Luận văn thạc sĩ: Khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác (Oroxylum indicum)

Luận văn thạc sĩ hóa học nghiên cứu khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác oroxylum indicum l họ chùm ớt nguyễn vũ mai trang, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2012

72
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. MÔ TẢ THỰC VẬT

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DƯỢC TÍNH

1.3. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM

2.1. NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT THIẾT BỊ

2.2. ĐIỀU CHẾ CÁC CAO PHÂN ĐOẠN

2.3. CÔ LẬP CÁC HỢP CHẤT HỮU CƠ TRONG CAO ETYL AXETAT

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT OI-3

3.2. KHẢO SÁT CẤU TRÚC HÓA HỌC CỦA HỢP CHẤT OI-4

4. CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT

TÀI LIỆU TIẾNG ANH

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cây núc nác Oroxylum indicum

Cây núc nác, với tên khoa học là Oroxylum indicum, thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae). Cây có chiều cao từ 7 đến 12 mét, có thể lên tới 20-25 mét. Thân cây nhẵn, ít phân nhánh, vỏ màu xám tro. Lá cây có hình dạng lông chim, dài từ 7,5 đến 15 cm và rộng từ 5 đến 6,5 cm. Hoa của cây có màu nâu đỏ sẫm, mọc thành chùm dài ở đầu cành. Quả nang dài từ 50 đến 80 cm, bên trong chứa hạt. Cây núc nác phân bố rộng rãi ở Việt Nam và một số nước châu Á khác như Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ. Cây được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau tại các vùng miền, như nam hoàng bá, mộc hồ điệp, và nhiều tên gọi khác trong các ngôn ngữ dân tộc. Việc nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây núc nác không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc thực vật mà còn mở ra cơ hội ứng dụng trong y học và dược phẩm.

II. Thành phần hóa học của lá cây núc nác

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng lá của Oroxylum indicum chứa nhiều hợp chất có giá trị dược lý. Các hợp chất flavonoid như Baicalein, Chrysin, và Oroxylin A đã được cô lập từ lá cây. Những hợp chất này có tác dụng chống oxy hóa, kháng viêm, và bảo vệ gan. Nghiên cứu cho thấy chiết xuất từ lá có khả năng chống viêm đáng kể, đặc biệt là ở liều lượng 300 mg/kg trọng lượng cơ thể. Ngoài ra, lá cây còn có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm mạnh mẽ, được chứng minh qua các thử nghiệm trên nhiều loại vi khuẩn và nấm gây bệnh. Việc phân tích thành phần hóa học của lá cây núc nác không chỉ giúp xác định các hợp chất có lợi mà còn hỗ trợ trong việc phát triển các sản phẩm dược phẩm an toàn và hiệu quả.

III. Ứng dụng thực tiễn của cây núc nác trong y học

Cây núc nác đã được sử dụng trong y học cổ truyền để điều trị nhiều loại bệnh. Các nghiên cứu cho thấy lá cây có tác dụng trong việc điều trị viêm phế quản, ho lâu ngày, và các bệnh lý liên quan đến gan. Các bài thuốc dân gian sử dụng lá cây núc nác đã được ghi nhận với hiệu quả cao trong việc giảm triệu chứng và hỗ trợ điều trị. Việc chiết xuất và phân tích các hợp chất từ lá cây không chỉ giúp khẳng định giá trị dược lý mà còn mở ra hướng đi mới cho việc phát triển các loại thuốc từ thiên nhiên. Sự kết hợp giữa nghiên cứu hiện đại và y học cổ truyền có thể tạo ra những sản phẩm dược phẩm an toàn, hiệu quả, và thân thiện với sức khỏe con người.

IV. Kết luận

Nghiên cứu về thành phần hóa học của lá cây núc nác (Oroxylum indicum) đã chỉ ra rằng cây này chứa nhiều hợp chất có giá trị dược lý. Các hợp chất flavonoid trong lá cây không chỉ có tác dụng chống oxy hóa mà còn có khả năng kháng viêm, kháng khuẩn, và bảo vệ gan. Việc khai thác và ứng dụng các hợp chất này trong y học có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe con người. Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu và phát triển các sản phẩm từ cây núc nác là cần thiết để tận dụng tối đa giá trị của loại cây này trong y học hiện đại.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN Trang 2 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang 1. MÔ TẢ THỰC VẬT [2] - Cây núc nác có tên khoa học là Oroxylum indicum L., thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae). - Cây to cao 7-12m, có thể cao tới 20-25m, thân nhẵn, ít phân nhánh. Vỏ cây màu xám tro, mặt trong màu vàng.

Lá xẻ 2-3 lần lông chim. Lá chét hình bầu dục, nguyên, đầu nhọn, dài 7,5-15cm, rộng 5-6,5cm. Hoa màu nâu đỏ sẫm mọc thành chùm dài ở đầu cành, dài khoảng 10 cm, 5 nhị trong có có một nhị nhỏ hơn. Quả nang to, dài tới 50-80cm, rộng 5-7cm, bên trong chứa hạt, bao quanh có một màng mỏng, bóng và trong, hình chữ nhật.

- Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi nước ta, ở miền Bắc cũng như ở miền Nam. Cây còn mọc ở Trung Quốc, Malaysia, Ấn Độ, Lào, Campuchia. - Các tên gọi khác: + Ở Việt Nam: Núc nác, nam hoàng bá, mộc hồ điệp, mạy ca (Tày), co ca liên (Thái), p`sờ lụng (K`ho), kờ lúc (K`dong), póc ta lốp (Ba Na). + Ở Ấn Độ: Syonaka + Ở Trung Quốc: Bạch ngọc nhi, thiên trương chỉ, triểu giản.

CÁC NGHIÊN CỨU VỀ DƯỢC TÍNH Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng Oroxylum indicum chứa nhiều chất chống oxy hóa, chống ung thư, bảo vệ gan. Các tác dụng khác như tính kháng khuẩn, giảm đau và bảo vệ dạ dày của Oroxylum indicum cũng đã được báo cáo. Hoạt tính chống viêm [17, 31] Trang 3 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang Chiết xuất dung dịch nước từ lá Oroxylum indicum có khả năng chống viêm. Hoạt tính chống viêm đã được nghiên cứu trên mô hình cơ thể chuột phù chân.

Dung dịch nước chiết xuất từ lá Oroxylum indicum có hoạt tính chống viêm đáng kể ở liều lượng 150 mg/kg và 300 mg/kg trọng lượng cơ thể. Với liều lượng 300 mg/kg trọng lượng cơ thể cho thấy hoạt động chống viêm là tối đa. Thông qua những nghiên cứu chỉ ra rằng Oroxylum indicum có thể hữu ích trong điều trị bệnh viêm mạn tính như chứng viêm khớp. Hoạt tính chống độc ở gan [28] Trong y học Ấn Độ, lá Oroxylum indicum được sử dụng rộng rãi như cách phòng các rối loạn gan.

Các dịch trích khác nhau của Oroxylum indicum đều có hoạt tính chống độc gan. Các dịch trích ete dầu, clorofom, etanol và dung dịch nước được tiêm vào chuột nhiễm bệnh với liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thể. Thử nghiệm cho thấy chuột được điều trị và dịch trích etanol có hiệu quả đáng kể nhất. Hoạt tính tẩy giun sán Năm 2000, Downing JE [10] đánh giá hoạt tính tẩy giun sán của Oroxylum indicum chống trứng giun lươn của ngựa trong ống nghiệm và so sánh nó với Ivermectin – một trong những thuốc tẩy giun hiệu quả.

Sử dụng Oroxylum indicum với nồng độ 2×10-5 g/mL hoặc lớn hơn ngăn chặn được quá trình nở trứng của giun lươn. Với nồng độ Oroxylum indicum 2×10-1 g/mL thì quá trình nở đạt 0%. Tại nồng độ 2×10-4 g/mL hoặc lớn hơn thì khả năng sống của trứng và ấu trùng giun lươn là 0%. Kết quả của nghiên cứu cho rằng Oroxylum indicum có thể là một chất tẩy giun thích hợp chống lại giun lươn của ngựa.

Hoạt tính chống ung thư Năm 1992, Tepsuwan A cùng các cộng sự [29] công bố hoạt tính gây độc gen và hoạt tính phát triển tế bào niêm mạc dạ dày của chuột đực F344 bằng phương pháp ngắn hạn trong cơ thể sau khi uống một phần nhỏ nitroso hóa của Oroxylum indicum Vent. Kết quả cho thấy nitroso hóa của Oroxylum indicum có tính gây độc gen và phát triển tế bào ở niêm mạc dạ dày trong cơ thể chuột. Năm 2001, Nakahara K cùng các cộng sự [21] đã báo cáo rằng chiết xuất metanol của Oroxylum indicum ức chế mạnh mẽ sự đột biến của TRP-P-1 trong một Trang 4 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang thử nghiệm Ames. Thành phần chính kháng đột biến được xác định là baicalein với giá trị IC 50 là 2,78 ± 0,15 microM.

Sự kháng đột biến mạnh của chiết xuất với hàm lượng cao Baicalein (3,95 ± 0,43%, trọng lượng khô). Baicalein có tác dụng như chất giảm đột biến vì nó ức chế N-hydroxyl của TRP-P-2. Năm 2006, Narisa K cùng các cộng sự [22] đã thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào trên chiết xuất etanol 95% của Oroxylum indicum. Các hoạt động gây độc tế bào xác định bởi tác dụng chống tăng sinh dòng tế bào Hep-2.

Kết quả chiết xuất etanol biểu hiện hoạt tính động gây độc tế bào chống lại dòng tế bào Hep-2 ở nồng độ 2,5 μg/ml. Năm 2007, Roy MK cùng các cộng sự [24] chỉ ra rằng baicalein có tác dụng chống khối u trên các tế bào ung thư ở người và chiết xuất Oroxylum indicum có thể được sử dụng trong điều trị ung thư bổ sung. Hoạt tính bảo vệ dạ dày Năm 2007, Zaveri M cùng các cộng sự [34] báo cáo hoạt tính bảo vệ dạ dày của chiết xuất cồn 50% từ vỏ, rễ cây Oroxylum indicum và các phân đoạn khác: eter dầu, clorofom, etyl axetat và n-butanol. Trong đó, phân đoạn n-butanol cho sự ức chế hiệu quả tối đa đối với tổn thương dạ dày.

Năm 2010, Hari Babu T cùng các cộng sự [12] đã công bố các flavonoid trong Oroxylum indicum Vent. đã được cô lập như chrysin, baicalein, oroxylin có nhiệm vụ bảo vệ dạ dày. Hoạt tính kháng khuẩn Năm 1998, Ali R. cùng các cộng sự [5] đã nghiên cứu tác dụng của chiết xuất dichloromethane Oroxylum indicum chống lại các các loại nấm da và nấm thối gỗ và báo cáo hoạt tính động kháng nấm mạnh mẽ trong chiết xuất dichloromethane Oroxylum indicum.

Năm 2003, Kawsar U cùng các cộng sự [15] đã công bố hoạt tính động chống vi khuẩn của các chiết xuất khác nhau của Oroxylum indicum đã được sàng lọc chống lại 14 loại vi khuẩn gây bệnh (5 vi khuẩn gram dương và 9 vi khuẩn gram âm) và 7 loại nấm gây bệnh bằng cách sử dụng phương pháp khuếch tán đĩa. Nồng độ ức chế tối thiểu của hai hợp chất flavonoid được cô lập từ Oroxylum indicum Trang 5 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang được xác định chống lại vi khuẩn hình que, tụ cầu khuẩn, Escherichia coli và vi khuẩn bệnh lị Shigella có giá trị khoảng 64-128 μg/ml. Đến năm 2008, một nghiên cứu của Thatoi HN cùng cộng sự [30] tiếp tục khẳng định hoạt tính kháng khuẩn bằng cách sử dụng các chủng vi khuẩn khác nhau. MỘT SỐ ĐƠN THUỐC DÂN GIAN CÓ VỊ NÚC NÁC [2,37]  Chữa viêm phế quản, ho lâu ngày: mộc hồ điệp 10g, đường phèn hay kẹo mạch nha 30g, nước 300ml, sắc còn 200ml.

Chia 3 lần uống trong ngày.  Chữa lở loét do sơn ăn: vỏ núc nác tươi (số lượng tùy theo vết loét) giã nát, thêm rượu 30-400 vào, cứ 1 phần vỏ, 3 phần rượu, ngâm khoảng 2-3giờ. Dùng rượu này bôi vào nơi lở sơn. Ngày bôi 3-4 lần.

Chỉ 2-3 ngày là khỏi.  Viêm da ngứa lở, các tổn thương bị tiết dịch có biểu hiện bội nhiễm: - Thuốc uống: nam hoàng bá (sao qua) 16g, kim ngân 16g, kinh giới 16g, phòng phong 10g, chi tử 10g, đinh lăng 16g, sài hồ 16g, xuyên khung 10g, bạch chỉ 10g, sài đất 20g, lá bưởi bung 16g, uất kim 10g, cam thảo 10g. Cho các vị vào ấm, đổ 1 lít nước sắc còn 400ml, chia 2 – 3 lần uống trong ngày. - Thuốc rửa tại chỗ: nam hoàng bá 50g, lá kinh giới 30g, lá đinh lăng 30g.

Các thứ trên cho vào ấm, đổ nước nấu sôi, nhấc khỏi bếp cho nguội. Dùng nước này rửa các chỗ bị tổn thương, ngày 2 lần.  Trị bệnh sởi (bài thuốc dùng cho trẻ em): nam hoàng bá 6g, kinh giới 6g, ngân hoa 4g, lá dấp cá 5g, mã đề thảo 4g, sài đất 5g, liên kiều 4g, hoa hồng bạch 4g, sài hồ 4g, đương quy 4g, cam thảo 4g, huyền sâm 4g. Cho các vị vào ấm, đổ 2 bát nước sắc còn 1 bát, chia 3 – 4 lần uống trong ngày.

Nên kiêng gió, kiêng nước lạnh cho trẻ.  Hội chứng lỵ (đau bụng đi ngoài nhiều lần, phân có lẫn máu mũi, mùi tanh): - Nam hoàng bá 20g, hoàng liên 12g, khổ sâm 16g, cỏ sữa 20g, lá nhót 20g, hoài sơn 16g, liên nhục 16g, bạch truật 12g, chích thảo 12g, cỏ mực (sao đen) 20g. Sắc uống ngày 1 thang. Trang 6 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang - Nam hoàng bá 16g, búp ổi 12g, khổ sâm 16g, đinh lăng 20g, rau sam 20g, cỏ sữa 20, hoa hòe (sao đen) 16g, bạch truật (sao hoàng thổ) 12g, cây cứt lợn 16g, ngũ gia bì 16g, hoàng đằng 12g, chích thảo 12g.

Sắc uống ngày 1 thang. Kiêng chất tanh, dầu mỡ. Trang 7 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ THÀNH PHẦN HÓA HỌC • Năm 1953, Mehta CR và Mehta TP [19] đã tách từ hạt núc nác 1 chất glucoside : Tetuin (1) HO O OH O O HO HO O OH OH Tetuin (1) • Năm 1972, Subramanian SS và Nair AGR [27] đã cô lập từ vỏ thân cây núc nác các hợp chất:  Chrysin (2)  Oroxylin A (3)  Baicalein (4)  Scutellarein (5)  Baicalein-7-O-glucuronide (6)  Scutellarein-7-O-rutinoside (7) HO O HO O H3CO OH O OH O Chrysin (2) Oroxylin A (3) Trang 8 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang OH O HO O HO HO HO OH O OH O Baicalein (4) Scutellarein (5) HOOC O HO HO O O OH HO OH O Baicalein-7-O-glucuronide (6) OH O O CH3 OH OH OH O HO HO O O OH HO OH O Scutellarein-7-O-rutinoside (7) • Năm 1972, trong nghiên cứu tiếp theo, Subramanian SS and Nair AGR [26] đã cô lập từ lá núc nác được các hợp chất:  Baicalein-6-O-glucuronide (8)  Scutellarein-7-O-glucuronide (9) HO O HOOC O O HO HO O OH OH Baicalein-6-O-glucuronide (8) Trang 9 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang OH HOOC O HO O HO O OH HO OH O Scutellarein-7-O-glucuronide (9) • Năm 1977, Joshi K C, Prakash A và Shah R K [14] đã cô lập từ gỗ cây núc nác 2 hợp chất:  Prunetin (10)  β-Sitosterol (11) H3CO O OH O OH Prunetin (10) CH3 CH3 CH3 H H H HO β-Sitosterol (11) • Năm 1978, Dey AK, Mukherjee A, Das PC và Chatterjee A [9] đã cô lập từ lá hợp chất: Aloe emodin (12) Trang 10 Luan van Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Vũ Mai Trang O HO OH O OH Aloe emodin (12) • Năm 1979, Nair AGR cùng Joshi BS [20] đã cô lập được hợp chất: Oroxindin (13) HOOC O OCH3 HO HO O O OH OH O Oroxindin (13) • Năm 1980, Grover G S cùng Rao J Tirumala [11] cũng cô lập được từ hạt hợp chất Baicalein-6-O-glucoside là tên gọi của Tetuin (1).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thạc sĩ: Khảo sát thành phần hóa học của lá cây núc nác (Oroxylum indicum)" của tác giả Nguyễn Vũ Mai Trang, dưới sự hướng dẫn của Th.S. Lê Thị Thu Hương, trình bày một nghiên cứu chi tiết về thành phần hóa học của lá cây núc nác, một loại cây có giá trị dược liệu. Nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ các hợp chất có trong lá cây mà còn mở ra hướng đi mới cho việc ứng dụng trong y học và công nghệ sinh học. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về các thành phần hóa học và tiềm năng ứng dụng của chúng trong thực tiễn.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến hóa học và ứng dụng của các hợp chất tự nhiên, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam, nơi nghiên cứu về các hợp chất tự nhiên và hoạt tính sinh học của chúng. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của tinh dầu và trích ly phenolic từ củ riềng Alpina galanga Willd cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về các hợp chất tự nhiên và ứng dụng của chúng trong y học. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính kháng viêm của cây hầu vĩ tóc Uraria crinita sẽ giúp bạn hiểu thêm về các nghiên cứu tương tự trong lĩnh vực hóa học hữu cơ và dược liệu. Những tài liệu này sẽ mở rộng kiến thức của bạn về các hợp chất tự nhiên và ứng dụng của chúng trong cuộc sống.