Đặt vấn đề Ngày nay, trong lĩnh vực y dƣợc, kháng sinh đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ sức khỏe con ngƣời chống lại vi sinh vật gây bệnh. Tuy nhiên, tính đề kháng của vi sinh vật gây bệnh với kháng sinh đã và đang trở thành vấn để đáng lo ngại. Đồng thời các tác dụng phụ của kháng sinh (dị ứng, nhiễm độc các cơ quan, loạn khuẩn đƣờng ruột dẫn đến tiêu chảy) cũng gây lo lắng cho ngƣời sử dụng kháng sinh. Trong khi đó các dƣợc liệu thiên nhiên tuy có tính kháng khuẩn không mạnh bằng các thuốc kháng sinh nhân tạo nhƣng cũng đủ để chữa khỏi nhiều bệnh nhiễm khuẩn.
Mặt khác, các dƣợc liệu thiên nhiên thì không có tác dụng phụ và không bị các vi sinh vật gây bệnh đề kháng. Đó là tính ƣu điểm của các dƣợc liệu thiên nhiên so với thuốc kháng sinh. Từ xa xƣa, nhân dân ta đã biết dùng những cây cỏ quen thuộc trong vƣờn nhà để trị các bệnh đƣờng ruột, bệnh đƣờng hô hấp, tiết niệu, mụn nhọt, rửa vết thƣơng… Nhiều vị thuốc có tính kháng khuẩn đƣợc kết hợp với nhau để thành một đơn thuốc nhƣ kết hợp hạt củ cải, hạt Tía tô, hạt Cải bẹ để trị bệnh nhiễm trùng ở phổi… Các loài thực vật có dƣợc tính là nguồn nguyên liệu quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con ngƣời, chúng là phƣơng thuốc phòng trị bệnh tự nhiên mà không gây phản ứng phụ. Bên cạnh những dƣợc phẩm đắt tiền cũng có những cây có dƣợc tính quý, gần gũi và dễ kiếm nhƣ cây Mận, cây Chùm ruột.
Qua kinh nghiệm dân gian, những cây ăn trái này có rất nhiều công dụng trong việc phòng và điều trị bệnh, khi sử dụng những dƣợc liệu này đem lại hiệu quả tốt cho con ngƣời. Xuất phát từ mong muốn tìm những loại dƣợc liệu có nguồn gốc thực vật phong phú có trong thiên nhiên thay thế cho những kháng sinh có nguồn gốc hóa học, nên đề tài đƣợc quyết định là: “Khảo sát tính kháng khuẩn của dịch chiết từ cây Mận (Syzygium samarangense) và Chùm ruột (Phyllanthus acidus)”.2 Mục đích Khảo sát và so sánh khả năng kháng hai chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus và Escherichia coli của dịch chiết từ cây Mận và cây Chùm ruột.3 Yêu cầu - Thu nhận dịch chiết từ lá và trái của cây Mận và Chùm ruột bằng những dung môi khác nhau. - Khảo sát khả năng kháng khuẩn Escherichia coli và Staphylococus aureus ở các nồng độ dịch chiết khác nhau. - So sánh, đánh giá khả năng kháng khuẩn của các loại dịch chiết ở những tỷ lệ dung môi khác nhau.
3 Chƣơng 2 TỔNG QUAN 2.1 GIỚI THIỆU VỀ CÂY CHÙM RUỘT Chùm ruột hay còn gọi là tầm ruột. Tên khoa học: Phyllanthus acidus. Tên đồng nghĩa: Phyllanthus distichus, Cicca disticha, Cicca acida hay Averrhoa acida. Giới: Thực vật Ngành: Thực vật hạt kín Lớp: Thƣc vật hai lá mầm (Magnoliopsida) Bộ: Sơ ri (Malpighiales) Họ: Diệp hạ châu Hình 2.1 Cây Chùm ruột.[13] (Phyllanthaceae) Chi: Phyllanthus Loài: Phyllanthus acidus (P.
acidus) Là loài cây duy nhất có quả ăn đƣợc trong họ Phyllanthaceae. Cây chùm ruột vừa đƣợc trồng làm cây kiểng vừa lấy quả. Chùm ruột phân bố chủ yếu ở miền nhiệt đới Á Châu từ Madagascar đến Ấn Độ sang tận Đông Nam Á. Ở Việt Nam, chùm ruột trồng phổ biến ở miền Nam.
Chùm ruột là loại cây thân mộc, cỡ nhỏ, gần giống cây bụi, đạt chiều cao từ 2 đến 9m, nở hoa vào tháng 3 - 5, kết trái vào tháng 6 - 8. Chùm ruột quả mọng, có khía, khi chín màu vàng nhạt, vị chua mát, thƣờng đƣợc ăn sống hay nấu canh. Nƣớc ép quả để giải nhiệt vì chứa đến 40% vitamin C. Tán cây rậm rạp, thân cây có nhiều cành chính cứng và dày.
Nhánh cây sần sùi vì vết sẹo của những 4 cuống lá cũ. Ở cuối mỗi cành chính có nhiều cành nhỏ màu xanh, dài từ 15 đến 30cm, mọc thành chùm dày đặc. Lá chùm ruột mọc so le, hình trứng dài với kích thƣớc khoảng 4-5cm, rộng khoảng 1,5-2cm. Hoa chùm ruột sắc hồng, nở từng chùm.
Trái hình tròn, chia thành 6 múi, sắc xanh với đƣờng kính khoảng 2-2,5cm. Vị chùm ruột giòn và rất chua, do đó thƣờng đƣợc tiêu thụ dƣới dạng mứt tại Việt Nam. Mỗi quả chỉ có 1 hột. Thành phần hóa học: Chùm ruột có nhiều nƣớc, vị rất chua do chứa nhiều acid oxalic, chất nhầy, giàu pectin, glucid, khoáng chất và vitamin C.
Quả chùm ruột chứa 0,73- 0,90% protid, 0,6-0,76% lipid, 5,89 -7,29% glucid, lƣợng vitamin C đạt tới 40 mg %. Vỏ rễ chứa saponin, acide galic và tanin. Một số hợp chất triterpen (Philanthol, B-Amiryn), và nhiều acide phenolic.[13] Một số công dụng của cây chùm ruột: Quả chùm ruột có tác dụng giải nhiệt, bổ gan, bổ máu. Ngoài ra, để làn da mịn màng, mỗi ngày nên ăn 200g trái cây này.
Lá cây chùm ruột dùng để đun nƣớc tắm chữa lở, nổi mề đay và các bệnh ngoài da khác. Vỏ thân cây có khả năng tiêu hạch độc, ung nhọt, tiêu độc, sát trùng, đặc biệt là chống độc đối với nọc rắn. Rƣợu ngâm bằng vỏ thân cây chữa thối tai, tiêu mủ, bôi chữa ghẻ, loét, vết thƣơng chảy máu ngoài da, chữa đau răng, họng. Cách làm: vỏ cây và quả chùm ruột phơi khô, tán thành bột mịn hòa cùng rƣợu trắng nồng độ cao.
Cứ 200g bột ngâm với 1 lít rƣợu để trong 10 ngày là sử dụng đƣợc. Ngoài ra, bột vỏ thân ngâm dấm còn chữa đƣợc bệnh trĩ, uống ngày 2 lần, mỗi lần một thìa canh. Tuy có nhiều tác dụng, nhƣng rễ và vỏ rễ cây này rất độc. Trong y học cổ truyền dân tộc, có một vài cách sử dụng chùm ruột làm vị thuốc chữa bệnh.
Lá chùm ruột tƣơi giã nát cùng hồ tiêu rồi đắp vào chỗ đau chữa đau nhức. Vỏ thân Chùm ruột một phần, vỏ thân Vông đồng 2 phần, sắc cô đặc, hòa vào rƣợu trắng uống ngày 2 muỗng cà phê, chia làm hai lần, chữa suy yếu tim. 5 Vỏ thân cây phơi khô, tán bột, chƣng với dầu dừa để bôi vào vết thƣơng, chữa lở ngứa, mề đay, ghẻ loét, vết thƣơng ngoài da.2 GIỚI THIỆU VỀ CÂY MẬN Cây Mận hay cây Mận Hƣơng tàu. Miền Bắc gọi là doi, gioi, roi đỏ.
Tên Tiếng Anh: Rose Apple, Water Apple, Wax Apple, Jambu, Wax Jambu, Java Apple, Malay Apple. Tên khoa học: Syzygium samarangense Tên đồng nghĩa: Eugenia javanica Giới: Thực vật Ngành: Thực vật hạt kín Lớp: Thực vật hai lá mầm Bộ: Đào kim cƣơng (Myrtales) Họ: Sim (Myrtaceae) Hình 2.2 Cây Mận [26] Chi: Syzygium Loài: Syzygium samarangense (S. samarangense) Mô tả: Cây gỗ cao 5-15m; nhánh non hơi vuông, dẹp. Lá có phiến to, hình bầu dục tới bầu dục thuôn, dài 10-25cm, rộng 6-12cm, gốc tròn hay hơi hình tim, gân mép 2; cuống 4-8mm.
Ngù hoa 3-30 hoa ở ngọn hay ở nách lá rụng; hoa có đƣờng kính 3-4cm; đài có ống dài 1,5cm; cánh hoa dài 10-15mm, màu vàng trắng; nhị nhiều; bầu dƣới, vòi nhụy xanh, dài. Quả mọng, màu đỏ tới trắng dài 3,5-5,5cm; hạt 1-4, màu nâu. Ra hoa quả quanh năm. Nơi sống: Cây phổ biến ở vùng Ðông Nam Á (Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam ); Ấn Độ, Đài Loan, Bangladesh, Pakistan, Sri Lanka và Samoa.
Ở nƣớc ta, cây Mận đƣợc trồng khắp vùng đồng bằng. Thành phần hóa học của quả: Trong 100g ăn đƣợc có: nƣớc khoáng 90%, protein 0,3g, chất béo 0, carbohydrat 3,9g, xơ 1g, vitamin A 253IU, vitamin B1 và B2, vitamin C 0,1mg. Lá Mận: chứa alpha-carotene và beta-carotene, lupeol, betulin, acid epibetulinic và một số hoạt chất loại dimethyl chalcone và dimethylflavanone, các 6 sterols nhƣ beta-sitosterol, beta-D-sitosterylglucoside. Betulin và dimethyldihydrochalcone có hoạt tính ức chế men prolyl endopeptidase.[15] Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cây trồng lấy quả ăn.
Quả chín ngọt, thƣờng dùng ăn tƣơi. Cũng có thể dùng làm mứt hay ngâm. Nhiều bộ phận của cây có vị se do có tanin (vỏ, lá và rễ) đƣợc dùng trong y học cổ truyền nhƣ loại thuốc thông thƣờng.3 VÀI NÉT VỀ CÁC VI KHUẨN SỬ DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU 2.1 Giới thiệu về Staphylococcus aureus Ngành : Firmicutes Lớp : Bacilli Giống : Staphylococcus Loài : Staphylococcus aureus (S.1 Đặc điểm sinh học Hình dạng và kích thƣớc S. aureus là những vi khuẩn hình cầu, đƣờng kính 0,5 – 1,5μm và đứng thành hình chùm nho, Gram dƣơng, không có lông, không nha bào, thƣờng không có vỏ nhày.[27] 7 Tính chất nuôi cấy Dễ nuôi cấy, phát triển đƣợc ở nhiệt độ 10 - 400C, nồng độ muối từ 10-40%, thích hợp điều kiện hiếu khí hoặc kỵ khí.
Nhiệt độ thích hợp 30-370C, pH tốt nhất là 7,0-7,5. Mọc dễ trên các môi trƣờng: Cao thịt peptone, thạch máu, MSA (Mannitol Salt Agar)… Môi trƣờng thịt MSA: sau 12-24 giờ, Staphylococcus aureus mọc thành đám nhỏ, tròn, màu vàng, rìa gọn, khô.[8] Môi trƣờng thạch máu: Staphylococcus aureus làm dung huyết. Huyết tƣơng thỏ: Staphylococcus aureus làm đông huyết tƣơng thỏ.[6] Gelatin: cấy sâu, sau 3–4 ngày tan chảy từ từ thành phễu từ ở giữa. Staphylococcus aureus làm tan gelatin rất rõ.[8] Đặc tính sinh hóa Sinh catalase, đây là điểm phân biệt chúng với liên cầu khuẩn.
Chịu đƣợc điều kiện khô, nóng (nhiệt độ 500C trong 30 phút vẫn sống).[6] Có khả năng lên men đƣờng glucose, lactose, mannose, saccarose, không lên men đƣờng galactose. Staphylococcus aureus lên men mannitol.[8] Sức đề kháng Staphylococcus aureus có đề kháng với nhiệt độ và hóa chất cao hơn các vi khuẩn không có nha bào khác. Nhiệt độ 800C diệt vi khuẩn trong 1 giờ. Đun sôi 1000C chết sau 1-2 phút.
Staphylococcus aureus dễ bị tiêu diệt bởi các thuốc sát trùng thông thƣờng nhƣng đề kháng với môi trƣờng khô và đóng băng. Ở nơi khô ráo, Staphylococcus aureus sống từ 4 - 5 tháng.[6] Các enzyme và độc tố - Hemolysin: có 4 loại hemolysin đƣợc xác định là , β, và . Một chủng tụ cầu có thể tạo thành nhiều hơn một loại hemolysin. Đó là những phẩm vật bản chất protein gây tan máu β nhƣng tác động khác nhau trên những hồng cầu khác nhau.
Chúng có tính sinh kháng. Một vài loại hemolysin gây hoại tử da tại chổ và giết chết súc vật thí nghiệm. 8 - Leucocidin: là nhân tố giết bạch cầu của nhiều loài động vật, bản chất protein, không chịu nhiệt. Tụ cầu gây bệnh có thể bị thực bào nhƣ tụ cầu không gây bệnh nhƣng lại có khả năng phát triển bên trong bạch cầu.
- Coagulase: làm đông huyết tƣơng ngƣời hoặc thỏ chống đông với citrat natri hoặc oxalat natri. Coagulase làm dính tơ huyết vào bề mặt vi khuẩn và do đó hình nhƣ cản trở sự thực bào. Tất cả các chủng S. aureus đều có coagulase dƣơng tính.
- Hyaluronidase: thủy phân acid hyaluronic của mô liên kết, giúp vi khuẩn lan tràn vào mô. - β-lactamase: sự đề kháng penicillin của tụ cầu vàng là do đa số tụ cầu vàng sản xuất đƣợc enzyme b-lactamase.