mở đầu cho mọi cuộc giao tiếp và đi đến suốt tận cùng của các cuộc giao tiếp đó. Có rất nhiều cách hiểu về xưng hô. Xưng hô được một số người nhìn nhận như một hành vi. Trong sổ tay từ ngữ Hán Việt, xưng hô được định nghĩa là “Gọi mình (xưng) và gọi người khác (hô) trong trật tự gia đình và xã hội” [4] Theo quan niệm trên, xưng hô bao gồm hai mặt tồn tại đồng thời trong một cuộc hội thoại: Xưng (tự xưng mình) và hô (gọi người khác).
Trong Đại từ điển tiếng Việt, xưng hô được định nghĩa là hành vi “Tự xưng mình và gọi người khác trong giao tiếp hoặc trong thư từ”[12] Trong các công trình nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học, khái niệm xưng hô được trình bày một cách đầy đủ và khoa học hơn. Nguyễn Văn Chiến cho rằng “Xưng hô là một hành vi ngôn ngữ được thực hiện trong giao tiếp” [1] Phạm Ngọc Tưởng tách bạch hai yếu tố “xưng” và “hô”, trong đó “Xưng là một hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình”, còn “hô là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe vào trong lời nói [10]. Như vậy xưng hô được coi là một dạng hành động, một hành vi ngôn ngữ có chức năng đưa người nói và người nghe vào cuộc giao tiếp. Tác giả Đức Nguyễn đưa ra khái niệm xưng hô, trong đó cũng định nghĩa rõ hai yếu tố xưng và hô.
Xưng là tự gọi mình là gì đó khi nói với người khác, biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy. Hô là gọi người nói chuyện với mình là gì đó, biểu thị tính chất mối quan hệ giữa mình với người ấy [5]. Có thể thấy rằng, các quan điểm đã nêu đều thống nhất ở chỗ coi từ xưng hô là tự xưng mình và gọi người khác khi nói với nhau để biểu thị tính chất của mối quan hệ. Xưng hô bao gồm hai yếu tố Xưng và Hô.
Xưng ứng với ngôi nhân xưng thứ nhất. 6 z Một người xưng thuộc ngôi thứ nhất số ít. Từ hai người trở lên là ngôi thứ nhất số nhiều. Các phương tiện nhân xưng ngôi thứ nhất là sự tự qui chiếu của người nói.
Tương tự, hô ứng với ngôi nhân xưng thứ hai. Các phương tiện nhân xưng ngôi thứ hai là sự qui chiếu đến người nghe. Hành động xưng hô chỉ diễn ra trong cuộc thoại và một người có thể (và thường) thực hiện cả hai hành động: Xưng (tự qui chiếu đến mình) và hô (qui chiếu đến người đối thoại). Như vậy có thể hiểu chức năng của xưng hô là chỉ thị người nói, người nghe trong một cuộc hội thoại.
Từ xưng hô trong tiếng Hàn 1. Các quan niệm về từ xưng hô trong tiếng Hàn Liên quan đến quan niệm về xưng hô, trong tiếng Hàn xuất hiện hai khái niệm từ xưng hô và từ chỉ danh(danh từ định danh). Do đó, việc giới thiệu và phân định hai khái niệm này là cần thiết. Trong Đại từ điển quốc ngữ của Viện nghiên cứu từ điển tiếng Hàn, từ xưng hô được định nghĩa là từ dùng để gọi người khác, còn từ dùng để chỉ người được gọi là từ chỉ danh.
Như vậy, căn cứ vào định nghĩa từ xưng hô này, chúng ta có thể hiểu định nghĩa từ xưng hô và từ chỉ danh thông qua ví dụ sau đây: 선우[Seon Woo] 은지 엄마!(mẹ Eun Ji) 영란[Yeong Ran] 그래! 나 은지 엄마야! 맞어!(Đúng!Tôi là mẹ Eun Ji đây! Phải rồi! (Kịch bản phim “Tối nay ăn gì”) Theo định nghĩa ở trên, từ 은지 엄마 [Eun Ji eomma](mẹ Eun Ji) mà nhân vật Seon Woo nói sẽ là từ xưng hô, nhân vật Seon Woo nói để gọi người vợ của mình. Còn Mẹ Eun Ji trong câu “tôi là mẹ Eun Ji đây” do nhân vật Yeong Ran nói là từ chỉ danh, không phải là từ được dùng để xưng hô. Trong tình huống này, đại từ nhân xưng 나[na] là từ được dùng để xưng hô (nhân vật Yeong Ran tự xưng mình) Để hiểu rõ thêm về định nghĩa này, chúng ta sẽ tìm hiểu về từ xưng hô và từ chỉ danh theo quan điểm của các học giả nghiên cứu tiếng Hàn. 7 z Theo Seo Jeong Soo (1984): Từ xưng hô là từ dùng để gọi một người nào đó, từ chỉ danh là từ dùng để chỉ một người nào đó.
Ngày nay người ta hợp nhất hai loại này làm một, gọi là từ xưng hô [22]. Lee Ik Seob (2000) lại cho rằng: Xưng hô là cách chỉ trực tiếp đối phương trong cuộc trò chuyện trực tiếp với người đó, và được phân biệt với hô ngữ. Từ chỉ danh (term of reference) là cách nói chỉ người thứ ba trong giao tiếp [Dẫn theo 22]. Lee Seon Hwa (2002) lại cho rằng từ xưng hô là từ dùng để gọi đối phương trong cuộc giao tiếp, từ chỉ người nghe được gọi là từ chỉ danh ngôi thứ 2, từ chỉ người thứ 3 được gọi là từ chỉ danh ngôi thứ 3 [Dẫn theo 22].
Jeon Eun Ju (2009): Từ xưng hô là từ, cụm từ, cách biểu hiện để người nói gọi người đối phương trong cuộc trò chuyện với người đối phương đó, và từ chỉ danh là từ người nói chỉ đối tượng được nói đến, nói cách khác là từ mà người nói chỉ định đối tượng được nói đến trong cuộc trò chuyện [Dẫn theo 22]. Các quan niệm trên cho thấy hầu hết các học giả phân định một cách rạch ròi từ xưng hô là từ dùng để gọi người nghe trong cuộc giao tiếp, từ chỉ danh là từ dùng để chỉ người được nói đến, thường chỉ người thứ 3. Sự khác biệt của hai nhóm này chủ yếu nằm ở yếu tố “gọi” hay “chỉ”. Như vậy, quan niệm về từ xưng hô tiếng Hàn có sự khác biệt với quan niệm về xưng hô trong tiếng Việt.
Xưng hô trong tiếng Việt có sự phân biệt rạch ròi giữa hai hành vi xưng và hô. Tuy nhiên trong tiếng Hàn, xưng hô lại chỉ tương ứng với hành vi hô trong tiếng Việt. Trong tiếng Hàn, các học giả hoàn toàn không đề cập đến hành vi tự xưng mình (tương ứng với hành vi xưng trong tiếng Việt). Đó là một sự khác biệt căn bản.
Trong tiếng Việt, việc tự xưng biến đổi tùy vào việc người đối thoại ở vai giao tiếp nào. Thông thường, người ta có xu hướng căn cứ trên tuổi tác theo xu thế gia đình hóa để xưng hô với người đối thoại, dù người đó có thể không thuộc gia đình mình. Ví dụ đối với bạn bè người nói có thể xưng là tôi, tao, mày; đối với những người đáng tuổi ông bà, bố mẹ, cô dì chú bác, người nói có thể xưng là con, cháu; đối với những người đáng tuổi anh chị thì xưng em, đối với những người đáng tuổi em, người nói lại tự xưng là anh, chị; đối với những người đáng tuổi con cháu xưng người 8 z nói có thể xưng là bác, chú dì cô… Đối với số nhiều cũng vậy, các từ tự xưng được dùng là chúng mình, chúng tôi, chúng con, các anh, các chị, bọn anh, bọn chị… Như vậy, có thể nói việc tự xưng trong tiếng Việt ngoài việc dùng đại từ nhân xưng như tôi, tao, tớ, chúng tôi, chúng tao, chúng tớ, còn dùng nhiều danh từ thân tộc để xưng hô với người nghe như anh, chị, con, em, bác, cô, dì. Tuy nhiên, hệ thống từ tự xưng trong tiếng Hàn đơn giản hơn rất nhiều so với tiếng Việt.
Việc tự xưng trong tiếng Hàn tùy thuộc vào mức độ kính trọng, có thể sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất: 나/저 [na/Jeo] trong đó 저 [jeo] là từ khiêm xưng, ngôi thứ nhất, được dùng khi trò chuyện với người lớn tuổi hơn hoặc có địa vị cao hơn, còn 나 [na] là dạng cơ bản của ngôi thứ nhất, được dùng khi quan hệ người nói và người nghe cùng bậc, hoặc trong trường hợp vị trí của người nghe thấp hơn. Khi người nói tự xưng ở số nhiều, trong tiếng Hàn cũng chỉ có hai dạng: 우리 [uri] hoặc 저희 [Jeo Hui] trong đó 우리 [uri] là ngôi thứ nhất số nhiều có cùng sắc thái trung tính với 나 [na], còn 저희 [jeo hui] là số nhiều cùng sắc thái kính trọng với 저 [jeo]. Tuy nhiên khác với 우리 [uri], 저희 [jeo hui] không bao gồm người nghe. Mặt khác, một đặc điểm quan trọng trong tiếng Hàn, nhất là trong phạm vi giao tiếp bằng lời, người ta có thể lược bỏ chủ ngữ khi giao tiếp.
Nghĩa là khi giao tiếp với người khác, người Hàn Quốc có thể lược bỏ yếu tố tự xưng (chủ ngữ) mà người nghe vẫn có thể hiểu được ý nghĩa của câu. Ví dụ trong tình huống phim sau đây: 윤여사(Bà Yoon) : 아들? (Con trai?) 윤수(Yun Soo) :예! 엄마, 웬일이에요? 지금요? 점심 먹으러 가는 길인데. (Vâng! Mẹ, có chuyện gì vậy ạ? Bây giờ ạ? Con đang đi ăn cơm) Trong tình huống phim ở trên, khi bà Yoon gọi điện thoại cho con trai, hỏi con trai. Tuy nhiên khi người con trai trả lời:예! 엄마, 웬일이에요? 지금요? 점심 9 z 먹으러 가는 길인데.
Trong câu trả lời này, khi dịch ra tiếng Việt, có từ tự xưng “con” , tuy nhiên, trong nguyên bản tiếng Hàn, không xuất hiện từ xưng hô “con”. Ở đây, yếu tố tự xưng mà lẽ ra người con Yun Soo phải dùng khi nói với mẹ của mình đã bị lược bỏ. Nếu trong tiếng Việt, sự lược bỏ này có thể bị xem là nói trống không hay vô lễ thì trong tiếng Hàn việc lược bỏ này không hề làm giảm sắc thái kính trọng của câu nói. Như vậy, có thể hiểu rằng, phía sau quan niệm về xưng hô trong tiếng Hàn là quan niệm và tiêu chí đánh giá sự ứng xử được coi là có văn hóa, điều này khác với quan niệm tương ứng trong tiếng Việt và theo đó, quan niệm về xưng hô trong hai ngôn ngữ cũng khác nhau.
Như vậy, liên quan đến vấn đề xưng hô trong tiếng Hàn, thống nhất các tranh luận trên, khi nói đến xưng hô, cần phân biệt rõ ràng các khái niệm: Xưng hô là từ mà người nói gọi trực tiếp người nghe (đối phương) trong cuộc trò chuyện trực tiếp, còn chỉ danh là từ được người nói dùng để chỉ người thứ 3 được nói đến trong cuộc giao tiếp. Luận văn này sẽ tìm hiểu từ xưng hô với nghĩa là từ mà người nói gọi trực tiếp người nghe (đối phương) trong cuộc trò chuyện trực tiếp. Các phương tiện xưng hô trong tiếng Hàn Cũng giống như quan niệm về từ xưng hô, việc phân loại các phương tiện xưng hô trong tiếng Hàn cũng có nhiều quan điểm khác nhau.