Chương 1, CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Lịch sử nghiên cứu Nghiên cứu về khả năng đáp ứng trước các khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của học sinh đã được một số nhà tâm lý học và giáo dục học trong và ngoài nước quan tâm. Dưới đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu về vấn để này: 1.1 Trên thế giới Khái niệm “ứng phó tâm lý” đến năm 1967 mới được thừa nhận. Tuy nhiên, những nghiên cứu về cơ chế tự vệ của S. Freud vào năm 1933 được xem là nghiên cứu đầu tiên vé sự đáp ứng và những cách thức cá nhân sử dụng để vượt qua những khó khăn.
Theo Freud, trong cấu trúc 3 thành phan của nhân cách, cái tôi giữ vai trò trung gian, vừa đáp ứng những đòi hỏi của cái ấy, vừa thỏa mãn những yêu cầu khất khe của cái siêu tôi. Nếu cái tôi không thể dung hòa giữa cái ấy và cái siêu tôi, trong con người sẽ xuất hiện cơ chế tự vệ bao gồm Phi nhận, Thay thé, Huyễn tưởng, Đồng nhất hóa, Phóng chiếu, Hop lý hóa, Di chuyển, Thoái lui, Dần nén và Thăng hoa".254| Vào đầu thập niên 1970, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy một cách tiếp cận mới hơn để đo lường và đánh giá sự ứng phó. Điều này được tóm tất trong công trình của Folkman và Lazarus. Họ đã xác định 8 cách ứng phó gồm đối điện với vấn để, cố thoát khỏi tình huống khó khăn, tìm kiếm sự hỗ trợ xã hội, gánh vác trách nhiệm, né tránh thực tai, lập kế hoạch giải quyết vấn dé và nhìn thấy điều thuận lợi.
Ho tin rằng những cách này phản ánh hai kiểu cơ bản của sự ứng phó: đó là tập trung vào vấn để và tập trung vào cảm xúc. Lazarus và Folkman nhấn mạnh rằng những khía cạnh trong hành vi ứng phó của cá nhân thay đổi phụ thuộc vào tình huống hay mức độ hỗ trợ xã hội mà cá nhân nhận được. Một trong những công cụ đo lường được phát triển bởi quan điểm mới là CISS (Coping with stressful situations). Công cụ này cố gắng đưa ra những dấu hiệu của các chiến lược ứng phó mà con người có thể sử dụng trong tình huống khó khăn.
Những chiến lược ứng phó mà công cụ này đưa ra bao gồm chiến lược định hướng vào nhiệm vụ (task-oriented), trong đó người ta hướng đến việc đương đầu với những vấn để kế tiếp sẽ diễn ra; chiến lược định hướng vào cảm Xúc (emotion- oriented), chiến lược né tránh thực tại (chiến lược này được chia làm hai loại: Tìm kiếm sự hỗ trợ về mặt xã hội và tim kiếm sự giải tỏa tâm trí [31]. Bolognini Monique, Plancherel Bernard; Halfon Olivier với bài nghiên cứu “Đánh giá các chiến lược ứng phó của thanh thiếu niên: có sự khác nhau theo tuổi và theo giới tính hay khéng?”, đã tìm hiểu các chiến lược ứng phó đặc trưng theo giới, mối tương quan giữa việc chọn lựa cách ứng phó với sức khỏe tâm trí theo giới tính và độ tuổi. Các tác giả đã đưa ra những chiến lược ứng phó như sử dụng quan hệ xã hội, gia đình, tình cảm âm tính, sự giải trí, hài hước, cam kết, tiêu xài, gia đình, nhà trường. Các kết quả khẳng định nữ thanh thiếu niên tự điều chỉnh tùy theo khó khăn bằng cách tham gia nhiều hơn vào các quan hệ xã hội (bạn bè, anh chị em, bố mẹ và các người lớn khác).
Cụ thể, bài nghiên cứu đã cho thấy rằng con gái đầu tư nhiều hơn vào thế giới tương tác nhằm thể hiện tình cảm một cách cởi mở và nhằm nhận được sự nâng đã, các lời khuyên và những điều an ủi từ một người tâm tình (bạn bè, gia đình). Trong khi đó các nam thanh thiểu niên cố gắng nhiều hơn trong việc giữý nghĩa của sự hài hước và tiến hành một hoạt động thể lực mãnh liệt. Con trai ít cdi mở và ít phụ thuộc vào người khác hơn so với con gái, nhưng lại có xu hướng làm cho tình huống bớt khủng hoảng và tỏ ra lạc quan, tìm kiếm sự giải tod trong các trò chơi và hoạt động thể lực. Về mối quan hệ giữa sức khỏe tâm trí và chiến lược ứng phó, ta thấy các kết quả tổ ra khác biệt giữa con gái và con trai.
Ở con gái, trong số các chiến lược có tương quan cao nhất, đó là sự thể hiện các tình cảm âm tính phối hợp với một xác suất cao nhất bị rối nhiễu tâm trí như khí sắc trầm nhược, lo âu và rối nhiễu giấc ngủ. Ở con trai, chỉ có tướng quan về mắt lo âu. [19] Camus Jean trong bài nghiên cứu về “Sy bố trí thời gian và các khó khăn học đường. Phản ứng tức thời và trì hoãn” đã đối chiếu tốc độ và cách thức đáp ứng tâm lý của trẻ thuộc nhóm SES (những em học sinh lớp đặc biệt, các em nay được gọi là những “học sinh không thích nghi”, “cham chap” trong học tập) và trẻ thuộc nhóm CES (nhóm học sinh cấp 2 bình thường).
Kết quả cho thấy, trẻ trai thuộc nhóm SES khi gặp khó khăn sẽ hành động chớp nhoáng, không cẩn đánh giá, chúng xem những hành động bột phát như thế như là một "tấm áo giáp" chống lại sự lo hãi về thất bại liên tiếp tấn công. Trẻ nữ trong nhóm này có xu hướng trì hoãn thời gian thực hiện công việc. các em loay hoay tìm kiếm giải pháp phù hợp, cảm thấy thất vọng, luôn phan nàn và yêu cầu được giúp đỡ hơn nhóm trẻ nữ CES. [11] Như vậy, trên thế giới, từ thập niên 70 của thế kỷ 20 đã có một số tác giả nghiên cứu về vấn để đáp ứng tâm lý trước những khó khăn trong cuộc sống.
Nhìn chung, các kết luận đều cho rằng, khi gặp khó khăn, tùy thuộc vào khả năng, vào đặc điểm nhân cách mà mỗi người sẽ có cách đáp ứng khác nhau. Tuy nhiên, có ba đáp ứng chính là đáp ứng định hướng vào cảm xúc, đáp ứng định hưởng vào giải quyết vấn để và đáp ứng hướng đến việc nề tránh thực tại. 112 GO Viet Nam Nghiên cứu về sự đáp ứng hay ứng phó của thanh thiếu niên trong hoàn cảnh khó khăn là một vấn để bỏ ngỏ tại Việt Nam. Trong những năm gan đây, cùng với sự hội nhập với thế giới, các giá trị sống của giới trẻ thay đổi dan, người thanh nién bước vào cuộc sống, cảm thấy hoang mang vì chưa được trang bị khả năng ứng phó với những biến động.
Trước thực trạng trên, một số nhà tâm lý, bác sĩ đã bất tay vào nghiên cứu khả năng đáp ứng trước những khó khăn của giới trẻ (đặc biệt là thanh thiếu niên) Trong các công trình nghiên cứu của mình, TS. Phan Thị Mai Hương đưa ra một số chiến lược ứng phó như lý giải hoàn cảnh một cách tích cực, tìm kiếm chỗ dựa tình cảm, kiểm chế bản thân, lên kế hoạch, ứng phó chủ động thay thé bằng những hành vi tiêu cực. Với công cụ nghiên cứu này, T.S Hương đã tìm hiểu về "mối tương quan giữa cách ứng phó của trẻ vị thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với các nhân tố xã hội” và "mối tương quan giữa cách ứng phó của trẻ vị thành niên trong hoàn cảnh khó khăn với các nhân tổ nhãn cách”. Kết quả của các nghiên cứu trên khẳng định, một số nhân tổ xã hội như mức độ trải nghiệm các sự kiện của cuộc đời, chỗ dựa xã hội từ các mối quan hệ với cha mẹ, thầy cô và bạn bè, thành tích học tập đạt được qua các năm học (số năm xếp loại học sinh giỏi, tiên tiến, trung bình, yếu kém), những thành tích nổi bật trong hoạt động ở nhà trường (bao gồm các giải thưởng cấp quận, thành phố, quốc gia về tất cả các mặt hoạt động: thi học sinh giỏi, thi đua về văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, phong trào Đoàn, đội.) và vị thế kinh tế-xã hội của gia đình (bao gồm trình độ học vấn.
loại nghề nghiệp và chức vụ của cha mẹ, mức sống của gia đình) có ảnh hưởng lớn đến khả nang đáp ứng trước khó khăn của học sinh. Bài nghiên cứu cho thấy trẻ vị thành niên có chỗ dựa xã hội vững chắc về tinh thần: có nơi để chia sẻ, nhận được sự cảm thông, an ủi cũng như giúp đỡ, có sự quan tâm và hiểu biết lẫn nhau. và cùng có định hướng tốt đẹp, đồng thời ít trải qua những sự kiện âm tính trong cuộc sống thì thường có những cách ứng phó tích cực trước hoàn cảnh khó khăn và ngược lại.{ I0] Bên cạnh đó, nhà nghiên cứu đã chỉ ra các nhân tố nhân cách như sự tự chủ, tính tư tin (bao gồm tự tin nhận thức, tự tin bản thân, tự tin xã hội). tỉnh thần trách nhiệm, sự đồng cảm và tính lạc quan-bi quan của nhân cách,.
đã ảnh hưởng như thế nào đến việc chọn lựa cách đáp ứng trước khó khăn của trẻ. Bài nghiên cứu đã cho thấy, những cách ứng phó tích cực thường có ở những em có khả năng đồng cảm cao với người khác, có cách nhìn lạc quan vào cuộc sống, vào tương lai, và tự tin về khả năng nhận thức của mình.|9] Trong nghiên cứu về Một số khó khăn trong học tập của trẻ vị thành niên và cách ứng phó của các em, tác giả Lưu Song Hà đã tập trung tìm hiểu những biến đổi về tâm sinh lý, môi trường học tập từ tiểu học lên trung học cơ sở đã tạo ra những khó khăn tâm lý đặc trưng nào và liệt kê những kiểu ứng phó trẻ vị thành niên sử dụng khi gặp khó khăn trong học tập. Kết quả 10 nghiên cứu khẳng định, khi gặp khó khăn, trẻ vị thành niên thường sử dụng trước hết là những chiến lược ứng phó bằng hành động, tiếp đến là ứng phó về tình cảm và cuối cùng là suy nghĩ.|6| Một số nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu các biểu hiện và một số nguyên nhân tạo nên khó khăn tâm lý trong học tập ở học sinh sinh viên. Trong nghiên cứu về Khó khăn tâm lý trong hoạt động học tập của sinh viên năm thứ nhất đại học Su phạm Hà Nội, tác giả Nguyễn Xuân Thức đã tìm hiểu các biểu hiện của khó khăn tâm lý, nguyên nhân và những ảnh hửơng của chúng đến nhân cách của người sinh viên [25].