Chương 1 Nam Phong tạp chí với những bƣớc thăng trầm của lịch sử Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Thực dân Pháp – Sự chuyển đổi chính sách xâm lƣợc. Cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp trong cuộc xâm lược Việt Nam đã biến đất nước Việt Nam từ một dân tộc thuộc vùng Đông Nam Á trở thành một bộ phận của thế giới trong tình thế hoàn toàn mất quyền tự chủ. Bằng kinh nghiệm đi xâm lược các nước thuộc địa ở châu Phi, thực dân Pháp đem kinh nghiệm ấy để đồng hóa dân tộc Việt Nam (bằng mọi hình thức) nhằm cắt đứt mọi quan hệ của người Việt Nam với truyền thống quá khứ, để họ quên đi nỗi nhục vong quốc nô, an phận với cuộc sống hiện tại.
Chính sách “đồng hóa” về văn hóa của Pháp ở Việt Nam đã không thực hiện được như đối với nhiều nước thuộc địa ở châu Phi. Đầu thế kỷ XX, bạo lực quân sự của thực dân Pháp ở Việt Nam đã hoàn thành nhiệm vụ, người Việt Nam đã bị đánh bại. Nhưng tuy bị đánh bại song Việt Nam là một dân tộc không cam chịu. Có vô số biểu hiện bức xúc trong đời sống tinh thần.
Vũ khí theo nghĩa đen đã bị tước bỏ, kể cả việc thực dân Pháp cho sục sạo để thu nhặt hết các đồ dùng bằng sắt có khả năng giúp vào việc tái tạo vũ khí. Nhưng còn phải tiến hành một cuộc chinh phục tinh thần: phải thống trị về văn hóa. Ở cấp độ này thực dân Pháp đã tỏ ra không thành công dễ như quân sự. Sự đổ vỡ của tư tưởng trực trị, đồng hóa buộc Pháp phải hướng tới “chính sách hợp tác”.
Nhưng “hợp tác” có nghĩa là làm sao vẫn phải bảo đảm sự “hướng dẫn”, phục vụ ý đồ của chủ nghĩa thực dân. Nam Phong tạp chí thay cho Đông Dương tạp chí đã „lỗi thời”. Với tư cách là công cụ văn hóa thực hiện sách lược “lỗ thoát hơi cần thiết” của Pháp ở Việt Nam đã trở thành nơi tập hợp các nho sĩ, văn sĩ Việt Nam để ở đó họ hoạt động văn hóa, văn học tùy theo mục 12 đích, khả năng riêng của từng người. Ngoài chức năng “công cụ xâm lược, khai hóa” của thực dân Pháp, Nam Phong cũng có chức năng “công cụ không tự giác” mà chính nó không làm sao kiểm soát được.
Từ chức năng này làm thay đổi bộ mặt văn học Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX. Tạo một không khí sáng tác văn học theo quan điểm thẩm mỹ và lý luận hiện đại, phong trào nghiên cứu, khảo cứu, dịch thuật đưa nền văn học dân tộc từ qui mô vùng hội nhập với văn học thế giới theo xu thế hiện đại, mở ra “một thời đại mới” cho thi ca, văn học. Sự thay đổi của đội ngũ trí thức Việt Nam khi thực dân Pháp xâm lƣợc. Chuyển chính sách xâm lược từ “đồng hóa” sang “hợp tác” là cả một bài toán mà thực dân Pháp đã tính rất chu đáo.
“Hợp tác” nhưng làm sao vẫn phải bảo đảm sự “hướng dẫn” của chính phủ bảo hộ, Đông Dương tạp chí lúc này đã “lỗi mốt” bởi cách phát ngôn của ông chủ tờ báo quá “hỗn xược” và Nam Phong tạp chí thay thế cho nó để thực hiện vai trò “hướng dẫn” tiếp tục. Trước sự thay đổi về chính sách xâm lược của thực dân Pháp, giới trí thức Việt Nam, sau thất bại của phong trào Cần Vương rồi của phong trào Duy Tân, phân hóa rất mạnh mẽ và có tâm lí rất phức tạp. Ngoài số ít các nhà yêu nước giám đối mặt với kẻ thù như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh còn lại đa phần là giới trí thức không giám “trực diện” đấu tranh với kẻ thù. Họ chỉ muốn „yêu nước an toàn” bằng hình thức hoạt động văn hóa để bóng gió gửi gắm tâm sự hoặc gìn giữ những tài sản tinh thần mà ông cha để lại.
Đấu tranh bạo lực là điểu mà phần lớn trí thức đều không muốn, họ do dự, một mặt muốn giữ gìn sao cho cuộc sống được bình yên, mặt khác cũng đau đớn trước tình trạng vong quốc nô của dân tộc, tóm lại họ muốn “yêu nước ôn hòa”. Trong tình trạng chưa xuất hiện khả năng đấu tranh vũ trang, chưa có lực lượng chính trị mới về chất (phải sau 1925), nên mọi “ngọn cờ” đều chỉ nhân danh dân tộc nói chung và mức độ phải là “ôn hòa”, “mềm dẻo” (lực lượng của giai cấp tư sản lẫn giai cấp 13 vô sản đều chưa có sức mạnh đáng kể). Trong tình hình này Nam Phong tạp chí ra đời thật đúng lúc, nó lại đánh đúng vào tâm trạng phức tạp của đa số giới trí thức Việt Nam. Khi các nhà văn sĩ tài danh như Nguyễn Bá Học, Nguyễn Văn Tố, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Tường Tam, Trần Trọng Kim, Tương Phố, Đỗ Thị Đàm, Đông Hồ Lâm Tấn Phác…đã tập hợp đông đủ nơi Nam Phong tạp chí cũng là lúc lối sống, lối làm việc, nghiên cứu, học tập của phương Tây đã du nhập vào Việt Nam làm thay đổi hẳn cách làm việc, cách tư duy, cách sinh hoạt ở các đô thị lớn.
Lối làm việc, nghiên cứu và tư duy Tây Âu thể hiện rõ nét làm thay đổi hẳn tư duy do dự, ngại triết lý, tránh xa lý luận của người Việt Nam trước đây. Đặc biệt sự đổi thay tư duy của lớp trí thức tân học lẫn cựu học được thể hiện rất rõ. Khi thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đội ngũ trí thức là lớp nhà Nho nguyên hợp, đồng nhất hóa tư tưởng từ trên xuống dưới theo một khuôn mẫu gần như công thức của “nhà Nho hành đạo”, họ chỉ chăm lo rèn “Tâm, Chí, Đạo”, không có ai có hứng thú đi vào những vấn đề tư tưởng triết học, thậm chí họ “không có hứng thú tìm hiểu, tiếp nhận”. Trong tình trạng tư duy lý luận không phát triển, những vấn đề nhận thức, loogic, phương pháp không được bàn bạc, đội ngũ nhà Nho đa phần hướng thượng gắn bó với cung đình, số ít gắn bó với làng xã thường bị động, họ không có sự liên kết mà cô độc, không có sức mạnh xã hội.
Từ đặc điểm ý thức hệ trì trệ ấy làm cho xã hội Việt Nam thời phong kiến không có trí thức chuyên ngành, không có đội ngũ trí thức về triết học, khoa học, kỹ thuật để cách tân đổi mới đất nước. Tóm lại lớp trí thức nhà Nho dưới chế độ xã hội phong kiến bảo thủ đa phần là thụ động, họ không có nhu cầu “tư duy lô gic”, “tư duy khoa học” khám phá và sáng tạo. Đặc tính này dẫn đến tình trạng trì trệ, kém phát triển về mọi mặt trong xã hội. Thực dân Pháp đến xâm lược Việt Nam đã làm thay đổi nếp sinh hoạt nếp suy nghĩ của người Việt Nam theo chiều hướng cả tích cực lẫn tiêu 14 cực.
Việc “hiện đại hóa”, “chuyên nghiệp hóa” đội ngũ trí thức Việt Nam, sự phân công lao động nội tại của tầng lớp trí thức đã xảy ra, xuất hiện loại trí thức mà trước đây chưa từng có, như ký giả, văn sĩ chuyên nghiệp, các nhà khoa học, nhà kỹ thuật, doanh nhân trí thức như Bạch Thái Bưởi, những nhà tư tưởng cách mạng chuyên nghiệp như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, thậm chí ngay trong nội bộ giới văn nghệ sĩ cũng có sự phân công khác trước như: nhà văn, nhà thơ, diễn viên, họa sĩ, nhạc sỹ, trước đây các yếu tố này thường tồn tại trong một người: nhà nho tri thức. Sự thay đổi này làm cho văn đàn Việt Nam thật phong phú và đa dạng về đội ngũ sáng tác, phong cách sáng tác nghiên cứu, dịch thuật, khảo cứu. Lúc này các văn sĩ nói riêng, giới trí thức nói chung đã tích cực chủ động và có nhu cầu học hỏi, tìm hiểu kể cả những vấn đề về học thuật tư tưởng, những vấn đề mang tính lý thuyết. Họ không chỉ quan tâm đến văn học, mà còn tập trung nghiên cứu triết học, mỹ học, kinh tế học, sử học.
Nghĩa là nghiên cứu theo chuyên ngành và định hướng chuyên nghiệp hóa theo chiều sâu và đặc biệt quan tâm đến lý luận sáng tác cảm thụ văn học hiện đại. “phong cách trí thức mới này” cộng với “tâm lý phức tạp” trên kia đều được Nam Phong tạp chí đáp ứng ở mức độ tương đối nhất, họ có thể “bằng lòng” với Nam Phong tạp chí trong giai đoạn hiện tại này. Sẽ có lúc cả lực lượng tư sản, cả lực lượng vô sản đều “không bằng lòng” với Nam Phong tạp chí, nhưng đó là điều xảy ra chủ yếu sau 1930. Trong khoảng “tranh tối tranh sáng này” Nam Phong tạp chí là nơi các trí thức tạm thời vừa lòng để “hoạt động văn hóa, văn học” đồng thời cũng là nơi mà những người sáng lập ra nó tạm thời “tập hợp” đội ngũ trí thức để thực hiện mục đích “khai thác văn hóa” của mình.
Một lớp trí thức như vậy đã tập trung đông đảo trên Nam Phong tạp chí. Công cuộc đổi thay chuyển mình của nền văn học. Trước khi bị người Pháp xâm lược và đô hộ thì Việt Nam đã là một quốc gia có nền văn học phát triển với bản sắc độc đáo gắn với bề dày 15 hàng ngàn năm văn hiến của lịch sử dân tộc. Văn học viết Việt Nam chính thức ra đời từ thế kỷ X cùng với nền độc lập, tự chủ của dân tộc và từ đó trở thành một bộ phận quan trọng, không thể thiếu của nền văn hóa dân tộc.
Trong tiến trình ngót mười thế kỷ xây dựng và phát triển, văn học viết Việt Nam, một mặt chủ động tiếp thu một cách có chọn lọc những yếu tố ngoại lai, mặt khác kế thừa những thành quả của văn hóa, văn học dân gian dân tộc, đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ, kết tinh trong sáng tác của những tên tuổi lớn như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương,… Tuy đã đạt được những thành tựu lớn về nhiều phương diện, nhưng cho đến cuối thế kỷ XIX, nhìn chung văn học viết Việt Nam vẫn như một dòng sông nhỏ hiền hòa, êm trôi giữa đôi bờ của vùng đất văn hóa Trung đại phương đông, phong kiến, cổ truyền, chở nặng trong mình những hạt phù sa của tư tưởng văn hóa ấy và vẫn còn quẩn quanh trong vùng châu thổ già cỗi này mà chưa vươn mình ra biển lớn của văn học thế giới; nó vẫn nằm trong quĩ đạo của văn hóa – văn học khu vực Đông Á, mà Trung Hoa là nền văn hóa – văn học hạt nhân.