Khóa luận tốt nghiệp Luật: biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu

Khóa luận biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của ngân hàng thương mại trong pháp luật phục vụ n

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Luật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

77
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và ý nghĩa của biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ

Biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ (QSHTT) là một cơ chế pháp lý hiện đại giúp các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn từ ngân hàng thương mại. Trong nền kinh tế tri thức, tài sản trí tuệ đã trở thành một đối tượng bảo đảm tiềm năng với giá trị kinh tế cao. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại thường gặp khó khăn khi tài sản bảo đảm truyền thống bị hạn chế. Biện pháp bảo đảm bằng QSHTT mở ra cơ hội mới cho các doanh nghiệp sở hữu quyền sở hữu trí tuệ như bằng phát minh, thương hiệu, bản quyền và thiết kế công nghiệp. Điều này có ý nghĩa đặc biệt trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và hỗ trợ các chủ thể kinh tế sáng tạo.

1.1. Định nghĩa quyền sở hữu trí tuệ

Quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền đối với sáng chế, thiết kế công nghiệp, nhãn hiệu thương mại, bản quyền và các quyền liên quan. Đây là tài sản trí tuệ được bảo vệ bởi pháp luật quốc tếpháp luật Việt Nam. Các quyền năng của chủ sở hữu QSHTT bao gồm quyền sử dụng, quyền chuyển nhượng và quyền được bồi thường khi bị xâm phạm.

1.2. Vai trò trong hoạt động cho vay ngân hàng

Trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, biện pháp bảo đảm bằng QSHTT giúp giảm rủi ro tín dụng và tăng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp. Tài sản bảo đảm là QSHTT cung cấp nguồn bù đắp khi người vay không thể hoàn trả khoản nợ. Điều này khuyến khích các ngân hàng thương mại mở rộng hoạt động cho vay cho các doanh nghiệp sáng tạo.

II. Các loại biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ

Trong pháp luật Việt Nam, có nhiều biện pháp bảo đảm khác nhau được áp dụng cho tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ. Chủ yếu là thế chấp tài sảnđăng ký giao dịch bảo đảm. Thế chấp QSHTT cho phép người vay tạm thời chuyển quyền sử dụng sang cho chủ nợ khi không hoàn trả nợ. Đăng ký giao dịch bảo đảm tạo ra quyền ưu tiên giúp ngân hàng được thanh toán trước các chủ nợ khác. Các điều kiện để QSHTT trở thành tài sản bảo đảm bao gồm phải có giá trị kinh tế, được đánh giá chính xác và có tính thanh khoản. Thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng QSHTT là bước quan trọng để bảo vệ quyền ưu tiên của ngân hàng.

2.1. Thế chấp quyền sở hữu trí tuệ

Thế chấp QSHTT là một biện pháp bảo đảm phổ biến trong hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại. Khi áp dụng, người vay giữ nguyên quyền sở hữu nhưng chủ nợ có quyền ưu tiên xử lý tài sản khi nợ không được trả. Điều này đòi hỏi đăng ký giao dịch bảo đảm để công khai và bảo vệ quyền ưu tiên của ngân hàng.

2.2. Đăng ký giao dịch bảo đảm và quyền ưu tiên

Đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng QSHTT là yêu cầu pháp lý để tạo lập quyền ưu tiên. Quá trình đăng ký phải tuân thủ pháp luật về giao dịch bảo đảm, bao gồm xác định rõ tài sản QSHTT, giá trị và các bên liên quan. Quyền ưu tiên được công khai giúp các chủ nợ khác biết và không can thiệp vào quyền ưu tiên của ngân hàng chính.

III. Cơ sở pháp lý và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam đã tạo lập nền tảng pháp lý cho biện pháp bảo đảm tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ. Bộ luật dân sự (BLDS) quy định về tài sản bảo đảmthế chấp tài sản, trong đó QSHTT được công nhận là tài sản bảo đảm tiềm năng. Luật sở hữu trí tuệ cung cấp khung pháp lý chi tiết về các loại quyền sở hữu trí tuệ như bằng phát minh, thương hiệu và bản quyền. Pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định các yêu cầu đăng ký giao dịch bảo đảm để tạo quyền ưu tiên. Một số vụ việc như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho vay có bảo đảm bằng biện pháp chấp quyền đối với tác phẩm điện ảnh đã chứng minh tính khả thi của mô hình này trong thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại.

3.1. Các quy định pháp luật hiện hành

Pháp luật Việt Nam về biện pháp bảo đảm bao gồm BLDS, Luật sở hữu trí tuệ và các quy định pháp lý về giao dịch bảo đảm. QSHTT được công nhận là tài sản bảo đảm hợp pháp, tuy nhiên vẫn cần hoàn thiện để tài sản bảo đảm này được áp dụng rộng rãi. Các điều kiện để QSHTT có thể sử dụng làm tài sản bảo đảm đã được quy định rõ ràng.

3.2. Các vụ việc thực tiễn và kinh nghiệm

BIDV và Agribank đã tiên phong áp dụng biện pháp bảo đảm bằng QSHTT. BIDV cho vay có bảo đảm bằng biện pháp chấp quyền đối với tác phẩm điện ảnh là một ví dụ thành công. Agribank cho vay có bảo đảm bằng quyền sử dụng thương hiệu chứng tỏ tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ khả thi trong thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại.

IV. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về biện pháp bảo đảm tín dụng bằng QSHTT

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã tạo cơ sở pháp lý, nhưng vẫn tồn tại nhiều khoảng trống cần hoàn thiện. Cần hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm và luật sở hữu trí tuệ để đáp ứng yêu cầu thực tiễn hoạt động của ngân hàng thương mại. Về phía nhà nước, cần xây dựng cơ chế thanh khoản rõ ràng cho tài sản bảo đảm QSHTT và tạo điều kiện thuận lợi cho đăng ký giao dịch bảo đảm. Về phía ngân hàng, cần nâng cao năng lực đánh giá giá trị quyền sở hữu trí tuệ và quản lý rủi ro. Về phía doanh nghiệp, cần tăng độ nhận biết và sử dụng QSHTT làm tài sản bảo đảm. Những cải tiến này sẽ tạo thuận lợi cho tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ phát triển bền vững.

4.1. Đề xuất của nhà nước

Nhà nước cần ban hành các quy định pháp lý chi tiết để quy định rõ ràng về thế chấp QSHTT, quá trình đăng ký giao dịch bảo đảm và các thủ tục xử lý tài sản bảo đảm. Cần thiết lập cơ sở dữ liệu tập trung về QSHTT đã được đăng ký giao dịch bảo đảm để tạo tính minh bạch. Hỗ trợ hoàn thiện pháp luật giao dịch bảo đảm phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.

4.2. Đề xuất của ngân hàng và doanh nghiệp

Ngân hàng thương mại cần đầu tư vào nhân lực chuyên môn để đánh giá tài sản bảo đảm là QSHTT và quản lý rủi ro hiệu quả. Doanh nghiệp cần nâng cao nhận thức về giá trị của quyền sở hữu trí tuệ và sẵn sàng sử dụng QSHTT như biện pháp bảo đảm cho hoạt động cho vay. Tăng cường hợp tác giữa ngân hàngdoanh nghiệp để phát triển tín dụng bằng quyền sở hữu trí tuệ.

22/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM TÍN DỤNG BẰNG QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại 1. Khái niệm ngân hàng thương mại Với nhu cầu của đời sống, sản xuất, kinh doanh, các hoạt động của một số thương gia như đổi tiền, giữ tiền hộ và thu tiền hộ,… qua thời gian và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đã phát triển thành các nghiệp vụ ngân hàng như hiện nay và được các NHTM thực hiện.

Mặc dù đã hình thành từ lâu đời, song giữa các nhà nghiên cứu, các tổ chức liên quan đến lĩnh vực ngân hàng chưa có sự thống nhất về khái niệm ngân hàng thương mại. Có nhiều định nghĩa khác nhau về ngân hàng thương mại được đưa ra tùy thuộc vào cách thức tiếp cận, điều kiện kinh tế của từng quốc gia, các nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện,… Có thể đề cập đến một số khái niệm về NHTM theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới như sau: Theo pháp luật của nước Pháp, “NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Theo pháp luật Mỹ, NHTM được định nghĩa là “loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất, đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và thanh toán. và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế” Như vậy có thể hiểu NHTM là một tổ chức kinh tế, chuyên thực hiện hoạt động kinh doanh tiền tệ bằng cách cung cấp các dịch vụ về tài chính cho khách hàng là tổ chức, cá nhân như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán và các dịch vụ tài chính khác.

Trong đó nguồn tiền để thực hiện việc cung cấp các dịch vụ này đến từ sự luân chuyển nguồn tiền của khách hàng gửi tiền. Cụ thể: nguồn tiền có được từ hoạt động nhận tiền gửi sẽ trở thành nguồn vốn của hoạt động cho vay, thanh toán và các hoạt động khác. Ngược lại, khoản lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ các hoạt động trên sẽ được dùng một phần để chi trả tiền lãi cho người gửi tiền. Sự phát triển của kinh tế, xã hội và đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển, các hoạt động của ngân hàng thương mại ngày càng phong phú, đa dạng.

Ngoài các hoạt động ngân hàng truyền thống như nhận tiền gửi, cho vay thì các hoạt động ngân hàng mới được ra đời, áp dụng ngày càng phổ biến như thư tín dụng (L/C), chiết khấu, bảo lãnh, bao thanh toán,… Các hoạt động ngân hàng vừa là động lực thúc đẩy ngân hàng phát triển, đồng thời là mục tiêu mà các ngân hàng hướng đến vì mục tiêu lợi nhuận và lợi ích khách hàng. Trong đó, hoạt động cấp tín dụng mà cụ thể là hoạt động cho vay có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của ngân hàng. Hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Trong số các nghiệp vụ cấp tín dụng của NHTM, cho vay là nghiệp vụ cấp tín dụng truyền thống, có ý nghĩa sống còn đối với các NHTM và được các NHTM hết sức chú trọng. Cho vay là hình thức cấp tín dụng theo đó NHTM giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi.

Xét về bản chất pháp lý, hoạt động cho vay là một hợp đồng, hay hợp đồng tín dụng. Hợp đồng tín dụng là sự thỏa thuận và thống nhất ý chí giữa bên vay và bên cho vay đối với một khoản tiền vay nhất định, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Hợp đồng tín dụng giữa NHTM và khách hàng mang bản chất là hợp đồng vay tài sản theo pháp luật dân sự, tuy nhiên hợp đồng tín dụng mang những đặc thù về chủ thể tham gia, đối tượng của hợp đồng và nguyên tắc hoàn trả: - Chủ thể: Trong hợp đồng vay tài sản, chủ thể của hợp đồng - bên vay và bên cho vay, là cá nhân, pháp nhân bất kỳ đáp ứng đủ năng lực chủ thể và điều kiện cho vay, trong đó một bên chủ thể có (có quyền sở hữu hoặc được trao quyền cho vay đối với tài sản) tài sản và một bên chủ thể có nhu cầu vay tài sản. Còn trong hợp đồng tín dụng, một bên chủ thể tham gia quan hệ, với vai trò là bên cho vay bắt buộc là NHTM được nhà nước cho phép thực hiện nghiệp vụ cho vay.

Bên vay có thể là cá nhân, pháp nhân đáp ứng được các điều kiện cho vay như: mục đích sử dụng tiền vay, tính khả thi và hiệu quả của dự án, năng lực tài chính của bên vay tiền,… - Đối tượng: Đối tượng của hợp đồng vay tài sản là các loại tài sản theo quy định của luật. Còn đối tượng của hợp đồng tín dụng là một loại tài sản đặc biệt - tiền tệ. - Nguyên tắc hoàn trả: Nếu như trong hợp đồng vay tài sản, ngoài việc trả lại tài sản theo đúng số lượng, chất lượng thì việc trả lãi là do các bên thỏa thuận, không mang tính bắt bắt buộc thì trong hợp đồng tín dụng sẽ đặt ra yêu cầu trả đầy đủ gốc và lãi. Cho vay là một hoạt động kinh doanh tiền tệ có tính rủi ro cao.

Tính rủi ro này do nhiều yếu tố tạo nên, trong đó tiền tệ - đối tượng của hợp đồng tín dụng, là một yếu tố then chốt tạo ra tính chất rủi ro. Nguồn tiền mà NHTM sử dụng để cho khách hàng vay có nguồn gốc là tiền có được từ hoạt động huy động vốn của khách hàng. Nên trong trường hợp bên vay không không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đầy đủ, đúng hạn theo thỏa thuận thì NHTM có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán, mất khả năng chi trả. Đây là tình trạng rất nguy hiểm đối với một một NHTM nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung.

Bởi khi đó NHTM phải đứng trước nguy cơ phá sản. Việc phá sản ngân hàng gây ra những tác động tiêu cực đến nhiều đối tượng, đó là quyền lợi của người gửi tiền, sự an toàn của toàn bộ hệ thống ngân hàng và sự phát triển ổn định của cả nền kinh tế. Để phòng ngừa, giảm thiểu những rủi ro này, nhà nước và các ngân hàng thương mại đã áp dụng nhiều biện pháp hạn chế rủi ro khác nhau như: Các quy định nhà nước về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động ngân hàng (hệ số an toàn vốn tối thiểu– CAR, giới hạn tín dụng, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, kinh doanh bất động sản và chứng khoả; tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động; trích lập dự phòng rủi ro,… ) và biện pháp hạn chế rủi ro do tổ chức tín dụng và khách hàng tự thỏa thuận, trong đó có biện pháp bảo đảm tiền vay. Biện pháp bảo đảm tiền vay bằng QSHTT trong hoạt động cho vay trong ngân hàng thương mại 1.

QSHTT - Đối tượng của biện pháp bảo đảm tiền vay 1. Khái niệm QSHTT Hiện nay không có một khái niệm thống nhất về QSHTT, mà tùy theo cách tiếp cận khác nhau về QSHTT sẽ có khái niệm khác nhau. Cụ thể: Theo tổ chức SHTT thế giới, là một tổ chức quốc tế có mục đích hỗ trợ nhằm đảm bảo quyền của người phát minh và chủ sở hữu TSTT được bảo hộ trên toàn thế giới, thúc đẩy sở hữu trí tuệ và pháp luật về sở hữu trí tuệ phát triển, thì “QSHTT bao gồm các quyền liên quan tới các tác phẩm khoa học, nghệ thuật và văn học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ, các bản ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người; các phát minh khoa học; các kiểu dáng công nghiệp; các nhãn hiệu hàng hóa, nhãn hiệu dịch vụ, các chỉ dẫn và tên thương mại; bảo hộ chống cạnh tranh không lành mạnh và tất cả các quyền khác là kết quả của hoạt động trí tuệ trong lĩnh vực công nghiệp, khoa học, văn học hoặc nghệ thuật”. Theo Hiệp định các khía cạnh thương mại liên quan đến sở hữu trí tuệ (TRIPs), tiếp cận QSHTT dưới góc độ kinh tế, thương mại thì QSHTT là quyền được trao cho người tạo ra thành quả sáng tạo bởi trí tuệ của họ, QSHTT trao cho người sáng tạo một độc quyền trong việc sử dụng sáng tạo của họ trong một khoảng thời gian nhất định.

QSHTT bao gồm 2 mảng chính là quyền tác giả và quyền liên quan; sở hữu công nghiệp. Như vậy, có thể hiểu QSHTT là các quyền của chủ thể đối với tài sản vô hình là thành quả của sự lao động trí óc, được nhà nước thừa nhận. Đối tượng của QSHTT là TSTT. TSTT được đề cập đến là sự sáng tạo của trí tuệ như: tác phẩm văn học, nghệ thuật, sáng chế, thiết kế công nghiệp, tên gọi, biểu tượng và hình ảnh được sử dụng trong thương mại,… và được chia làm ba nhóm: - Sở hữu công nghiệp bao gồm bằng độc quyền sáng chế, tên thương mại, thiết kế công nghiệp, chỉ dẫn địa lý,… - Quyền tác giả (bản quyền) bao gồm các tác phẩm văn học (như tiểu thuyết, thơ, kịch), tác phẩm điện ảnh, tác phẩm âm nhạc, tác phẩm nghệ thuật (tranh, ảnh và các tác phẩm điêu khắc) và thiết kế kiến trúc.

Quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm các tác phẩm của nghệ sỹ biểu diễn (cuộc biểu diễn), bản ghi âm, ghi hình. - Quyền đối với giống cây trồng. QSHTT được chia làm hai nhóm quyền: quyền nhân thân và quyền tài sản. Quyền nhân thân là những quyền thuộc về riêng cá nhân tác giả (người trực tiếp sáng tạo ra TSTT), không thể chuyển giao cho bất kì ai dưới bất kì hình thức nào, ngay cả trong trường hợp tác giả không còn.

Quyền tài sản là quyền được hưởng những lợi ích vật chất phát sinh từ TSTT. Tùy thuộc vào pháp luật của từng quốc gia và từng đối tượng của QSHTT, quyền nhân thân và quyền tài sản được pháp luật ghi nhận khác nhau. Đặc điểm - Tính vô hình: QSHTT là quyền của chủ thể đối với TSTT, là một tài sản vô hình, không thể nhận thức được thông qua các giác quan mà chỉ nhận thức được bằng lý trí.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ