CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu về các nguyên nhân gây stress và các biện pháp ứng phó với stress 1. Ngoài nước Tại bang Mississippi của Mỹ năm 2019, Mathew C.
Breese đã thực hiện một cuộc khảo sát các sinh viên tại ba trường Dược điều tra sự căng thẳng của sinh viên với Thang đo căng thẳng nhận thức (PSS10), sinh viên thấy rằng mức độ căng thẳng cao hơn dân số tiêu chuẩn, căng thẳng ở nam sinh viên là rất đáng kể, trong số đó áp lực thành tích là 81% và áp lực thành công là 77% (Mathew C. Garber, Sources of Stress in a pharmacy student population, 2019) Các nguyên nhân gây stress và cách quản lý stress của sinh viên Dược từ năm 1 đến năm 4 ở Đại học Malaysia đã được nghiên cứu (Amshed SQ et at, 2017) để hướng đến thành lập trung tâm tư vấn cá nhân cho sinh viên Dược. Tại Ai Cập, năm 2016, Wafaa Yousif Abdel Wahed và các đồng nghiệp đã thực hiện một nghiên cứu trên 438 sinh viên y khoa từ năm thứ nhất đến năm thứ tư theo thang điểm DASS 21, cho thấy tỷ lệ căng thẳng ở mức bình thường là 37,6. %, mức độ vừa phải là 31,7% và nghiêm trọng là 30,8% (Wahed, Prevalence and associated factors of stress, anxiety and depression among medical Fayoum University students, 2016).
Tại Ethiopia, nghiên cứu về Leta melaku và các đồng nghiệp đã tiến hành trên 329 sinh viên y khoa tại Đại học Jimma thông qua thang điểm GHO-12 cho thấy 52,4% sinh viên bị căng thẳng (Melaku, 2015). Tại bang Ohio của Mỹ, 2015, R. Sammut đã tiến hành nghiên cứu trên 374 sinh viên Đại học Franciscan. , chỉ ra rằng ba mối quan tâm hàng đầu là kết quả học tập, áp lực để thành công và kế hoạch sau khi tốt nghiệp.
Về mặt nhân khẩu học, học sinh bị căng thẳng, chán nản, lo lắng nhất về việc chuyển trường, học sinh lớp trên và những người sống ngoài trường (R. Tại Ấn Độ, vào năm 2014, Lakyntiew Pariat và các đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu về các sinh viên của năm trường đại học của thành phố Shilong trong các lĩnh vực: Nghệ thuật, Thương mại, Khoa học thông qua công cụ Thang đo căng thẳng sinh viên và cho 38,9% sinh viên, trong đó có 15% nam giới sinh viên, phần còn lại bị căng thẳng nhẹ, 11,9% sinh viên nam và 6,9% sinh viên bị căng thẳng nghiêm trọng (Pariat, 2014). 3 Tại Malaysia, vào năm 2013, Khadijad Shamsuddin và các đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu trên 506 sinh viên từ 18 đến 24 tuổi từ bốn trường đại học công lập ở Klang Valey, Malaysia. Qua thang điểm DASS 21, phân tích cho thấy trong số tất cả học sinh có tỷ lệ căng thẳng trung bình là 18,6%, căng thẳng 5,1% là nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng (Shamsuddin, 2013) Tại Malaysia, năm 2010, Mohamad Saiful Bahri Yusoff đã tiến hành nghiên cứu trên 1058 sinh viên y khoa của Đại học USM thông qua thang đo GHQ-12, cho thấy 29,6% sinh viên y khoa bị căng thẳng.
Năm 2013, ông đã tiến hành nghiên cứu về căng thẳng, lo lắng và trầm cảm trên 743 sinh viên y khoa thông qua thang điểm DASS 21, cho thấy 3,6% sinh viên bị căng thẳng từ trung bình đến nặng (Yusoff M., 2013) Tại Malaysia, năm 2016, Aaseer Thamby Sam và các đồng nghiệp đã tiến hành nghiên cứu trên 320 sinh viên dược đại học tại Đại học AIMST cho thấy một vài yếu tố gây căng thẳng [giữa học kỳ và kỳ thi cuối kỳ; thời gian nghỉ học; điểm có được (GPA và CGPA); vấn đề tài chính] cho thấy sự thay đổi đáng kể, các biến thể. Bài kiểm tra t-test hai đầu không ghép đôi cho thấy những thay đổi đáng kể về mức độ căng thẳng và phản ứng giữa cả hai giai đoạn, có thể là do thời gian của từng giai đoạn (trước kỳ thi giữa kỳ và sau kỳ thi giữa kỳ). Một khía cạnh đáng lo ngại là sự gia tăng các chiến lược đối phó tiêu cực trong nhiều loại. (Aaseer Thamby Sam, 2016), Về cách ứng phó với stress, vào năm 2017 của Adomah Opoku ‑ Acheampong tiến hành ở Ghana đã đưa ra kết luận về stress và các cách tích cực để ứng phó với stress.
Nghiên cứu đã báo cáo mối tương quan đáng kể giữa căng thẳng và các lĩnh vực khác nhau về chất lượng cuộc sống của sinh viên dược đại học. Do đó, cần thiết phải đưa ra một số chiến lược cá nhân và thể chế để cải thiện hiệu quả căng thẳng về chất lượng cuộc sống của sinh viên dược trong đó việc sử dụng các phương pháp tích cực để ứng phó vs stress thì được khuyến khích thực hiện (Opoku-Acheampong, et al. Trong nước Ở Việt Nam, có một số nghiên cứu về thực trạng stress ở sinh viên như Năm 2015, Vũ Dũng đã thực hiện thước đo mức độ căng thẳng với thang điểm nhận thức căng thẳng 10 (PSS 10) đối với sinh viên điều dưỡng từ năm thứ hai và thứ ba tại Đại học Thăng Long có 22,8% sinh viên có mức độ căng thẳng cao (Vũ Dũng , 2015). 4 Nghiên cứu của Lý Văn Xuân, Nguyễn Văn Bắc, Hoàng Tiến Mỹ, năm 2013 trên 441 sinh viên điều dưỡng của trường quân y 2 cho thấy tỷ lệ căng thẳng của họ là 21,5% (Lý Văn Xuân, 2013).
Nghiên cứu của Lê Minh Thuận, 2011, được thực hiện trên các sinh viên năm thứ nhất và năm thứ ba của Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng thang điểm DASS 42 cho thấy mức độ căng thẳng của sinh viên như sau: mức độ bình thường là 23%, mức độ nhẹ đến trung bình là 65%, mức độ nghiêm trọng là 7% và mức độ rất nghiêm trọng là 5% (Lê Minh Thuận, 2011). Nghiên cứu của Trần Kim Trang, vào năm 2011, được thực hiện trên 483 sinh viên năm thứ hai tại khoa Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy sinh viên y khoa có tỷ lệ căng thẳng cao. Tỷ lệ học sinh bị căng thẳng, trầm cảm và lo lắng lần lượt là 71,4%, 28,8%, 22,4%, hầu hết là nhẹ và trung bình (Trần Kim Trang, 2012) Nghiên cứu của Lê Thu Huyền, Huỳnh Hồ Ngọc Quỳnh, năm 2010, được thực hiện ở 182 sinh viên Khoa Y tế Công cộng - Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ căng thẳng khá cao với 24,2%, trong đó có 2,8. % học sinh bị căng thẳng nghiêm trọng.
Những sinh viên bị căng thẳng là người hướng nội gấp 2,5 lần so với tỷ lệ bệnh nhân bị căng thẳng ngoại trú. Thống kê từ các yếu tố môi trường học tập cho thấy hơn 80% sinh viên cảm thấy căng thẳng vì khối lượng công việc nặng, căng thẳng trước mỗi kỳ thi và kỳ thi học tập (Lê Thu Huyền, 2010). Nghiên cứu của Hồ Hữu Tĩnh, Nguyễn Đoàn Thành, năm 2010 được thực hiện trên 311 học sinh trung học Phan Bội Châu ở Bình Thuận, cho thấy 38% học sinh có biểu hiện lo lắng căng thẳng. Qua nghiên cứu, nhận thấy tỷ lệ sinh viên cảm thấy lo lắng là khá cao (Hồ Hữu Tính, 2010) Lê Thành Tài, Trần Ngọc Xuân, Trần Trúc Linh (2008) thực hiện trên 378 Điều dưỡng của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ cho thấy tỷ lệ căng thẳng cao với 42,5%, căng thẳng ở mức trung bình 42,8% trong các bệnh viện của Bệnh viện Đa khoa Trung ương Việt Nam , Thành phố Cần Thơ, Bệnh viện Đa khoa Cần Thơ, Bệnh viện Cần Thơ-Hậu Giang theo tỷ lệ: 53,1%, 33,9%, 32,5%, có nhiều yếu tố gây căng thẳng, cần cải thiện tất cả các khía cạnh liên quan đến giảm căng thẳng (Lê Thành Tài, 2008).
Về kỹ năng ứng phó với stress, năm 2018, Nguyễn Thị Cẩm Tú đã chỉ ra những nhóm kĩ năng để ứng phó với stress của những sinh viên ngành giáo dục mần non và đề xuất một số biện pháp thực hành học sinh chuyên ngành giáo dục mầm non tại trường đại học Sư phạm Nghệ An để đối phó với căng thẳng và cân bằng những thay đổi tâm lý trong cuộc sống và công việc, mang lại hiệu quả cao trong chăm sóc và giáo dục trẻ em (Nguyễn Thị Cẩm Tú, 2018). Sinh viên của Đại học Sư Phạm có kĩ năng ứng phó 5 với stress nhưng chưa thuần thục, ổn định và lâu dài (Đỗ Văn Đoạt, 2013). Bên cạnh đó, chỗ dựa xã hội có mối tương quan thuận với các cách ứng phó hiệu quả như “giải quyết vấn đề”, “tìm kiếm chỗ dựa xã hội” và “cấu trúc lại nhận thức” (Nguyễn Phúc Cát Tường, 2010) 1. Stress là gì? Lần đầu tiên thuật ngữ căng thẳng được sử dụng trong nghiên cứu y sinh năm 1914 của W.Bannon, nhưng người đã đưa ra khái niệm về khoa học căng thẳng, H.
Thuật ngữ “stress” để thể hiện tác động của bất cứ điều gì đe dọa nghiêm trọng sự cân bằng nội môi (homeostasis). Mối đe dọa thực sự hoặc nhận thức với một cơ quan được xem như là “nguyên nhân gây căng thẳng-stressor” và đáp ứng với các nguyên nhân gây stress được gọi là “phản ứng với căng thẳng-stress response”. Mặc dù các đáp ứng với stress triển triển thành quá trình thích nghi, các đáp ứng với stress kéo dài, nghiêm trọng có thể dẫn đến tổn thương mô và bệnh tật (Selvye, 1956) 1. Phân loại stress “Stress tốt- good stress” nói đến trải nghiệm vươn lên một thử thách, chấp nhận rủi ro và cảm giác được khen thưởng bởi một kết quả thường là tích cực.
Một thuật ngữ liên quan là “eustress”. Lòng tự trọng cao và một sự kiểm soát bốc đồng và khả năng ra quyết định tốt, tất cả các chức năng của một cấu trúc não bộ khỏe mạnh rất quan trọng. Thậm chí những kết quả bất lợi cũng có thể là “những trải nghiệm để phát triển” cho những cá nhân có đặc điểm tích cực, thích nghi. Những đặc điểm đó thúc đẩy khả năng phục hồi khi đối mặt với nghịch cảnh.
“Stress chịu được - Tolerable stress” đề cập đến những tình huống có những điều xấu xảy ra những những cá nhân với cấu trúc não bộ khỏe mạnh có thể đương đầu, thường là có sự hỗ trợ của gia đình, bạn bè và những người khác. Những kết quả bất lợi có thể là “những trải nghiệm để phát triển” đối với những cá nhân có tính cách tích cực, thích nghi và những hệ thống hỗ trợ thúc đẩy sự kiên cường. Ở đây “distress” nói đến cảm giác không dễ chịu liên quan đến bản chất của nguyên nhân gây căng thẳng (stressor) và mức độ mà một cá nhân cảm thấy một sự thiếu khả năng tác động và kiểm soát nguyên nhân gây căng thẳng.