ĐẶT VẤN ĐỀ Trải nghiệm người bệnh (TNNB) là biểu hiện và phản ánh sự tương tác của người bệnh với các dịch vụ được các cơ sở y tế cung cấp (1, 2). Một cơ sở y tế nếu xem nhẹ trải nghiệm và hài lòng của người bệnh thì dù có đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) cơ bản dù tốt đến đâu cũng là chưa đủ để giữ chân khách hàng. Hiện nay, với phương châm lấy khách hàng là trung tâm, dịch vụ CSSK của các cơ sở y tế được đánh giá thông qua hai hình thức chính là trải nghiệm và sự hài lòng của người bệnh (1). TNNB được đánh giá đa chiều trên nhiều khía cạnh bao gồm chi phí điều trị (trực tiếp và gián tiếp), cảm nhận về sự tương tác của nhân viên y tế (NVYT), các dịch vụ và kỹ thuật được hưởng và môi trường trong bệnh viện.
Đánh giá TNNB có vai trò quan trọng giúp cải thiện chất lượng dịch vụ, thúc đẩy cạnh tranh và khuyến khích sử dụng các dịch vụ CSSK (3, 4). Đồng thời, các TNNB giúp cơ sở y tế rút kinh nghiệm và tăng cường dịch vụ giúp cải thiện niềm tin cũng như kết quả điều trị. Vì thế, các cơ sở y tế đã và đang xem “TNNB” là một trong những vấn đề trọng tâm cần được thực hiện trong quá trình cung cấp dịch vụ CSSK (4, 5). Trên thế giới, TNNB không phải là chủ đề mới.
Tại Mỹ, các cơ sở y tế đã thiết lập các tiêu chuẩn và thực hiện phưng câm lấy người bệnh và gia đình là trung tâm của quá trình cung cấp dịch vụ CSSK (6). Khảo sát về TNNB tại Mỹ năm 2011 cho thấy khoảng 1/3 (33,5%) nhà lãnh đạo cho rằng TNNB là ưu tiên số một của họ. Hơn một nửa (54,5%) lãnh đạo xếp TNNB vào nhóm năm ưu tiêu hàng đầu. Phần lớn đều đồng ý rằng TNNB được chú trọng phát triển hơn nữa trong tương lai (7).
Tập trung vào giá trị dịch vụ, môi trường và quan hệ tương tác giữa nhân viên y tế (NVYT) và khách hàng và TNNB giúp tăng kết quả điều trị và hài lòng của người bệnh (8, 9). Tại Việt Nam, việc nâng cao chất lượng CSSK dựa trên TNNB đã được quan tâm trong giai đoạn gần đây với các quy định và hướng dẫn chăm sóc người bệnh (10-12). Tại thành phố Hồ Chí Minh, khảo sát TNNB đã được thử nghiệm 2 trong năm 2019 với định hướng tiến hành song song với khảo sát sự hài lòng. Kết quả cho thấy các vấn đề ưu tiên cần cải thiện với các bệnh viện là thời gian thực hiện các thủ tục nhập khoa nội trú, hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn tại khoa nội trú, thời gian được bác sĩ khám bệnh khi mới vào khoa nội trú và thời gian thực hiện thủ tục xuất viện (13).
Khảo sát TNNB là bằng chứng quan trọng giúp nhà quản lý biết cần phải cải tiến khâu nào khi cung cấp dịch vụ CSSK thông qua việc thay đổi cách cung cấp dịch vụ và phát huy những trải nghiệm tích cực của người bệnh. Bệnh viện Chợ Rẫy là một bệnh viện đa khoa đầu ngành ở các tỉnh phía Nam. Cải tiến quy trình và nâng cao chất lượng điều trị và chăm sóc người bệnh nội trú nhằm mang lại trải nghiệm tích cực và hài lòng cho người bệnh là một ưu tiên hàng đầu của bệnh viện (14). Tuy vậy, người bệnh nội trú tại các khoa ngoại thường có nhiều góp ý do quá tải người bệnh và đặc thù trải nghiệm nhiều thủ tục hành chính và quy trình điều trị từ khi bắt đầu nhập viện, điều trị tại khoa phòng, thực hiện phẫu thuật, chăm sóc hậu phẫu và theo dõi sau khi xuất viện… Trước tình hình này, bệnh viện rất cần đánh giá TNNB nội trú về toàn bộ quá trình CSSK từ khi nhập viện cho đến khi ra viện.
Các thông tin thiết thực này giúp bệnh viện phát huy những trải nghiệm tích cực và đưa ra các giải pháp cải tiến chất lượng thông qua giảm thiểu các trải nghiệm tiêu cực của người bệnh. Qua đó, dịch vụ CSSK cho người bệnh nội trú tại khoa ngoại nói riêng và tại BV nói chung đáp ứng tốt hơn những mong đợi và kỳ vọng của người bệnh giúp tăng sự hài lòng và tạo dựng niềm tin của người bệnh. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Khảo sát thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng tới TNNB điều trị nội trú tại 3 Khoa Ngoại của Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2020”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả các trải nghiệm người bệnh điều trị nội trú tại 3 Khoa Ngoại, Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2020. Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến các trải nghiệm người bệnh điều trị nội trú tại 3 Khoa Ngoại, Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2020. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1.
Khái niệm trải nghiệm người bệnh Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), trải nghiệm người bệnh là biểu hiện và phản ánh sự tương tác của người bệnh với các dịch vụ cung ứng của các cơ sở y tế, bao gồm từ kế hoạch chăm sóc của cơ sở y tế so với thực tế, đến tương tác với các bác sĩ, điều dưỡng, và các NVYT khác trong bệnh viện, cả về thực hành của thầy thuốc và các tiện ích phục vụ người bệnh, cơ sở hạ tầng của bệnh viện (1). Trải nghiệm là một thành phần không thể tách rời khỏi chất lượng dịch vụ, TNNB bao gồm nhiều phương diện khác nhau trong cung ứng các dịch vụ y tế mà họ tìm và nhận được, như hẹn khám đúng lịch, dễ dàng tiếp cận thông tin, truyền thông tốt của bên cung ứng dịch vụ. Biểu hiện của trải nghiệm gồm nhiều khía cạnh như giao tiếp và thông tin hiệu quả; tôn trọng và phẩm giá; hỗ trợ cảm xúc, sự liên tục trong chăm sóc, sự tham gia của người bệnh, v. Các thành phần trong Trải nghiệm người bệnh * Khía cạnh giao tiếp của nhân viên y tế (NVYT) là sự tôn trọng lẫn nhau giữa các NVYT cũng như với người bệnh.
Người bệnh cũng cần cảm nhận được sự hợp tác giữa các NVYT trong việc điều trị và kê đơn. Bên cạnh đó, khía cạnh thông tin cũng được coi là một yếu tố quan trọng trong quá trình giao tiếp. TNNB với các thông tin được cung cấp và cũng là một khía cạnh phổ biến trong đánh giá các nghiên cứu của người bệnh. Nó bao gồm các thông tin khác nhau mà người bệnh cần được nhận trong suốt quá trình nằm viện như các thông tin về chuẩn đoán và điều trị, chế độ ăn và dinh dưỡng, chi phí và quá trình điều trị, tuân thủ phác đồ điều trị, v.
Thông tin và giao tiếp có thể được tách thành hai khía cạnh riêng biệt trong một số nghiên cứu nhưng với đề tài nghiên cứu này chúng tôi đưa vào thành 1 khía cạnh do mối quan hệ chặt chẽ của chúng với nhau. 5 *Khía cạnh tôn trọng và đồng cảm gồm lòng trắc ẩn, sự cảm thông như mức độ quan tâm tới người bệnh và niềm tin của NVYT với người bệnh và người nhà (16, 17). Về phía người bệnh, sự sợ hãi và lo âu cũng là các yếu tố quan trọng trong trải nghiệm điều trị trogn quá trình cung cấp dịch vụ của NVYT. *Khía cạnh sắp xếp và môi trường bệnh viện là trải nghiệm về các bố trí, sắp xếp, sự sạch , yên tĩnh của môi trường bệnh viện (9).
*Khía cạnh về chăm sóc bao gồm tiếp cận chăm sóc và sự liên tục trong chăm sóc. Người bệnh cần tiếp cận càng nhanh càng tốt với các dịch vụ chăm sóc cần thiết khi họ cần (13, 18, 19). Thời gian chờ đợi dài để được thăm khám, nhập viện hoặc đợi sắp xếp giường bệnh đều có thể gây ra các trải nghiệm tiêu cực cho họ. Sự liên tục trong chăm sóc đặc biệt quan trọng với những người bệnh nặng, người cao tuổi và những người có các vấn đề về sức khỏe tâm thần.
NVYT cần hướng dẫn chi tiết để giúp người bệnh giảm thời gian đi lại và làm thủ tục hành chính trong quá trình điều trị cũng như giúp hỗ trợ tốt hơn người nhà người bệnh. Đồng thời, tư vấn cho người bệnh xuất viện là rất cần thiết giúp tăng cường việc sử dụng thuốc và chăm sóc liên tục khi người bệnh về nhà (20, 21). * Khía cạnh sự tham gia của người bệnh và người nhà người bệnh phản ánh sự tham tích cực của người bệnh và người nhà trong việc chăm sóc sức khỏe của chính họ. Khía cạnh này nhấn mạnh đến việc đồng tham gia vào quá trình điều trị, đề xuất giải pháp và quản lý sức khỏe cho người bệnh (22).
Người nhà cũng có vai trò quan trọng trong hỗ trợ điều trị và chia sẻ kinh nghiệm trong điều trị. Khi nằm viện, người nhà cần được đối xử tôn trọng và cung cấp thông tin đầy đủ để tham gia hỗ trợ khi cần thiết (23, 24). Ngoài những khía cạnh trên các khía cạnh như quản lý đau, hỗ trợ tâm lý, v.v… cũng là những khía cạnh được nhiều nghiên cứu đề cập trong đánh giá TNNB (25). Tóm lại, trải nghiệm người bệnh là kết hợp của 3 yếu tố gồm giao tiếp hiệu quả, tôn trọng phẩm giá và hỗ trợ cảm xúc.
Những yếu tố này bị tác động bởi các khía cạnh như đặc điểm cơ sở vật chất (trang thiết bị, máy móc, số người bệnh, sự sẵn có dịch 6 vụ), đặc điểm của từng người bệnh (nhân khẩu học, tiền sử lâm sàng, hành vi tìm kiếm dịch vụ) và loại hình dịch vụ (phòng ngừa, điều trị, cấp cứu). Thay đổi những yếu tố này tác động trực tiếp tới TNNB hơn là kỳ vọng hay nhu cầu. Khái niệm sự hài lòng Có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng cũng như có khá nhiều tranh luận về định nghĩa này. Phổ biến nhất là các nghiên cứu đánh giá sự hài lòng do khác biệt giữa cảm nhận và kỳ vọng của người bệnh về chất lượng dịch vụ nhận được.
Thang đo phổ biến để đo lường chất lượng dịch vụ là mô hình SERVQUAL được phát triển bởi Parasuraman và cộng sự. Đây là một trong những mô hình tốt nhất để đánh giá kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của họ về chất lượng của các dịch vụ. Các phân tích này cho phép các nhà quản lý bệnh viện phân bổ các nguồn lực để cải thiện hiệu suất trong các lĩnh vực có ảnh hưởng nhiều hơn vào nhận thức của khách hàng về chất lượng dịch vụ (26).