MỞ ĐẦU Y học cổ truyền phương đông có một lịch sử lâu đời và là một kho tàng y dược phong phú từ hàng nghìn năm. Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học nói chung, y học nói riêng, nền y học cổ truyền đang có những đóng góp to lớn vào việc phòng và chữa bệnh, làm tăng tuổi thọ con người và nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhiều hợp chất hóa học có nguồn gốc từ thiên nhiên được sử dụng làm thuốc có hiệu quả để trị các bệnh ung thư, thấp khớp, sốt rét, ….Ngoài ra, người ta còn có thể sử dụng các dịch chiết của thảo dược làm thực phẩm chức năng trong việc hỗ trợ chữa bệnh. Với những kết quả đã đạt được cho thấy việc nghiên cứu thành phần hóa học từ những cây cỏ thiên nhiên có một ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, đặc biệt ở Việt Nam, một nước có thảm thực vật phong phú, có nguồn tài nguyên dược liệu quý giá.
Cây đủng đỉnh có tên khoa học là Caryota mitis L. thuộc chi Caryota, họ Cau (Arecaceae) là một thực vật phổ biến của Việt Nam. Trong dân gian, người ta sử dụng quả đủng đỉnh để ngâm rượu trị bệnh thấp khớp, trên thị trường cũng bày bán sản phẩm rượu ngâm loại quả này. Bệnh thấp khớp là một bệnh khá bổ biến trên thế giới mà vẫn chưa có phương pháp điều trị hiệu quả.
Và cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học cũng như những thử nghiệm sinh học về khả năng trị bệnh thấp khớp của quả đủng đỉnh. Do đó, trong nghiên cứu này, tôi sẽ tiến hành khảo sát thành phần hóa học trên phân đoạn cao được chiết từ loại quả này. CHI CARYOTA[4][5] Theo tác giả Võ Văn Chi, trên thế giới chi Caryota có 12 loài, phân bố rộng từ Srilanka, Ấn Độ, các nước Đông Dương, phía nam Trung Quốc, Myanmar, Thái Lan cho tới quần đảo Solomon và phía bắc Australia. Theo Võ Văn Chi và Phạm Hoàng Hộ, chi Caryota ở Việt Nam có 6 loài: Đủng đỉnh (Caryota mitis L.
Móc cách hợp (Caryota sympetela Gagnep. Móc bông đơn (Caryota monostachya Becc. Móc nương (Caryota rumphiana BL. Đùng đình Bắc Sơn (Caryota bacsonensis Magalon.
GIỚI THIỆU VỀ CÂY ĐỦNG ĐỈNH 1. Khái quát Cây đủng đỉnh có tên khoa học là Caryota mitis L., thuộc họ Cau (Arecaceae). Ngoài ra, cây đủng đỉnh còn có một số tên gọi khác như: đùng đình, móc. Ở một số nước khác, đủng đỉnh còn có tên là: jaggery palm, hill palm, fishtail palm (Anh), caryote (Pháp).
Sự phân loại khoa học Giới Plantae Lớp Arecidae 3 Bộ Arecales Họ Acrecaceae Chi Caryota Loài C.1: Cây, lá, hoa và quả đủng đỉnh 4 1. Mô tả thực vật[1][3][4] Cây bụi nhỏ, cao 2 - 8 m. Thân do nhiều bẹ lá tạo thành. Lá kép lông chim 2 lần, dài 1 - 2 m hoặc hơn, gồm nhiều lá chét mọc so le, hình tam giác lệch, gốc nhọn, đầu bằng rộng, mép có răng cưa rất nhỏ, không đều, dài 15 - 20 cm, gân lá xếp như nạn quạt.
Cụm hoa gồm 4 - 6 bông mo, mỗi bông mo dài 30 – 40 cm, phân nhánh, mang hoa dày đặc; hoa đơn tính cùng gốc; mỗi hoa cái kèm theo hai hoa đực trên mỗi đốt; hoa đực có lá đài dày, hình bầu dục rộng, cánh hoa thuôn, tù và dai, nhị 17 - 22, hình dải, trung đới màu nâu; hoa cái gần hình cầu, có hai lá bắc ở gốc giống như các lá đài, tràng 3, bầu hình bầu dục ngược, có ba cạnh. Quả hình cầu, đường kính 1,4 - 1,5 cm, nhẵn, màu đen, có lá đài tồn tại; hạt 1, hình bầu dục. Mùa hoa: Tháng 3 - 4, mùa quả: Tháng 10 - 11. Phân bố Đủng đỉnh là loài cây nhiệt đới tương đối điển hình.
Cây phân bố rải rác khắp các nước từ Ấn Độ, Xrilanca đến Malaysia, Thái Lan, Lào, Campuchia, Indonesia và Việt Nam. Ở Việt Nam, cây cũng phân rải rác ở các tỉnh từ vùng núi thấp (dưới 1000 m) đến vùng trung du và đồng bằng. Cây thường mọc rải rác ở ven rừng thứ sinh, trong các lùm bụi gần khu dân cư. Còn được trồng ở nhiều nơi làm cảnh.
Đủng đỉnh ra hoa quả nhiều hàng năm hoặc cách năm. Tuy nhiên, lượng cây con mọc từ hạt thấy ít. Cây có khả năng sinh chồi khỏe từ gốc. Một năm cây mẹ có thể tạo thêm 3-5 cây con, sau 10 năm trồng đã thành bụi lớn.
CÔNG DỤNG DÂN GIAN[1][3][5] 1. Công dụng trong dân gian Nhân dân trồng đủng đỉnh để lấy lá lợp nhà, chằm áo tơi, làm cổng chào. Sợi đủng đỉnh rất dai để khâu nón, mũ lá, áo tơi, làm bàn chải và chổi. Thân cây cắt ngang cho một lượng lớn dịch ngọt để bốc hơi thành đường rồi cho lên men sẽ được rượu.
Quả đủng đỉnh không bóc vỏ nấu ăn sẽ gây cảm giác ngứa rát ở cổ, môi và lưỡi do có nhiều tinh thể hình kim trong vỏ quả giữa. Nhưng nếu tách phần vỏ quả giữa ra thì quả có vị ngọt, dễ chịu, thường tẩm giấm và ngào với mật để ăn. Bẹ đủng đỉnh được dùng làm thuốc chữa đái ra máu, đái rắt, tiểu tiện không thông, lỵ ra máu, bạch đới, rong kinh, rong huyết, ho ra máu. Ngày 20 g đốt tồn tính tán bột uống hoặc sắc uống.
Nhân quả giã nát, đắp chữa đau nửa đầu. Nõn thân 20-30 g sắc với 400 ml nước, còn 100 ml uống có tác dụng nhuận tràng. Quả đủng đỉnh ngâm rượu trị bệnh thấp khớp, giúp tuần hoàn máu huyết. Các bài thuốc có đủng đỉnh 1.
Chữa băng huyết Bẹ đủng đỉnh phơi khô, phối hợp với xơ mướp lượng bằng nhau, đốt thành tro. Mỗi lần uống 6 g với ít rượu, hoặc nước muối vào lúc đói (Nam thần dược hiệu). Chữa rong huyết có đau bụng Bẹ đủng đỉnh 80 g, kinh giới 80 g, hương phụ 40 g. Bẹ đủng đỉnh đốt tồn tính, kinh giới sao đen, hương phụ tứ chế (chế với giấm, nước muối, nước tiểu trẻ em và rượu, phơi khô).
Tất cả tán nhỏ, rây lấy bột mịn. Mỗi lần uống 8 - 12 g, ngày 2 - 3 lần. Chữa khí hư Rễ đủng đỉnh, rễ cau, rễ tre, rễ cọ, mỗi thứ 12 g. Thái nhỏ, sắc đặc, còn 1 bát, chia 2 lần uống trong ngày, dùng 4 - 5 ngày.
Chữa động thai Rễ đủng đỉnh, rễ chuối rừng, rễ chuối hột, lượng bằng nhau, sao vàng, sắc uống. Chữa ho ra máu Bẹ đủng đỉnh đốt tồn tính 10 g, qua lâu nhân 12 g, sắc uống trong ngày. THÀNH PHÂN HÓA HỌC VÀ HOẠT TÍNH SINH HỌC 1. Nghiên cứu trong nước[2] Tác giả Vũ Đức Cảnh đã tiến hành khảo sát thành phần hóa học bông mo của cây móc có tên khoa học là Caryota urens L.
– đây là một loài cùng chi với cây đủng đỉnh (Caryota mitis L.) Tác giả đã cô lập được 3 hợp chất trong bông mo của cây móc: - Anthraquinone 7 - Acid oleanolic - 3,7,11,15- tetramethylhexadecanol Khảo sát độc tính cấp của dược liệu, với mức liều cao nhất có thể cho chuột uống là 150 g/kg không thấy chuột nào biểu hiện ngộ độc trong thời gian theo dõi. Khảo sát hoạt tính tăng lực của dược liệu, kết quả cho thấy dược liệu có tác dụng trong nghiệm pháp chuột bơi. Nghiên cứu ngoài nước[8][9][10][13] Nhóm nghiên cứu của Huang đã khảo sát thành phần hóa học của cây đủng đỉnh (Caryota mitis L.) cho thấy quả của cây rất giàu thành phần proanthocyanidin. Quả đủng đỉnh có chứa muối calcium oxalate hình kim gây ngứa nhức nhối khi tiếp xúc.
Nhóm nghiên cứu của Devanesan Arul Ananth đã khảo sát hoạt tính chống oxi hóa và kháng khuẩn của cây móc có tên khoa học là Caryota urens L. – một loài cùng chi với cây đủng đỉnh (Caryota miitis L. Dịch chiết methanol của vỏ quả cây C.urens cho thấy hoạt tính kháng khuẩn E. ĐIỀU KIỆN THỰC NGHIỆM 2.
Hóa chất - Hạt silica gel cỡ hạt 40-60 m dùng cho pha thường và hạt silica gel pha đảo cỡ hạt 30-50 m, và hạt gel Sephadex LH-20. - Sắc ký lớp mỏng pha được thực hiện trên bản mỏng tráng sẵn TLC silica gel 60 F254 (Merck) dùng cho pha thường và Rp18 F254s (Merck) cho pha đảo. - Dung môi dùng cho quá trình thí nghiệm được chưng cất lại gồm : N-hexane (Ts = 69 0C) Chloroform (Ts = 61 0C) Ethyl acetate (Ts =77 0C ) Acetone (Ts =56 0C) Ethanol (Ts =78 0C) Methanol (Ts =65 0C) Nước cất (Ts =100 0C) - Thuốc thử hiện hình các vết chất hữu cơ trên bản mỏng: Dùng H2SO4/EtOH, FeCl3/EtOH và soi đèn UV. Thiết bị - Máy đo điểm chảy.
- Máy cộng hưởng từ hạt nhân (Bruker Ultrashield 500 Plus). - Máy cô quay chân không. - Máy đánh siêu âm. - Đèn UV soi tử ngoại bước sóng 254nm và 365nm hiệu UVITEC.
- Cân phân tích AB 265 - S và cân kỹ thuật PB 602-S. - Thiết bị gia nhiệt hồng ngoại, bếp điện. Dụng cụ - Becher 1000 ml, 500 ml, 100 ml, 50 ml. - Bình cô quay 1000 ml, 500 ml, 250 ml, 100 ml.
- Erlen 500 ml, 250 ml, 100 ml. - Cột thủy tinh đường kính từ 2 - 5.5 cm, phễu lọc, ống nghiệm, ống đong và các dụng cụ khác… 2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 2. Nguyên liệu Vỏ quả đủng đỉnh Caryota mitis L.
họ Cau (Arecaceae) được thu hái tại tỉnh Long An, Việt Nam. Nguyên liệu được TS. Lưu Hồng Trường, Viện Sinh thái học Miền Nam, giám định tên khoa học. Quả cây đủng đỉnh thu hái với số lượng nhiều, thu lấy vỏ quả rửa sạch, phơi khô, xay nhỏ, mẫu này được sử dụng cho phần nghiên cứu.
Phương pháp tiến hành Tiến hành ngâm dầm bột vỏ quả cây trong ethanol, sau đó lấy dịch chiết cô quay thu hồi dung môi thu được cao ethanol. Tiến hành chiết rắn-lỏng cao ethanol với các loại dung môi có độ phân cực tăng dần như n-hexane, chloroform, ethyl acetate, methanol thu được các loại cao tương ứng. Sử dụng kỹ thuật sắc ký cột với chất nhồi cột là silica gel, silica gel pha đảo Rp-18, gel sephadex LH-20, kết hợp sắc ký lớp mỏng để cô lập các chất tinh khiết. Phát hiện chất bằng đèn tử ngoại ở hai bước sóng 254 nm và 365 nm hoặc dùng thuốc thử là dung dịch 10% H2SO4/EtOH hay 1% FeCl3/EtOH.
Phương pháp xác định cấu trúc hóa học các hợp chất Việc xác định cấu trúc được thực hiện bằng các phương pháp phổ nghiệm như 1H-NMR, 13C-NMR, DEPT, HSQC, HMBC, COSY, HR-MS, năng lực triền quang và so sánh với số liệu phổ từ tài liệu tham khảo. ĐIỀU CHẾ CÁC LOẠI CAO 2. Điều chế cao ethanol Sử dụng phương pháp ngâm dầm ở nhiệt độ phòng để điều chế cao ethanol.