4) TTTON thất bại nhiều lần, (5) tiền sử thai nghén nặng nề12. Ngoài ra, một số nghiên cứu cho thấy hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại một số chỉ định mang thai hộ còn gây tranh cãi, trong số đó có thể kể đến chỉ định cho trường hợp người cha đơn thân hoặc cặp đôi đồng tính nam như tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Ở quốc gia này cho phép các cặp đôi đồng tính có thể lựa chọn phương pháp mang thai hộ 9 Surrogacy in Latin, Available at: http://en.org/wiki/surrogatus, Accessed: 06 January 2025.

10 Surrogacy in New Encyclopedia, Britannica, Available at: http://www.com/EBchecked/topic/575390/surrogate-motherhood, Accessed: 06 January 2025. London: Command of Her Majesty (1984), Report of the committee of inquiry into human fertilisation and embryology, p. 42, Available at: https://wellcomecollection.org/works/pxgeeqnf, Accessed: 06 January 2025. 12 Hoàng Đình Chính, Luận văn thạc sĩ y học, Đánh giá bước đầu kết quả thụ tinh trong ống nghiệm - mang thai hộ tại Trung tâm hỗ trợ sinh sản quốc gia, Trường Đại học Y Hà Nội, Hà Nội, 2016.

11 như một con đường để trở thành cha, mẹ 13. Mặc dù quy định cụ thể giữa các bang có nhiều điểm khác nhau, nhưng nhìn chung sự chấp nhận này cũng phần nào phản ánh quan điểm tiến bộ về quyền của cộng đồng LGBT và đặc biệt là quyền được làm cha mẹ của họ. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận một cách khách quan, tác giả cho rằng chỉ định này liên quan đến rất nhiều khía cạnh pháp lý, đạo đức và xã hội, và có khả năng gây ra nhiều hệ luỵ lớn ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự xã hội như trường hợp của Ấn Độ, Thái Lan - các quốc gia từng là điểm đến lý tưởng để nhờ mang thai hộ14. Do đó, chỉ định này cần được xem xét một cách cẩn thận kỹ lưỡng để bảo vệ tối đa quyền con người và đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho trẻ em và sự ổn định của cấu trúc gia đình trong bối cảnh văn hóa Việt Nam.

Như vậy, từ sự phân tích trên có thể xác định rằng: Mang thai hộ là việc áp dụng biện pháp kỹ thuật lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng trong cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ để TTTON tạo thành phôi sau đó cấy vào tử cung của phụ nữ mang thai hộ để người này mang thai và sinh con. Quá trình này có thể tóm tắt dưới dạng sơ đồ sau: Nguồn: Đơn vị hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức - IVFMD15 13 Blake, L. 860 – 867, Available at: https://pmc.gov/articles/PMC5400050/, Accessed: 06 January 2025. 14 Nguyễn Thị Lê Huyền, Vũ Thị Hương (2021), Quan điểm lập pháp về mang thai hộ của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam trong hoàn thiện pháp luật về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, Tạp chí Khoa học Đại học Huế: Khoa học Xã hội và Nhân văn, Tập 130, Số 3E, tr.

191, tại địa chỉ: https://jos.php/hujos-ssh/article/view/6070/1411. 15 Quan Huynh, “Những điều cần biết về mang thai hộ”, Đơn vị hỗ trợ sinh sản Mỹ Đức - IVFMD tại địa chỉ: https://ivfmd.vn/nhung-dieu-can-biet-ve-mang-thai-ho/, truy cập ngày 18/01/2025.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ