Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong lịch sử y học cổ truyền, thảo mộc tự nhiên đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và điều trị nhiều loại bệnh lý. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hợp chất có nguồn gốc tự nhiên ngày càng được chú trọng nghiên cứu nhằm tìm kiếm những hoạt chất sinh học an toàn cho sức khỏe con người, hạn chế các tác dụng phụ không mong muốn thường gặp ở một số loại thuốc tổng hợp nhân tạo. Cây núc nác (Oroxylum indicum L.), thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae), là một loài dược liệu truyền thống được quan tâm nghiên cứu nhờ hàm lượng hợp chất flavonoid dồi dào. Nhóm hợp chất này sở hữu nhiều hoạt tính sinh học giá trị như chống oxy hóa, bảo vệ tế bào, ngăn ngừa xơ vữa động mạch, hỗ trợ phòng ngừa tai biến mạch máu não, chống thoái hóa gan, hạn chế lão hóa và giảm thương tổn do bức xạ.
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân hóa học của tác giả Nguyễn Vũ Mai Trang được thực hiện nhằm giải quyết các nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu cụ thể sau:
- Điều chế cao tổng và phân đoạn các phân đoạn cao chiết từ mẫu bột lá cây núc nác thu hái tại tỉnh Tuyên Quang.
- Ứng dụng các kỹ thuật sắc ký thích hợp (sắc ký bản mỏng, sắc ký cột silica gel) để phân lập và tinh chế các hợp chất hữu cơ sạch từ phân đoạn cao chiết tiềm năng.
- Xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất cô lập được thông qua các phương pháp phân tích phổ nghiệm hiện đại (phổ cộng hưởng từ hạt nhân một chiều 1D-NMR và hai chiều 2D-NMR) kết hợp đối chiếu với tài liệu khoa học chuyên ngành.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mẫu lá của cây núc nác (Oroxylum indicum L.), họ Chùm ớt (Bignoniaceae). Mẫu thực vật do TS. Phạm Văn Ngọt (Bộ môn Thực vật học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh) định danh.
- Phạm vi không gian: Mẫu lá thực vật được thu hái tại địa bàn tỉnh Tuyên Quang. Quá trình thực nghiệm chiết tách, cô lập được triển khai tại các phòng thí nghiệm thuộc Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh. Các phép đo phổ cộng hưởng từ hạt nhân được thực hiện tại Phòng Phân tích cấu trúc, Viện Hóa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (Hà Nội).
- Phạm vi thời gian: Đề tài được hoàn thành và nghiệm thu vào tháng 5 năm 2012 (khóa đào tạo 2008 – 2012).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng trên nền tảng lý thuyết hóa học các hợp chất thiên nhiên, đặc biệt là nhóm hợp chất flavonoid (cấu trúc khung flavone), kết hợp hệ thống dữ liệu thực vật học và dược lý học thực nghiệm của chiết xuất cây núc nác.
Mẫu bột lá khô (2,8 kg)
Cao Ete dầu (35 g) Cao Etyl axetat (87 g) Cao Metanol (5 g)
12 phân đoạn (EA.1 – EA.12)
Phân đoạn EA.7 (2,30 g) Phân đoạn EA.8 (0,25 g)
Hợp chất OI-3 Hợp chất OI-4
(Hispidulin - 30 mg) (Baicalein - 10 mg)
Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm đã sử dụng:
- Phương pháp chiết xuất và phân đoạn: Chiết ngấm kiệt/ngâm dầm bột lá khô bằng dung môi ethanol 96°, thu hồi dung môi dưới áp suất giảm bằng máy cô quay chân không thu cao tổng. Sử dụng phương pháp chiết lỏng – lỏng phân bố với các dung môi có độ phân cực tăng dần (ete dầu hỏa, etyl axetat, metanol).
- Phương pháp sắc ký tách phân đoạn và tinh chế:
- Sắc ký lớp mỏng (TLC): Sử dụng bản mỏng nhôm tráng sẵn Kieselgel 60 $F_{254}$ (Merck), quan sát dưới đèn tử ngoại hoặc hiện hình bằng thuốc thử dung dịch axit sunfuric ($H_2SO_4$) đặc nhằm kiểm tra độ phân tách và độ sạch của mẫu.
- Sắc ký cột cổ điển (CC): Dùng chất hấp phụ pha tĩnh là Silica gel 60 (kích thước hạt 0,063 mm, Merck) kết hợp các hệ dung môi giải ly pha động gồm ete dầu – etyl axetat và clorofom – metanol theo tỷ lệ phân cực tăng dần.
- Sắc ký cột trọng lực: Dùng dung môi metanol tinh chế thu nhận hợp chất tinh khiết ở dạng tinh thể.
- Phương pháp xác định cấu trúc hóa học:
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton ($^1H\text{-NMR}$) ghi ở tần số 500 MHz trên máy Bruker AC.500.
- Phổ cộng hưởng từ hạt nhân cacbon ($^{13}C\text{-NMR}$) và phổ DEPT ghi ở tần số 125 MHz trên cùng thiết bị.
- Các kỹ thuật phổ 2D-NMR gồm tương quan dị hạt nhân qua một liên kết HSQC ($^1H\text{-}^{13}C\text{ HSQC}$) và tương quan dị hạt nhân tầm xa qua 2, 3 liên kết HMBC ($^1H\text{-}^{13}C\text{ HMBC}$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 tổng hợp các tài liệu khoa học trong và ngoài nước về cây núc nác (Oroxylum indicum L.), bao gồm:
- Đặc điểm thực vật học và phân bố: Cây gỗ cao trung bình từ 7–12 m (có thể đạt 20–25 m), vỏ ngoài xám tro, bên trong màu vàng; lá kép lông chim 2–3 lần; hoa nâu đỏ sẫm mọc thành chùm dài ở đầu cành; quả nang dẹt dài 50–80 cm, rộng 5–7 cm chứa nhiều hạt có màng mỏng trong suốt. Phân bố khắp Việt Nam và nhiều quốc gia châu Á (Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia, Lào, Campuchia). Cây có các tên dân gian như nam hoàng bá, mộc hồ điệp, mạy ca, co ca liên, p'sờ lụng, kờ lúc, póc ta lốp, Syonaka, Bạch ngọc nhi.
- Tổng quan các nghiên cứu dược lý thực nghiệm:
- Kháng viêm: Dịch chiết nước từ lá có tác dụng giảm phù chân chuột tối đa ở liều 300 mg/kg trọng lượng cơ thể.
- Chống độc gan: Chiết xuất ethanol từ lá thể hiện hiệu quả bảo vệ gan rõ rệt nhất trên chuột nhiễm bệnh ở liều 300 mg/kg.
- Tẩy giun sán: Chiết xuất ức chế 100% khả năng nở trứng và tiêu diệt ấu trùng giun lươn của ngựa ở nồng độ từ $2 \times 10^{-4}\text{ g/mL}$ đến $2 \times 10^{-1}\text{ g/mL}$ (in vitro).
- Chống ung thư và kháng đột biến: Hoạt chất baicalein trong dịch chiết metanol kháng đột biến Trp-P-1 với $IC_{50} = 2,78 \pm 0,15\text{ }\mu\text{M}$; dịch chiết ethanol 95% ức chế tăng sinh dòng tế bào Hep-2 ở nồng độ $2,5\text{ }\mu\text{g/mL}$.
- Bảo vệ dạ dày và kháng khuẩn: Phân đoạn n-butanol từ vỏ rễ kháng loét dạ dày tối ưu; chiết xuất thể hiện hoạt tính kháng nấm và kháng khuẩn đối với 14 chủng vi khuẩn gây bệnh với nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) từ 64 đến 128 $\mu\text{g/mL}$.
- Kinh nghiệm dân gian: Điểm danh các bài thuốc cổ truyền dùng núc nác trị viêm phế quản, lở loét do sơn ăn, viêm da mẩn ngứa, sởi trẻ em và hội chứng lỵ.
- Nghiên cứu thành phần hóa học: Tổng thuật 56 hợp chất hữu cơ đã được cô lập từ hạt, vỏ thân, rễ, gỗ và lá cây qua các công trình từ năm 1953 đến 2011 (tiêu biểu như tetuin, chrysin, oroxylin A, baicalein, scutellarein, aloe emodin, oroxindin, các pterocarpan, pinostrobin, lupeol...).
Chương 2: Thực nghiệm
Chương 2 trình bày quy trình hóa học thực nghiệm chuẩn bị nguyên liệu, phân lập cao và cô lập hợp chất sạch:
- Xử lý nguyên liệu thô: 2,8 kg lá tươi được sấy khô ở nhiệt độ 50–55°C, xay mịn thành bột, ngâm dầm nhiều lần với ethanol 96°. Dịch chiết được gom lại và cô quay chân không thu hồi được 134 gam cao tổng ban đầu.
- Chiết phân đoạn lỏng – lỏng: Cao tổng (134 g) hòa tan trong nước và chiết phân bố lần lượt với ete dầu, etyl axetat và metanol.
| STT |
Phân đoạn cao chiết |
Khối lượng thu nhận (gam) |
Hệ dung môi giải ly TLC |
Đặc điểm sắc ký bản mỏng |
Quyết định xử lý |
| 1 |
Cao ete dầu |
35 |
Ete dầu : Etyl axetat (10:1) |
Xuất hiện nhiều vết, tách không rõ |
Tạm thời chưa khảo sát |
| 2 |
Cao etyl axetat |
87 |
Clorofom |
Xuất hiện nhiều vết, tách rõ tròn |
Chọn để cô lập hợp chất |
| 3 |
Cao metanol |
5 |
Clorofom : Metanol (25:1) |
Vết kéo dài |
Tạm thời chưa khảo sát |
- Phân tách cao etyl axetat: Tiến hành sắc ký cột silica gel trên 87 g cao etyl axetat với hệ dung môi có độ phân cực tăng dần (Ete dầu : Etyl axetat 50:1 $\rightarrow$ Clorofom $\rightarrow$ Clorofom : Metanol 100:1 đến 1:1), thu được 12 phân đoạn chính từ EA.1 đến EA.12.
- Quy trình cô lập hợp chất OI-3 từ phân đoạn EA.7:
- Phân đoạn EA.7 (2,30 g) được rửa bằng metanol, qua sắc ký cột silica gel (hệ Clorofom : Metanol 10:1) thu được 3 phân đoạn nhỏ: EA.7.1 (30 mg), EA.7.2 (327 mg), EA.7.3 (23 mg).
- Tiếp tục sắc ký cột silica gel trên phân đoạn EA.7.2 (327 mg) với hệ dung môi Clorofom : Metanol (10:1) thu được EA.7.2.2 (287 mg).
- Tiến hành sắc ký cột trọng lượng nhiều lần trên EA.7.2.2 với dung môi metanol thu được 30 mg hợp chất sạch ký hiệu OI-3 ở dạng tinh thể hình kim màu vàng ($R_f = 0,55$ trong hệ Clorofom : Metanol 10:1).
- Quy trình cô lập hợp chất OI-4 từ phân đoạn EA.8:
- Phân đoạn EA.8 (0,25 g) được rửa metanol, qua sắc ký cột silica gel (hệ Clorofom : Metanol 10:1) thu được EA.8.1 (25 mg), EA.8.2 (80 mg), EA.8.3 (13 mg).
- Sắc ký cột trọng lượng phân đoạn EA.8.2 (80 mg) với metanol thu được phân đoạn EA.8.2.2 (42 mg).
- Sắc ký cột trọng lượng lặp lại 2 lần trên EA.8.2.2 thu được 10 mg hợp chất sạch ký hiệu OI-4 ở dạng tinh thể khối màu vàng nâu ($R_f = 0,55$ trong hệ Clorofom : Metanol 10:1).
Chương 3: Kết quả và thảo luận
Chương 3 biện luận chi tiết cấu trúc hóa học của 2 hợp chất hữu cơ cô lập dựa trên phân tích số liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân 1D và 2D:
1. Biện luận cấu trúc hợp chất OI-3 (Hispidulin)
- Hợp chất OI-3 có dạng tinh thể hình kim màu vàng (30 mg).
- Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ và DEPT cho thấy 16 tín hiệu cacbon gồm: 1 nhóm $-\text{OCH}_3$ ($\delta_C\text{ }60,0\text{ ppm}$), 6 nhóm $=\text{CH}-$ (trong đó có 2 tín hiệu có cường độ gấp đôi), 6 cacbon loại $-\text{C-O}-$, 2 cacbon bậc bốn $=\text{C}<$, và 1 nhóm cacbonyl $>\text{C}=\text{O}$ tại $\delta_C\text{ }182,8\text{ ppm}$ đặc trưng cho vị trí C-4 của khung flavone.
- Phổ $^1H\text{-NMR}$ xuất hiện mũi đơn singlet sắc nhọn tại $\delta_H\text{ }3,95\text{ ppm}$ (3H, tích phân tương đối) tương ứng với proton nhóm metoxy ($-\text{OCH}_3$). Vùng thơm có 2 mũi đơn singlet tại $\delta_H\text{ }6,56\text{ ppm}$ (1H, H-3) và $\delta_H\text{ }6,54\text{ ppm}$ (1H, H-8). Vòng B cho 2 tín hiệu doublet tương tác với nhau ($^3J = 7\text{ Hz}$) ở vùng trường yếu tại $\delta_H\text{ }7,94\text{ ppm}$ (2H, H-2',6') và $\delta_H\text{ }6,94\text{ ppm}$ (2H, H-3',5'), chứng minh vòng B mang nhóm thế tại vị trí 4'.
- Phổ tương quan HMBC: Nhóm $-\text{OCH}_3$ tương quan với cacbon C-6 ($\delta_C\text{ }131,3\text{ ppm}$); proton H-3 tương quan với cacbon C-4 ($\delta_C\text{ }182,8\text{ ppm}$), C-2 ($\delta_C\text{ }164,7\text{ ppm}$) và C-10 ($\delta_C\text{ }104,9\text{ ppm}$).
- Đối chiếu số liệu phổ nghiệm với tài liệu tham khảo công bố về hispidulin cho thấy sự tương thích hoàn toàn. Khẳng định hợp chất OI-3 là Hispidulin (5,7,4'-trihydroxy-6-methoxyflavone).
2. Biện luận cấu trúc hợp chất OI-4 (Baicalein)
- Hợp chất OI-4 có dạng tinh thể khối màu vàng nâu (10 mg).
- Phổ $^{13}C\text{-NMR}$ và DEPT cho 15 tín hiệu cacbon gồm: 7 nhóm $=\text{CH}-$, 5 cacbon loại $-\text{C-O}-$, 2 cacbon bậc bốn $=\text{C}<$, và 1 nhóm $>\text{C}=\text{O}$ tại $\delta_C\text{ }182,8\text{ ppm}$ (trên hệ dung môi so sánh MeOD ghi nhận ở $184,0\text{ ppm}$).
- Phổ $^1H\text{-NMR}$ thể hiện 2 mũi đơn singlet tại $\delta_H\text{ }6,73\text{ ppm}$ (1H, H-3) và $\delta_H\text{ }6,62\text{ ppm}$ (1H, H-8). Vòng B không mang nhóm thế được biểu thị qua 2 nhóm mũi đa multiplet tại $\delta_H\text{ }7,98\text{ ppm}$ (2H, H-2',6') và $\delta_H\text{ }7,50 - 7,60\text{ ppm}$ (3H, H-3',4',5').
- Phổ HMBC ghi nhận tương quan của H-3 với C-2 ($\delta_C\text{ }165,6\text{ ppm}$), C-4 ($\delta_C\text{ }184,0\text{ ppm}$) và C-10 ($\delta_C\text{ }105,9\text{ ppm}$); cacbon C-6 cộng hưởng tại vùng trường cao $\delta_C\text{ }130,7\text{ ppm}$ do chịu hiệu ứng đẩy điện tử của 2 nhóm $-\text{OH}$ vị trí ortho (C-5 và C-7).
- Tổng hợp dữ liệu phổ đối chiếu với tài liệu tham khảo chứng minh hợp chất OI-4 là Baicalein (5,6,7-trihydroxyflavone).
| Thông số so sánh |
Hợp chất OI-3 (Hispidulin) |
Hợp chất OI-4 (Baicalein) |
| Công thức phân tử / Khung |
Khung flavone ($C_{16}H_{12}O_6$) |
Khung flavone ($C_{15}H_{10}O_5$) |
| Dạng cảm quan / Tinh thể |
Tinh thể hình kim màu vàng (30 mg) |
Tinh thể khối màu vàng nâu (10 mg) |
| Giá trị $R_f$ (Hệ C:M 10:1) |
0,55 |
0,55 |
| Số lượng cacbon ($^{13}C\text{-NMR}$) |
16 cacbon |
15 cacbon |
| Nhóm thế trên vòng A |
2 nhóm $-\text{OH}$ (C-5, C-7), 1 nhóm $-\text{OCH}_3$ (C-6) |
3 nhóm $-\text{OH}$ (C-5, C-6, C-7) |
| Đặc điểm vòng B |
Mang 1 nhóm thế $-\text{OH}$ tại vị trí C-4' |
Không mang nhóm thế ($H-2',3',4',5',6'$) |
| Tín hiệu đặc trưng $^1H\text{-NMR}$ |
$\delta_H\text{ }3,95\text{ ppm}\text{ (3H, }s\text{, } -\text{OCH}_3)$; $\delta_H\text{ }6,56\text{ (1H, }s\text{, H-3})$; $\delta_H\text{ }6,54\text{ (1H, }s\text{, H-8})$ |
$\delta_H\text{ }6,73\text{ (1H, }s\text{, H-3})$; $\delta_H\text{ }6,62\text{ (1H, }s\text{, H-8})$; $\delta_H\text{ }7,98\text{ (2H, }m\text{)}$; $\delta_H\text{ }7,50-7,60\text{ (3H, }m\text{)}$ |
Chương 4: Kết luận và đề xuất
Tóm tắt toàn bộ kết quả cô lập, phân tích cấu trúc 2 hợp chất hispidulin và baicalein từ phân đoạn cao etyl axetat của lá cây núc nác. Nêu các kiến nghị về việc tiếp tục khai thác các phân đoạn còn lại và mở rộng thử nghiệm hoạt tính sinh học.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã đạt được các kết quả định lượng cụ thể:
- Xử lý thành công 2,8 kg nguyên liệu bột lá cây núc nác khô, thu được 134 gam cao tổng chiết cồn. Phân đoạn lỏng – lỏng thu được 3 phân đoạn cao: cao ete dầu (35 g), cao etyl axetat (87 g), và cao metanol (5 g).
- Tách thành công 12 phân đoạn sắc ký từ cao etyl axetat (từ EA.1 đến EA.12).
- Từ phân đoạn EA.7 (2,30 g), đã cô lập thành công 30 mg hợp chất flavonoid sạch OI-3 ở dạng tinh thể hình kim màu vàng.
- Từ phân đoạn EA.8 (0,25 g), đã cô lập thành công 10 mg hợp chất flavonoid sạch OI-4 ở dạng tinh thể khối màu vàng nâu.
- Giải đoán đầy đủ các số liệu phổ 1D-NMR ($^1H, ^{13}C, \text{DEPT}$) và 2D-NMR ($\text{HSQC}, \text{HMBC}$), xác định chính xác cấu trúc hóa học của hợp chất OI-3 là Hispidulin và OI-4 là Baicalein.
Đóng góp khoa học:
Khóa luận góp phần bổ sung dữ liệu thực nghiệm về thành phần hóa học của lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.) thu hái tại khu vực tỉnh Tuyên Quang, làm rõ sự hiện diện của hai hợp chất flavonoid có hoạt tính sinh học cao là hispidulin và baicalein trong bộ phận lá của loài cây này tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ trên các nội dung được tác giả đề cập trong khóa luận, nghiên cứu có các giới hạn và định hướng tiếp nối như sau:
- Hạn chế: Do giới hạn về mặt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài mới chỉ tập trung xử lý sâu hai phân đoạn sắc ký (EA.7 và EA.8) thuộc cao etyl axetat. Mười phân đoạn còn lại của cao etyl axetat (từ EA.1 đến EA.6 và từ EA.9 đến EA.12) cùng toàn bộ phân đoạn cao ete dầu (35 g) và cao metanol (5 g) vẫn chưa được phân lập triệt để. Ngoài ra, hai hợp chất tinh khiết cô lập được chưa được tiến hành thử nghiệm hoạt tính sinh học in vitro.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Tiếp tục triển khai sắc ký phân lập các hợp chất tự nhiên còn lại trong các phân đoạn sắc ký chưa khảo sát của cao etyl axetat, cao ete dầu và cao metanol.
- Thực hiện các thử nghiệm sàng lọc và đánh giá hoạt tính sinh học cụ thể (chống oxy hóa, kháng viêm, kháng khuẩn, độc tế bào ung thư) đối với hai hợp chất hispidulin và baicalein đã cô lập được.
- Mở rộng thu hái nguyên liệu và khảo sát thành phần hóa học trên các bộ phận dùng làm thuốc khác của cây núc nác như vỏ thân, vỏ rễ và hạt.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng và định hướng nghiên cứu sau:
- Sinh viên và học viên chuyên ngành Hóa Hữu cơ, Hóa Dược phẩm, Dược liệu học: Tài liệu cung cấp quy trình mẫu về phương pháp chiết tách phân đoạn lỏng – lỏng và quy trình sắc ký cột silica gel từng bước để tinh chế các hợp chất tự nhiên từ nguyên liệu thực vật thô.
- Người làm nghiên cứu về hợp chất tự nhiên (flavonoid): Khóa luận cung cấp bảng số liệu phổ cộng hưởng từ hạt nhân cụ thể, chi tiết về độ dịch chuyển hóa học ($\delta_H, \delta_C$), hằng số ghép ($J$), cùng các tương quan không gian HSQC và tương quan tầm xa HMBC của hai khung phân tử flavone điển hình (hispidulin và baicalein), rất thuận tiện làm mẫu đối chiếu giải phổ cấu trúc.
- Phần đáng tham khảo nhất: Sơ đồ quy trình phân tách tinh chế tại Chương 2 (Sơ đồ 1, 2, 3) và phần lập luận quy kết phổ nghiệm phân tích tương quan dịch chuyển hóa học gắn với hiệu ứng đẩy/hút điện tử tại Chương 3.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguồn gốc mẫu thực vật lá núc nác dùng trong nghiên cứu được thu thập ở đâu và ai là người định danh khoa học?
Mẫu lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.) được thu hái thực tế tại tỉnh Tuyên Quang. Mẫu thực vật này được giám định và xác định tên khoa học chính xác bởi TS. Phạm Văn Ngọt thuộc Bộ môn Thực vật học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Từ 2,8 kg bột lá khô ban đầu đã thu được những phân đoạn cao chiết nào và khối lượng cụ thể là bao nhiêu?
Quá trình ngâm chiết bột lá khô với ethanol 96° và cô quay thu hồi dung môi cho 134 gam cao tổng. Chiết lỏng – lỏng phân bố cao tổng thu được 3 phân đoạn:
- Cao ete dầu: 35 gam.
- Cao etyl axetat: 87 gam.
- Cao metanol: 5 gam.
3. Tên gọi, khối lượng và hình dạng tinh thể của hai hợp chất tinh khiết cô lập được trong khóa luận là gì?
- Hợp chất OI-3: Thu được 30 mg, có dạng tinh thể hình kim màu vàng, được xác định là Hispidulin.
- Hợp chất OI-4: Thu được 10 mg, có dạng tinh thể khối màu vàng nâu, được xác định là Baicalein.
4. Dựa vào những dữ kiện phổ nghiệm chính nào để phân biệt cấu trúc vòng B giữa Hispidulin (OI-3) và Baicalein (OI-4)?
Sự khác biệt nằm ở các nhóm thế trên vòng B của khung flavone:
- Đối với Hispidulin (OI-3): Vòng B mang 1 nhóm thế $-\text{OH}$ tại vị trí C-4', trên phổ $^1H\text{-NMR}$ xuất hiện 2 mũi đôi doublet đối xứng tại $\delta_H\text{ }7,94\text{ ppm}$ ($2\text{H}, \text{H-2',6'}$) và $\delta_H\text{ }6,94\text{ ppm}$ ($2\text{H}, \text{H-3',5'}$).
- Đối với Baicalein (OI-4): Vòng B hoàn toàn không mang nhóm thế, thể hiện qua 2 tín hiệu multiplet gồm 2 proton tại $\delta_H\text{ }7,98\text{ ppm}$ ($\text{H-2',6'}$) và 3 proton tại $\delta_H\text{ }7,50 - 7,60\text{ ppm}$ ($\text{H-3',4',5'}$).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Vũ Mai Trang đã thực hiện quy trình chiết tách, phân đoạn và tinh chế thành công từ 2,8 kg lá cây núc nác (Oroxylum indicum L.) thu hái tại Tuyên Quang. Thông qua sắc ký cột silica gel kết hợp sắc ký trọng lượng trên phân đoạn cao etyl axetat, nghiên cứu đã cô lập được 30 mg hispidulin và 10 mg baicalein ở dạng tinh thể sạch. Cấu trúc hóa học của hai hợp chất flavonoid này được làm sáng tỏ và chứng minh chặt chẽ bằng các phương pháp phổ nghiệm $^1H\text{-NMR}$, $^{13}C\text{-NMR}$, DEPT, HSQC và HMBC. Kết quả này cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng, làm tiền đề cho việc mở rộng nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học trên các phân đoạn chiết còn lại của cây núc nác.