Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề Chương 2: Cơ sở lý luận về khía cạnh tâm lý của xung đột văn hóa ở thanh niên Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về khía cạnh tâm lý của xung đột văn hóa ở thanh niên 8 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Nghiên cứu về xung đột văn hóa 1. Nghiên cứu xung đột văn hóa từ góc độ triết học, văn hóa học và xã hội học Các nhà văn hóa học cho rằng văn hóa là nền tảng của mọi hoạt động xã hội, bất kể đó là hoạt động xã hội bên trong một quốc gia, một dân tộc hay giữa các quốc gia, các dân tộc với nhau. Quan hệ giữa các quốc gia, các dân tộc phản ánh những cam kết về văn hóa của các quốc gia, dân tộc đó, cũng như phản ánh sự đối kháng về văn hóa với các nước khác [9].
Do đó, xung đột giữa các quốc gia, dù là xung đột về chính trị hay tôn giáo, về bản chất cũng đều có thể được quy về xung đột văn hóa. Alvin Toffer – nhà tương lai học nổi tiếng – đã nói tới sự xung đột văn hóa và vai trò của nó đối với sự phát triển của nhân loại. Ông ví những nền văn hóa như những đợt sóng đại dương, các đợt sóng tạo ra một đại dương gầm thét, đầy những luồng nước dữ dội và va chạm nhau, những cơn lốc, những dòng xoáy che giấu những dòng lịch sử sâu hơn, quan trọng hơn. Sự xung đột giữa các nền văn hóa tạo ra “cú sốc văn hóa”, hay cũng chính là xung đột văn hoá [47].
Theo Phạm Thái Việt, xung đột văn hoá giữa các quốc gia hay giữa các nhóm xã hội nảy sinh do sự khác biệt văn hoá giữa các quốc gia hay các nhóm xã hội này [54]. Mỗi nền văn hoá của một quốc gia, hay mỗi hệ quy tắc văn hoá của một nhóm xã hội đều có những đặc trưng riêng; sự mâu thuẫn giữa các nền văn hoá và các hệ quy tắc văn hoá này sẽ tạo nên xung đột văn hoá. Xung đột văn hóa giữa các nhóm xã hội thường được biểu hiện dưới dạng xung đột giữa văn hóa của nhóm đa số và văn hoá của nhóm thiểu số, hay còn gọi là tiểu văn hóa. Tiểu văn hóa là những hệ thống biểu đạt ý nghĩa, những hình thức thể hiện hay phong cách sống do các nhóm yếu thế trong xã hội tạo nên để đối phó với những hệ thống chiếm vai trò chủ đạo trong xã hội [48].
Ở Việt Nam, chúng ta thường thấy xung đột văn hoá giữa văn hoá đa số với các tiểu văn hoá như văn hoá hip hop, văn hoá người đồng tính, văn hoá thanh niên, v. Trong nhiều trường hợp, sự mâu thuẫn về giá trị văn hóa – tiền đề quan trọng của xung đột văn hóa – nảy sinh không phải do sự khác nhau trong hệ tư tưởng của 9 các nhóm xã hội mà do sự tồn tại tự thân của các tư tưởng này trong đời sống xã hội. Nhiều tư tưởng tự thân chúng có đời sống riêng, tồn tại không phụ thuộc vào nhóm xã hội nào, mà được truyền bá từ thế hệ này qua thế hệ khác, từ nhóm này qua nhóm khác. Ví dụ, tư tưởng vô thần tồn tại đối lập với tư tưởng sùng bái tôn giáo, và hai luồng tư tưởng này tồn tại không phụ thuộc vào nhóm xã hội cụ thể nào.
Tư tưởng sùng bái tôn giáo tồn tại ở nhiều nhóm người theo đạo, như nhóm Công giáo, nhóm Tin lành, nhóm Phật giáo, v.; còn tư tưởng vô thần tồn tại ở cả nhóm trí thức cao và nhóm thường dân. Sự xung đột giữa hai luồng tư tưởng này không phải là sự xung đột giữa các nhóm văn hoá – xã hội mà là sự mâu thuẫn giữa các giá trị văn hoá. Thuật ngữ chiến tranh văn hóa được các nhà văn hóa học – xã hội học sử dụng để mô tả quá trình phân cực thái độ của xã hội dân sự trước những vấn đề chính trị và đạo đức [54]. Xung đột tư tưởng văn hoá nhiều khi có những tác động nghiêm trọng đến đời sống văn hoá – xã hội không kém gì xung đột giữa các nhóm văn hoá.
James Davison Hunter, trong cuốn sách Cultural wars: The struggle to define America, đã khẳng định: Nước Mỹ đang rơi vào một cuộc chiến tranh văn hóa mà ở đó, xã hội phân chia thành nhiều luồng dư luận trong các vấn đề như tôn giáo, nạo phá thai hay đồng tính [81]. Những xung đột văn hóa này khiến cho việc định nghĩa những gì đặc trưng cho nền văn hóa Mỹ trở nên khó khăn, và cuối cùng câu trả lời nằm trong tay của những kẻ có quyền (không chỉ quyền lực chính trị mà cả quyền lực đạo đức). Nói cách khác, việc song song tồn tại nhiều hệ giá trị văn hóa đối lập nhau đã dẫn tới mâu thuẫn xã hội trong việc xác định đặc điểm của văn hóa Mỹ nói chung và những vấn đề văn hóa cụ thể nói riêng. Cùng với hội nhập văn hóa, toàn cầu hóa và quá trình hậu hiện đại hóa, sự song song tồn tại của nhiều luồng tư tưởng văn hóa trong một xã hội hiện đại đang ngày càng trở nên phổ biến.
Trong bối cảnh đó, sự nảy sinh của xung đột văn hoá trở nên gần như tất yếu. Theo Dương Phú Hiệp, quá trình tiếp nhận văn hoá mới luôn đặt ra bài toán cân bằng giữa bảo lưu giá trị truyền thống và tiếp nhận giá trị mới [16]. Giải quyết được bài toán này là việc không hề dễ dàng, vì thế nên phép cân này thường tạo ra mâu thuẫn, xung đột trong từng cá nhân cũng như trong các nhóm xã hội. Dominique Wolton thì cho rằng sự xung đột giữa văn hóa ngoại lai và văn hóa truyền thống là kết quả tất yếu của quá trình toàn cầu hóa thông tin và truyền thông [dẫn theo 38].
Ông cảnh báo rằng sự xung đột này sẽ đặt con người trước nhiều thử thách, mà rõ rệt nhất là xung đột giá trị văn hóa 10 ở bản thân mỗi cá nhân. Đồng tình với quan điểm này, Đặng Cảnh Khanh cũng nhấn mạnh tính tất yếu của nó và ảnh hưởng của toàn cầu hóa đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi tầng lớp của xã hội, đến xung đột giữa các nền văn hóa trong đời sống xã hội [27]. Một khi tính tất yếu của xung đột văn hoá đã được khẳng định, những nghiên cứu về tác động của xung đột văn hoá tới đời sống xã hội và đời sống cá nhân nhanh chóng nở rộ trong những thập niên 80, 90 và sau đó. Các nghiên cứu này phản ánh những quan niệm rất khác nhau của tác giả của chúng về hệ quả của xung đột văn hoá: có nghiên cứu cho rằng xung đột văn hoá là tốt, là cần thiết; có nghiên cứu lại cảnh báo sự nguy hại của nó.
Mike Featherstone miêu tả tác động của hiện đại hóa và toàn cầu hóa tới văn hóa tiêu dùng của cá nhân, cộng đồng và xã hội, dẫn tới sự thay đổi trong tập quán tiêu dùng và làm lung lay những tập quán truyền thống [74]. Dương Phú Hiệp chỉ ra nguy cơ đánh mất bản sắc văn hoá khi tiếp thu các giá trị của nền văn hoá khác [16]. Tác giả này cho rằng, dù con người Việt Nam hiện đại có biến đổi như thế nào thì vẫn cần giữ bản sắc văn hoá và tâm hồn Việt. Tuy nhiên, đây là vấn đề không đơn giản, vì sự phát triển và bảo lưu các giá trị truyền thống không phải bao giờ cũng đồng hành cùng với sự tiếp nhận giá trị mới, mà nhiều khi mâu thuẫn, xung đột với nhau trong từng cá nhân và trong các nhóm xã hội.
Martin gọi xung đột văn hoá là sự xâm lấn của các giá trị văn hóa bên ngoài tới truyền thống của các dân tộc, ngầm cảnh báo về việc văn hóa truyền thống đang mất dần chỗ đứng trước văn hóa ngoại lai [89]. Đồng tình với quan điểm của Martin, Lương Văn Kế cho rằng mục đích của văn hoá phương Tây (cụ thể là văn hoá Tây Âu và Bắc Mỹ) khi truyền bá ra thế giới là nhằm nâng cao uy tín và vị thế của các nước phương Tây trên vũ đài chính trị quốc tế thông qua sức mạnh mềm [24]. Vì thế, ảnh hưởng của văn hoá phương Tây không chỉ dừng ở lĩnh vực văn hoá (phổ biến lối sống tự do, cá nhân) mà còn lấn sang lĩnh vực kinh tế, chính trị, tạo ra sự đối đầu ý thức hệ (đối đầu giữa các giá trị chính trị) cũng như sự phổ biến và chấp nhận kinh tế thị trường. Với Việt Nam, văn hoá phương Tây đã ảnh hưởng liên tục và toàn diện đến đời sống xã hội Việt Nam.
Các thành tựu hiện đại của xã hội Việt Nam dường như đều dựa trên sự tiếp thu và kế thừa các giá trị tinh hoa của văn hoá phương Tây. Tuy nhiên, bên cạnh những ảnh hưởng tích cực, văn hoá phương Tây cũng có những tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá Việt Nam do ảnh hưởng của những giá trị xa lạ với truyền thống của dân tộc. 11 Tuy nhiên, cũng có nhiều tác giả cho rằng hội nhập văn hoá là cần thiết, và xung đột văn hoá nếu có nảy sinh thì cũng là tiền đề của sự phát triển. Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng trong nền văn hoá hiện đại, quá trình tiếp nhận văn hoá mới (mà cụ thể là văn hoá phương Tây) đã chuyển từ thực trạng mang tính áp đặt, tính đồng hóa cưỡng bức của phương tiện vật chất, kỹ thuật, kinh tế của phương Tây đối với các quốc gia khác sang sự coi trọng vai trò của con người với tư cách là chủ thể của các nền văn hóa [43].
Theo tác giả, vai trò của văn hóa trong phát triển xã hội là khá mạnh mẽ, song nhân tố bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa có khi lại là yếu tố níu kéo, kìm hãm sự phát triển. Vì thế, tiếp nhận văn hoá mới là cần thiết, và xung đột văn hoá nên được giải quyết theo hướng chấp nhận những giá trị tích cực, phù hợp của văn hoá mới, văn hoá hiện đại. Tương tự, tác giả Mauro Peressini chỉ ra mặt trái của việc bảo lưu các giá trị truyền thống một cách cực đoan là hạn chế sự phát triển của một dân tộc, quốc gia [27]. Nó làm cho chủ thể của nền văn hóa bản địa không quan tâm đến việc tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại.
Vì vậy, để giải quyết xung đột văn hóa không nhất thiết phải chọn bảo lưu văn hóa truyền thống.