MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Học sinh THPT nói chung và học sinh lớp 12 nói riêng là lứa tuổi bắt đầu bƣớc vào ngƣỡng cửa cuộc đời. Một cuộc sống tƣơng lai đầy hấp dẫn, lý thú song cũng đầy bí ẩn và khó khăn đang chờ đợi các em. Khác với thiếu niên, thanh niên học sinh có sự chuẩn bị về tâm thế nên suy nghĩ của các em chín chắn hơn khi quyết định kế hoạch đƣờng đời của mình.
Tuy nhiên trong thực tế, việc chọn nghề, quyết định đƣờng đời của học sinh THPT không đơn giản bởi vì ngành nghề trong xã hội rất phong phú, mỗi ngành nghề đều có những yêu cầu riêng… Vì vậy, câu hỏi “làm gì sau khi tốt nghiệp THPT?” khiến nhiều em lúng túng, không tìm đƣợc câu trả lời. Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo [4], tính đến tháng 9 năm 2009 cả nƣớc có 376 trƣờng ĐH và CĐ, trong đó có 150 trƣờng ĐH và 226 trƣờng CĐ. Đến nay, 40/63 tỉnh, thành phố có trƣờng ĐH và có 62/63 tỉnh, thành có ít nhất một trƣờng CĐ hoặc ĐH chỉ trừ tỉnh Đăknông chƣa có trƣờng ĐH, CĐ nào. Theo thống kê gần đây hàng năm có trên 1,1 triệu thí sinh tham gia dự thi vào các trƣờng ĐH và 300.000 thí sinh dự thi vào Cao đẳng, trong khi đó chỉ tiêu tuyển sinh của cả Cao đẳng và Đại học là 500.
Tình hình này dẫn đến áp lực hết sức nặng nề cho các học sinh trong các kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ. Hầu hết các em có mơ ƣớc vào các trƣờng đại học (kể cả những em có học lực yếu) trong khi xã hội đang cần rất nhiều công nhân kỹ thuật lành nghề tham gia trực tiếp trong một số lĩnh vực nghề nghiệp. Ƣớc mơ của các em đôi khi còn rất xa với thực tế lao động, hoạt động nghề nghiệp, chƣa thấy đƣợc giá trị đích thực của các nghề. Các em có kỳ vọng quá cao vào một số nghề nhƣng khi tiếp xúc với nghề nghiệp trong thực tế thƣờng làm các em thất vọng.
Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu nghề định chọn thì sớm muộn sẽ gặp trở ngại lớn trong hoạt động nghề nghiệp của cá nhân, tạo sự hẫng hụt, bi quan chán nản, miễn cƣỡng trong lao động. Thực tế cho thấy, không phải bao giờ nam nữ thanh niên cũng có thể giải quyết đúng đắn vấn đề chọn nghề của mình.Klimốp có thể có hai nguyên nhân chính dẫn đến chọn nghề không phù hợp: 8 - Thứ nhất, do cá nhân có thái độ không đúng với các tình huống khác nhau của việc chọn nghề (đối với lĩnh vực hoạt động và sự khuyên bảo của ngƣời đi trƣớc…) Những thành kiến và tiếng tăm nghề nghiệp do ảnh hƣởng trực tiếp hay gián tiếp của những ngƣời khuyên bảo, sự yêu thích nghề… mới chỉ là bề ngoài, cảm tính. Cá nhân chƣa thực sự hiểu đƣợc nghề đó. - Thứ hai, cá nhân thiếu tri thức, kinh nghiệm về những tình huống đó.
Có thể do sự đồng nhất môn học với nghề, không hiểu hết năng lực của bản thân, không biết hoặc không đánh giá đầy đủ những đặc điểm phẩm chất cá nhân, không hiểu đƣợc đặc điểm và yêu cầu của nghề đòi hỏi với ngƣời lao động, thao tác và trình tự của chúng khi giải quyết vấn đề chọn nghề. Việc chọn nghề, nơi đào tạo nghề của học sinh rất quan trọng. Vì vậy, cần phải có sự hƣớng dẫn để các em khi chọn nghề, chọn trƣờng biết kết hợp một cách lý tƣởng ba yếu tố: nguyện vọng, năng lực của cá nhân, những đòi hỏi của nghề nghiệp và yêu cầu của xã hội. Vì vậy tôi mạnh dạn thực hiện đề tài nghiên cứu "Khảo sát những yếu tố tác động đến việc chọn trường của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang” nhằm tìm ra các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT.
Mục đích nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm mục đích: - Xác định, và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố ảnh hƣởng đến quyết định chọn trƣờng của học sinh lớp 12 THPT trong kỳ thi tuyển sinh ĐH, CĐ. - Đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp cho học sinh lớp 12 THPT trong quyết định lựa chọn lựa chọn trƣờng dự thi trong kỳ thi ĐH, CĐ. Để đạt đƣợc mục đích đặt ra, nghiên cứu đã tập trung vào các nhiệm vụ sau: 9 - Lựa chọn và vận dụng một số lý thuyết xã hội học để xây dựng và kiểm định mô hình nghiên cứu của đề tài. - Trên cơ sở mô hình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định thang đo, tiến hành khảo sát trên mẫu học sinh đƣợc lựa chọn để xác định các yếu tố tác động đến quyết định chọn trƣờng của học sinh lớp 12 THPT.
- Phân tích sự khác biệt của các tác động nêu trên giữa các nhóm học sinh khác nhau về đặc điểm cá nhân và gia đình. Giới hạn nghiên cứu Nghiên cứu này đã tiến hành khảo sát và đánh giá mức độ tác động của các yếu tố đến quyết định chọn trƣờng của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong kì thi tuyển sinh ĐH-CĐ năm 2011. Phƣơng pháp nghiên cứu: 4. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tiến hành thu thập tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau: các bài báo, các đề tài nghiên cứu và các tài liệu khác có liên quan.
Thông qua phân tích tổng hợp lý thuyết, phân loại hệ thống hoá và khái quát hoá lý thuyết từ đó rút ra các kết luận khoa học là cơ sở lý luận cho đề tài. Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi: - Phƣơng pháp điều tra bằng bảng hỏi: Bảng hỏi đƣợc xây dựng dựa theo mô hình nghiên cứu của đề tài nhằm thu thập thông tin đƣa vào phân tích và kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Phương pháp thống kê toán học: Sử dụng các phƣơng pháp thống kê toán học để xử lý số liệu làm cơ sở để kiểm định thang đo và mô hình nghiên cứu. Qui trình phân tích dữ liệu: 10 - Phân tích nhân tố khám phá (EFA) nhằm thu nhỏ và tóm tắt dữ liệu để đƣa vào các thủ tục phân tích đa biến.
- Đánh giá độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha. - Thống kê mô tả. - Phân tích phƣơng sai Anova để xác định sự khác biệt giữa các nhóm trong việc đánh giá tầm quan trọng của các yếu tố đến quyết định chọn trƣờng. - Phân tích hồi quy và kiểm định sự phù hợp của mô hình nhằm đo lƣờng và đánh giá tác động của các nhân tố đến quyết định chọn trƣờng của học sinh - Kiểm định các giả thuyết theo mô hình nghiên cứu của đề tài.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu 5. Câu hỏi nghiên cứu: Các yếu tố nào tác động đến quyết định chọn trƣờng ĐH, CĐ của học sinh lớp 12 THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang trong kỳ thi tuyển sinh hàng năm? 5. Giả thuyết nghiên cứu: - Giả thuyết H1: Đặc điểm của trƣờng đại học, cao đẳng càng tốt, xu hƣớng chọn trƣờng đó càng cao. - Giả thuyết H2: Trƣờng đại học, cao đẳng có ngành học đa dạng, hấp dẫn cao hơn các trƣờng khác, học sinh sẽ chọn trƣờng đó nhiều hơn.
- Giả thuyết H3: Trƣờng đại học, cao đẳng đáp ứng sự mong đợi về việc làm, thu nhập, địa vị của sinh viên sau khi tốt nghiệp cao hơn những trƣờng khác, học sinh sẽ chọn trƣờng đó nhiều hơn. - Giả thuyết H4: Trƣờng đại học, cao đẳng nỗ lực trong tƣ vấn tuyển sinh, quảng bá hình ảnh đến học sinh càng nhiều, học sinh sẽ chọn trƣờng đó nhiều hơn. - Giả thuyết H5: Trƣờng đại học, cao đẳng có danh tiếng, thƣơng hiệu càng cao, học sinh sẽ chọn trƣờng đó càng nhiều. 11 - Giả thuyết H6: Trƣờng đại học, cao đẳng có điểm tuyển sinh thấp, cơ hội trúng tuyển càng cao, học sinh chọn trƣờng đó càng nhiều.
- Giả thuyết H7: Sự định hƣớng của các thân nhân học sinh về việc dự thi vào một trƣờng đại học, cao đẳng nào đó càng lớn, xu hƣớng chọn trƣờng đó của học sinh càng cao. - Giả thuyết H8: Sự phù hợp của ngành học với khả năng hay với sở thích học sinh càng cao, học sinh sẽ có khuynh hƣớng chọn trƣờng đó càng lớn. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu: 6. Khách thể nghiên cứu: Học sinh đang học lớp 12 tại các trƣờng THPT trên địa bàn tỉnh Tiền Giang.
Đối tượng nghiên cứu : Các yếu tố tác động đến việc chọn trƣờng của học sinh lớp 12 THPT trong kì thi tuyển sinh đại học, cao đẳng. Tổng thể: Khách thể nghiên cứu lý tƣởng là các học sinh lớp 12 THPT trong toàn quốc. Tuy nhiên, thời gian và điều kiện khó có thể tiến hành với một tập hợp đối tƣợng tổng quát nhƣ vậy. Nhóm đối tƣợng phù hợp đƣợc dùng trong nghiên cứu này sẽ là các học sinh lớp 12 THPT của tỉnh Tiền Giang.
Qui mô tổng thể khoảng 12.000 học sinh thuộc 34 trƣờng THPT trong tỉnh. Mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu sẽ đƣợc tiến hành trên học sinh lớp 12 THPT của tỉnh Tiền Giang, bao gồm cả học sinh ở thành phố Mỹ Tho, thị trấn các huyện và học sinh nông thôn. Cách chọn mẫu lý tƣởng là lựa chọn ngẫu nhiên bằng cách lập danh sách tất cả học sinh lớp 12 trong tỉnh và dùng các con số ngẫu nhiên để lựa chọn học sinh làm mẫu nghiên cứu. Tuy nhiên cách làm này sẽ gặp nhiều khó khăn và tốn nhiều thời gian nên sẽ có một số điều chỉnh bằng cách lấy mẫu theo hai giai đoạn: 12 - Chia các trƣờng THPT thành 4 nhóm : Nhóm các trƣờng THPT trên địa bàn thành phố Mỹ Tho; nhóm các trƣờng ở thị xã Gò Công; nhóm các trƣờng ở thị trấn; nhóm các trƣờng ở nông thôn.
Tiến hành chọn 8 trƣờng THPT đại diện cho 4 nhóm, sau đó khảo sát mỗi trƣờng 50 đến 100 học sinh, tổng số mẫu đƣợc chọn để khảo sát khoảng 450 học sinh lớp 12 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. + Bước 1: Sử dụng danh sách học sinh lớp 12 đƣợc xếp theo thứ tự a, b, c gọi là danh sách tổng thể. + Bước 2: Lấy tổng số học sinh có tên trong danh sách chia cho 50 (hoặc 100) để xác định bƣớc chọn k. Bƣớc chọn k sẽ là khoảng cách trên danh sách các phần tử đƣợc chọn.