chương 1 giới thiệu chung về sự ra đời, quá trình phát triển của Vệ tinh Khí tượng và Khí tượng vệ tinh, từ thực nghiệm đến nghiệp vụ, từ quy mô quốc gia, khu vực đến một Hệ thống vệ tinh khí tượng nghiệp vụ toàn cầu; khái quát về các loại vệ tinh, hệ thống truyền nhận thông tin, format số liệu và khai thác ứng dụng, nhằm cung cấp cho người đọc cái nhìn bao quát, cơ bản có thể lôi cuốn người đọc vào các chương sau của giáo trình hay gợi mở cho người đọc tự tìm hiểu sâu hơn khi thấy cần thiết.1 Hệ thống quan trắc khí tượng trước khi vệ tinh ra đời 1.1 Hệ thống quan trắc và thám sát khí tượng trước khi vệ tinh ra đời Khí tượng vệ tinh là một bộ môn khoa học nghiên cứu khí quyển bằng các số liệu khí tượng thu được từ vệ tinh khí tượng. Nói chung, Khí tượng vệ tinh có 2 nhiệm vụ: 1) Thu nhận thông tin về trạng thái khí quyển ở bề mặt trái đất và các tầng cao khí quyển (trước hết là tầng đối lưu) theo một không gian rộng lớn (tuỳ theo quy mô thực tế tác nghiệp); 2) Tạo lập các phương pháp ứng dụng thông tin vệ tinh khí tượng để theo dõi, phân tích các quá trình khí quyển, dự báo thời tiết và nghiên cứu khí hậu. Vệ tinh khí tượng là vệ tinh nhân tạo của trái đất thực hiện các quan trắc khí tượng thông qua bức xạ điện từ từ khí quyển và truyền các quan trắc này về traí đất. Do đó sự phát triển của khí tượng vê tinh gắn liền với sự phát triển của vệ tinh khí tượng.
Quan trắc và thám sát tầng cao khí quyển đã, đang và sẽ vẫn là niềm khao khát của con người mà trước hết là của các nhà Khí tượng. Chính vì vậy mà ngay từ khi vệ tinh chưa ra đời thì các nhà khí tượng đã sử dụng phương tiện quan trắc từ thấp lên cao như bóng bay, khinh khí cầu, ra-đi-ô-zôn, máy bay, tên lửa. Nhưng không mấy người biết rằng thô sơ nhất như diều đẫ từng được dùng dể thám sát tầng cao khí quyển. Paul Menzel [15] thì từ đầu thế kỷ 20 Benjamin Franklin là người đầu tiên đã dùng diều để quan trắc tầng cao khí quyển.
Thậm chí diều của Benjamin Franklin được Phòng thời tiết đưa vào quan trắc đều đặn ở 6 trạm quan trắc, được thả lên 4 hoặc 5 giờ đồng hồ mỗi ngày và đạt đến độ cao 3 - 4 dặm (1 dặm trên không = 1883m). Không phải bây giờ ta xem lại mới thấy buồn cười mà ngay từ khi đó những “kẻ mất dạy” đã đứng từ xa cười nhạo báng các nhà khí tượng. Ấy vậy mà theo các nhà khí tượng lúc ấy diều còn tốt hơn cả bóng cao su và quan trắc bằng diều được duy trì mãi tới năm 1933, khi mà máy bay được đưa vào thay thế. 9 Sự phát triển nhanh chóng của máy bay trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ nhất đã dẫn đến việc năm 1925 người ta đưa vào thực nghiệm chương trình quan trắc khí quyển tầng cao hàng ngày bằng cách gắn các cảm biến kế (sensor) trên cánh máy bay.
Nhờ các quan trắc bằng máy bay mà diện quan trắc được mở rộng ra một khu vực rộng lớn, nó đã cho phép các nhà sy-nốp bắt đầu mô tả được các dòng khí quyển tầng thấp trên bản đồ. Năm 1929, Robert Goddard đã phóng tên lửa mang theo một thiết bị trong đó gồm một áp ký, một nhiệt ký và một máy ảnh để thám sát khí quyển mà từ đó đã trở thành phương hướng nguồn gốc của chương trình vệ tinh khí tượng sau này. Những tiến bộ trong công nghệ tên lửa trong Chiến tranh Thế giới thứ II đã dẫn đến những bức ảnh tổng hợp đầu tiên về đỉnh của khí quyển. Song song với những tiến bộ về tên lửa là những tiến bộ về các máy quay phim truyền hình đã làm cho các vệ tinh khí tượng có thể trở thành hiện thực.
Song toàn bộ những thiết bị đo/thám sát tầng cao khí quyển, như bóng bay, diều, máy bay và tên lửa khi ấy cũng chưa vượt được độ cao tầng đối lưu. Cho đến năm 1930, lần đầu tiên trên thế giới, ra-đi-ô-zôn do các nhà khí tượng Liên-xô cũ chế tạo mới được đưa vào thám sát khí quyển tầng cao, với độ cao có thể đạt được 20 hải lý (1 hải lý=1,852km) và thời gian làm việc tới 1,5-2 giờ, đánh dấu bước tiến quan trọng trong nghiên cứu tầng cao khí quyển. Từ đó cho đến nay nó được cải tiến liên tục và hiện vẫn đang là một trong những thiết bị thám không quan trọng nhất trong lĩnh vực khí tượng toàn cầu.2 Những hạn chế của hệ quan trắc trước vệ tinh Hạn chế quan trọng nhất phải nói đến là sự hạn chế về không gian đo đạc, quan trắc theo chiều ngang. Với những thiết bị trước vệ tinh thì dù con người có cố gắng mấy, những quan trắc về khí quyển tầng cao cũng không thể vượt quá được phạm vi một lãnh thổ, thậm chí hệ thống quan trắc từng quốc gia không bao quát nổi lãnh thổ nước mình.
Theo chiều thẳng đứng thì cùng lắm các loại quan trắc trước vệ tinh cũng chỉ với tới độ cao vài ba chục cây số, đồng thời cũng chỉ giới hạn ở những mực đẳng áp nhất định chứ không sao trải khắp được tầng cao lên đến đỉnh tầng khí quyển. Về thời gian, các quan trắc trước vệ tinh chỉ có thể thám sát được khí quyển tầng cao theo những kỳ quan trắc cố định trong ngày hoặc trong lần quan trắc rời rạc mà thôi. Đặc biệt là trước khi vệ tinh ra đời các thiết bị đo cũng bị hạn chế và kéo theo những hạn chế về các yếu tố và hiện tượng khí tượng trong toàn thể không gian toàn cầu và thời gian 24/24 giờ trong ngày. Trước khi vệ tinh ra đời, chúng đã không thể có được, mà trong số đó quan trọng nhất là các thành phần bức xạ mặt trời trong bầu khí quyển bao la, cái quyết định diện mạo thời tiết và khí hậu trái đất của chúng ta.
Tất nhiên đối với các lĩnh vực khoa học khác trước khi vệ tinh ra đời cũng có những hạn chế tương tự trên ba mặt như trên. Ta lướt qua những hạn chế của các quan trắc khí ttượng tầng cao trước vệ tinh cũng chính là để nói lên những ưu việt của quan trắc vệ tinh. Chính nhờ những quan trắc vệ tinh mà có thể ở mọi lúc, mọi nơi trong khí 10 quyển bao la, từ đại dương xa xôi, từ núi cao rừng rậm cho đến chân mây, chân sóng, từ những cơn bão hung dữ trên biển khơi đến trận bão cát cuồng phong trên sa mạc không một bóng người, đâu cũng có con mắt của các nhà khí tượng. Đặc biệt cần nhấn mạnh là tính “tức thời” của quan trắc vệ tinh, khi mà những hiện tượng thời tiết diễn ra hết sức mau lẹ và ngắn ngủi đến mức con người chưa kịp nhận biết thì nó đã qua đi như một trận dông kèm theo mưa đá ở vùng núi cao không người đến những cơn bão kéo dài nhiều ngày trên đại dương xa xôi, vệ tinh khí tượng đều có thể nắm bắt được.
Cũng chính vì thế mà chỉ riêng lĩnh vực khí tượng, vệ tinh khí tượng đã giúp ta hạn chế được đáng kể những thiệt hại và thảm hoạ do thiên nhiên gây ra.2 Vệ tinh ra đời và vệ tinh khí tượng đi vào nghiệp vụ 1.1 Vệ tinh ra đời và vệ tinh khí tượng trong giai đoạn thực nghiệm Hình 1.1 Vệ tinh Sputnik-1 của Liên-xô và Vệ tinh TIROS-1 của Hoa-kỳ [22, (2)] Ngày 4 tháng 10 năm 1957 Liên-xô cũ đã phóng thành công vệ tinh nhân tạo đầu tiên trên thế giới mang tên “Sput-nik-1” bằng chính tên lửa của mình đã mở ra một thời đại mới trong chinh phục không gian vũ trụ của con người. Thế giới bàng hoàng, khâm phục, bước vào "kỷ nguyên không gian vũ trụ". Sự kiện này xảy ra đúng vào Năm Vật lý Địa cầu Quốc tế (IGY) và 40 năm Cách mạng Tháng 10 Nga, đã mở ra một trang mới cho ngành Khí tượng thế giới trong nghiên cứu khí quyển toàn cầu. 11 Vệ tinh nhân tạo Sputnik-1 là một quả cầu nhôm 22 insơ với 4 an-ten như các roi dài trải về phía sau, nặng 183 pao (83,6 kg), bay quanh trái đất ở độ cao 900 km với 96 phút/1 vòng.
Sau 3 tháng bay, đến ngày 4/1/1958 thì nó rơi xuống trái đất. Chưa đầy 1 tháng sau, Thế giới lúc bấy giờ đang là thời kỳ chiến tranh lạnh, mọi người còn chưa hết cơn bàng hoàng và khâm phục Sputnik-1, thì ngày 3/11/1958 Liên xô lại phóng vệ tinh nhân tạo Sputnik-2, với trọng lượng tới 1.120 pao (508,3 kg), bay quanh trái đất tới 200 ngày, đặc biệt là mang theo chó Lai-ka lên quỹ đạo và trở về an toàn. Chính sự kiện Sputnik-1 đã thúc ép sự ra đời của Cơ quan Hàng không Vũ trụ Quốc gia (NASA) Hoa kỳ và đẩy nhanh tiến trình nghiên cứu chinh phục không gian vũ trụ. Cũng nhờ đó mà Mỹ đã phóng vệ tinh khí tượng thực nghiệm đầu tiên vào tháng 2 năm 1959, nhưng việc xử lý các quan trắc của nó lại không thực hiện được vì các thiết bị quan trắc khi ấy chưa được hoàn thiện.
Mãi đến ngày 01 tháng 4 năm 1960, Mỹ lại phóng vệ tinh khác gọi là “TIROS-1”, bắt đầu truyền những ảnh mây cơ bản nhưng hữu ích về trái đất và vệ tinh TIROS - 1 được xem là vệ tinh khí tượng thực nghiệm đầu tiên trên thế giới. Thời kỳ thực nghiệm còn kéo dài trong nhiều năm của hàng loạt các vệ tinh loại TIROS. Tuy lúc bấy giờ ở Mỹ và Liên xô cũ người ta đã viết những sách giáo khoa dạy cho sinh viên các trường đại học chuyên ngành khí tượng, nhưng Khí tượng vệ tinh mới ở giai đoạn thực nghiệm, chưa phải nghiệp vụ.2 Vệ tinh khí tượng bước vào nghiệp vụ Cho đến năm 1966 Mỹ phóng vệ tinh quỹ đạo cực nghiệp vụ và vệ tinh địa tĩnh đầu tiên (ATS-1), vệ tinh khí tượng mới thực sự bắt đầu đi vào nghiệp vụ. Năm 1969 Liên xô cũ đã phóng vệ tinh METEOR-l-N1 đầu tiên trong một loạt vệ tinh cực METEOR sau đó.
Chính ảnh mây vệ tinh METEOR đã truyền theo chế độ nghiệp vụ sau này cho nhiều nước sử dụng, trong đó có Việt Nam. Toàn bộ 10 vệ tinh TIROS phóng lên đều mang theo hệ thống máy ảnh viễn vọng để ghi hình thị phổ ban ngày và ảnh hồng ngoại thụ động vào ban đêm.