MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Khu Bảo tồn Đất ngập nước (KBT ĐNN) Láng Sen được thành lập từ năm 2004, nằm trên xã Vĩnh Lợi, Vĩnh Đại, huyện Tân Hưng, Long An, được xem như một bồn trũng nội địa thuộc vùng trũng rộng lớn Đồng Tháp Mười - vùng đất ngập nước của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). KBT ĐNN có diện tích tự nhiên khoảng 5.030 ha, chia thành ba phân khu chức năng: Phân khu sinh thái; Phân khu rừng kinh tế; Phân khu đa dạng sinh học. Với địa hình và hệ thống sông rạch tự nhiên, khu vực này được xem như một vùng đầm lầy ngập nước chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Cửu Long và ngập lũ hàng năm, có sự đa dạng về hệ sinh thái: Rừng tràm, rừng ven sông, đồng cỏ ngập nước theo mùa, thủy vực nước chảy [1].
Ngày 22-5-2015, KBT ĐNN Láng Sen chính thức được công nhận thành Khu Ramsar thứ 2.227 trên thế giới và là khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam [2]. KBT ĐNN Láng Sen là vùng còn giữ được những nét hoang sơ của tự nhiên khi ít chịu tác động từ con người.000 ha quanh năm ngập nước tạo nên một vùng đất với đầy đủ những nét đặc trưng nhất của Đồng Tháp Mười. Trong đó hệ sinh thái rừng tràm chiếm 57%, lung bàu đầm sen chiếm 11%, đồng cỏ ngập nước chiếm 29%. Đây là một trong những khu vực còn sót lại đại diện cho hệ sinh thái rừng ngập nước Đồng Tháp Mười, với nhiều hệ động thực vật đa dạng và phong phú [2].
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, các công trình nghiên cứu về thành phần loài cá ở KBT ĐNN Láng Sen chưa nhiều và chưa được đầu tư. Do vậy, việc nghiên cứu thành phần các loài cá KBT ĐNN Láng Sen, tỉnh Long An là cần thiết nhằm cung cấp các dẫn liệu khoa học cho các nhà quản lí. Đồng thời, kết quả của đề tài làm cơ sở đánh giá tình hình nguồn lợi, nguyên nhân ảnh hưởng, từ đó đề xuất những biện pháp bảo vệ, bảo tồn nguồn lợi cá ở nơi đây. Bên cạnh đó, đề tài sẽ góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho KBT ĐNN Láng Sen và vùng Đồng Tháp Mười.
2 Xuất phát từ những lí do trên, đề tài “Điều tra hiện trạng thành phần loài cá tại Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen, tỉnh Long An” được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu Điều tra hiện trạng thành phần loài cá tại KBT ĐNN Láng Sen góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu cho KBT ĐNN Láng Sen, tỉnh Long An. Đối tượng nghiên cứu Các loài cá và mẫu nước ở KBT ĐNN Láng Sen. Nội dung nghiên cứu 1.
Thu thập các loài cá ở KBT ĐNN Láng Sen vào mùa mưa và mùa khô. Định loại các loài cá và sắp xếp vào hệ thống phân loại. Thống kê danh sách các loài cá quý hiếm. Phân tích một số chỉ tiêu chất lượng nước vào mùa mưa và mùa khô.
Phạm vi nghiên cứu 1. Các loài cá và mẫu nước ở KBT ĐNN Láng Sen thu được trong những đợt đi thu mẫu từ tháng 12/2018 đến tháng 9/2019. Vì thời gian và kinh phí có hạn nên tác giả chỉ khảo sát và thu mẫu ở một số địa điểm; phân tích một vài thông số chất lượng nước mặt như: nhiệt độ, pH, nồng độ ôxi hòa tan, độ mặn, độ dẫn điện. Lược sử nghiên cứu cá ở nam bộ và Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen 1.
Lược sử nghiên cứu cá ở Nam Bộ Các công trình nghiên cứu về cá nước ngọt ở Nam Bộ nói chung và ở khu vực ĐBSCL đã đạt được rất nhiều kết quả. Đặc biệt, trong những năm gần đây, nguồn lợi cá ở ĐBSCL được quan tâm nên có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học cho cả khu vực và các khu vực nhỏ hơn được tiến hành. Công trình nghiên cứu tiêu biểu của Mai Đình Yên và Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan (1992), “Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ” thu mẫu tại sông Đồng Nai, sông Vàm Cỏ, sông Tiền, sông Hậu, Đồng Tháp Mười, U Minh và Phú Quốc với 255 loài [3]. Trương Thủ Khoa, Trần Thị Thu Hương (1993), “Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” với 173 loài, 99 giống, 39 họ và 13 bộ [4].
Hoàng Đức Đạt, Thái Ngọc Trí (2001), “Xây dựng bộ mẫu các loài cá nước ngọt ở các tỉnh phía Nam Việt Nam” đã xây dựng bộ mẫu của 120 loài cá thuộc 41 họ, 14 bộ [5]. Đinh Minh Quang đã thu được 68 loài cá thuộc 50 giống, 29 họ trong đó có 10 loài có nguồn gốc từ biển thuộc 8 giống trong 5 họ đăng trên tạp chí khoa học Cần Thơ (2008:10 213-220) “Dẫn liệu về thành phần cá trên lưu vực sông Hậu thuộc địa phận An Phú - An Giang” [6]. Công trình “Điều tra thành phần loài và xây dựng bộ mẫu về các loài cá có giá trị kinh tế trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp” của Phạm Đình Văn (2010) đã xác định được 119 loài, 81 giống, 39 họ thuộc 12 bộ cá có giá trị kinh tế trên địa bàn tỉnh [7]. Dự án NEF - CTU của các tác giả Trần Đắc Định, Nguyễn Thanh Phương, Hà Phước Hùng, Trần Xuân Lợi, Mai Văn Hiếu, Tô Thị Mỹ Hoàng, Taki Yasuhiko, Komoda Makoto, Natori Yoshihiro, Utsugi Kenzo, Shibukawa Koichi, Oizumi Tomoko, Ottomanski Stefan (2013) đã xuất bản cuốn sách “Mô tả định loại cá đồng bằng sông Cửu Long Việt Nam” mô tả 322 loài cá thu được, trong đó 312 loài thu 4 mẫu được trong vùng nước ngọt và nước lợ, 10 loài cá biển thu được ở vùng cửa sông [8].
Cao Hoài Đức và cs (2013 - 2014), “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở lưu vực sông Cái Lớn - tỉnh Kiên Giang”, đã xác định được 117 loài cá, thuộc 91 giống, 50 họ, 16 bộ và có 5 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) [9]. Lâm Hồng Ngọc (2014), “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá lưu vực hạ lưu sông Hậu thuộc tỉnh Trà Vinh và tỉnh Sóc Trăng” thu được 413 mẫu cá với 113 loài, xếp trong 87 giống, 47 họ, 16 bộ [10]. Đề tài “Nghiên cứu đa dạng sinh học khu hệ cá ĐBSCL và sự biến đổi của chúng do tác động của biến đổi khí hậu và sự phát triển kinh tế xã hội” của Thái Ngọc Trí (2015) đã thu thập và xác định được 216 loài cá thuộc 60 họ, 19 bộ ở ĐBSCL, ghi nhận mới 6 loài cá thuộc 3 họ, 2 bộ cho khu hệ cá ĐBSCL (4 loài thuộc bộ cá Chép và 1 loài thuộc bộ cá Vược) trong đó có 19 loài cá thuộc 11 họ, 8 bộ bị đe dọa ở các mức độ khác nhau [11]. Từ các công trình trên cho thấy, cơ sở dữ liệu về khu hệ cá ở Nam Bộ nước ta khá đa dạng và phong phú.
Cùng với sự phát triển của khoa học - xã hội, các nghiên cứu về khu hệ cá nội địa Việt Nam đã có những bước phát triển trên nhiều mặt. Các công trình nhìn chung đã thống kê được thành phần loài và không bó hẹp trong những phạm vi nhất định. Mặt khác, các công trình ngày càng đi sâu vào nghiên cứu sinh thái, tình hình nguồn lợi; từ đó đề xuất các hướng khai thác, bảo vệ và phát triển bền vững nguồn lợi cá, phục vụ cho thực tiễn đời sống của con người. Thực tiễn còn tồn tại một số vấn đề trong quá trình nghiên cứu như: trang thiết bị, kĩ thuật chưa thật đáp ứng tối ưu cho nghiên cứu; chưa thống nhất sử dụng chung một hệ thống phân loại nên gây khó khăn cho việc đánh giá, đối chiếu và so sánh.
Các nghiên cứu mới chưa được cập nhật, bổ sung một cách kịp thời; chưa có nhiều công trình với quy mô toàn diện và đi sâu vào sự biến động số lượng và thành phần loài do tác động con người, những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu toàn cầu như: xây hồ chứa nước, làm đập thủy điện trong và ngoài nước, làm ô nhiễm môi trường nước và sự tăng nhiệt độ, sự xâm lấn của nước biển,. Lược sử nghiên cứu cá ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen Từ̀năm 1998 đến nay, có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh học và tài nguyên thiên nhiên do các tổ chức trong và ngoài nước thực hiện ở vùng đất ngập nước Láng Sen nhằm đánh giá tổng quan về đa dạng sinh học làm luận cứ khoa học cho việc thành lập khu bảo tồn thiên nhiên và đạt các tiêu chí để trở thành Khu Ramsar thứ 2.227 trên thế giới. Theo báo cáo “Điều tra khảo sát nguồn lợi thủy sản, nguồn nước năm 2014 và phương hướng năm 2015” và “Báo cáo ghi nhận số liệu hàng tháng”, KBT ĐNN Láng Sen đã điều tra, định loại sơ bộ được 86 loài thuộc 25 họ (và 3 phân họ), 9 bộ; Công trình “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố cá ở Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen”, trước đây của Hòa và ctv, 2006 đã xác định được 80 loài cá [13]. Theo báo cáo tổng hợp “Đánh giá sinh khối và trữ lượng cá Khu Bảo tồn Đất ngập nước Láng Sen năm 2016” của tác giả Trần Đắc Định và Tiêu Văn Út đã định loại được 82 loài cá thuộc 27 họ và 8 bộ, cụ thể theo bảng 1.