MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Đánh giá giảng dạy là một công việc khá mới mẻ đối với giáo dục đại học nước ta cả về lí luận lẫn thực tiễn. Kết luận tại Hội nghị toàn quốc về chất lượng giáo dục đại học ngày 05 tháng 01 năm 2008, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân đã nhấn mạnh: “Về giảng viên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã và đang tiếp tục ban hành quy chế giảng viên và chuẩn giảng viên cho từng vị trí công tác. Tất cả giảng viên đại học đều phải có năng lực giảng dạy, nghiên cứu và phải được đánh giá qua sinh viên và đồng nghiệp về trình độ chuyên môn, kĩ năng sư phạm, năng lực quản lý giáo dục”.
Trong Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học, ban hành theo QĐ số 66/2007/QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007, Điều 8, Tiêu chuẩn 5 về đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên có quy định việc “…tổ chức đánh giá các hoạt động giảng dạy của giảng viên; chú trọng việc triển khai đổi mới phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá kết quả học tập của người học”. Như vậy việc đánh giá hoạt động giảng dạy của giảng viên hay có thể gọi là đánh giá giảng dạy (teaching evaluation) là một yêu cầu không thể thiếu được đối với một cơ sở đào tạo nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong những năm qua, Bộ giáo dục và Đào tạo đã phát động nhiều cuộc vận động để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục như: “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng nhu cầu xã hội”, “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Tiếp tục đổi mới quản lý và nâng cao chất lượng đào tạo” Đối với giáo dục đại học, Chỉ thị số 40/2004/CT-TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã nhấn mạnh: “Đặc biệt đổi mới mạnh mẽ và cơ bản phương pháp giáo dục nhằm khắc phục kiểu truyền thụ một chiều, nặng lý thuyết, ít khuyến khích tư duy sáng tạo; bồi dưỡng năng lực tự học, tự 1 nghiên cứu, tự giải quyết vấn đề, phát triển năng lực thực hành sáng tạo cho người học, đặc biệt cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng. Tích cực áp dụng một cách sáng tạo các phương pháp tiên tiến, hiện đại, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động dạy và học”.
Trường Cao Đẳng Cộng Đồng Cà Mau bắt đầu đào tạo bậc cao đẳng hệ chính qui từ năm học 2008. Đa số giảng viên của trường cũng đã và đang áp dụng phương pháp giảng dạy mới nhằm giúp cho sinh viên tích cực hơn trong hoạt động học tập, năng động và tư duy sáng tạo. Theo QĐ 66/2007/ QĐ-BGDĐT ngày 01/11/2007 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường cao đẳng, đòi hỏi sự cần thiết sinh viên đánh giá phương pháp giảng dạy của giảng viên. Làm tốt được yêu cầu này chắc chắn sẽ tạo sự chuyển biến tích cực trong hoạt động giảng dạy của GV, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
Với cơ sở đào tạo mới mẻ như Trường CĐCĐ Cà Mau, đây là một đòi hỏi cần thiết. Chính vì lý do này tôi đã chọn đề tài: “Khảo sát mức độ hài lòng của sinh viên đối với bài giảng của giảng viên tại Trƣờng Cao Đẳng Cộng Đồng Cà Mau”. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Khảo sát đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên đối với nội dung bài giảng của giảng viên. - Khảo sát đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên đối với phương pháp giảng dạy của giảng viên.
- Khảo sát đánh giá mức độ hài lòng của sinh viên đối với việc kiểm tra đánh giá của giảng viên. Giới hạn nghiên cứu Nghiên cứu này tiến hành khảo sát sự hài lòng của sinh viên các lớp cao đẳng chính quy tại trường CĐCĐ Cà Mau đối với bài giảng của giảng viên 2 đang giảng dạy tại trường. Trong giới hạn nghiên cứu của đề tài này, việc khảo sát mức độ hài lòng của SV đối với bài giảng của giảng viên bao gồm: + Hài lòng với nội dung bài giảng + Hài lòng với phương pháp giảng dạy + Hài lòng với việc kiểm tra đánh giá 4. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu: 4.
Đối tƣợng nghiên cứu: Sự hài lòng của sinh viên đối với bài giảng của giảng viên tại trường CĐCĐ Cà Mau. Khách thể nghiên cứu: Sinh viên cao đẳng hệ chính qui trường CĐCĐ Cà Mau. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu 5. Câu hỏi nghiên cứu - Sinh viên trường CĐCĐ CM hài lòng như thế nào về nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy và việc kiểm tra đánh giá của giảng viên ? - Những yếu tố đặc điểm cá nhân (giới tính, ngành học, khóa học, thời gian tham dự lớp học và học lực) nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của sinh viên đối với việc giảng dạy của giảng viên ? 5.
Giả thuyết nghiên cứu - Sinh viên trường CĐCĐ CM hài lòng về nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy và việc kiểm tra đánh giá của giảng viên ở mức độ trung bình. - Sự hài lòng của sinh viên đối với hoạt động giảng dạy phụ thuộc vào giới tính, ngành học, khóa học, thời gian tham dự lớp học, học lực của sinh viên. Phƣơng pháp tiếp cận nghiên cứu 3 6. Phƣơng pháp tra cứu tài liệu Các tài liệu có liên quan đến đề tài đã được tham khảo: Các báo cáo, văn kiện, văn bản pháp quy liên quan đến việc lấy ý kiến phản hồi từ sinh viên về HĐGD của giảng viên; Các đề tài có liên quan đến việc đánh giá bài giảng của giảng viên.
Phƣơng pháp điều tra Điều tra sinh viên, giáo viên nhằm thu thập thông tin định lượng và định tính cho đề tài: Đối với dữ liệu định lượng, đề tài sử dụng các phương thu thập thông tin với các bảng hỏi đã được chuẩn bị từ trước. Bảng hỏi cho thu thập thông tin định lượng gồm 23 câu được chia thành 4 lĩnh vực Lĩnh vực 1: thông tin về môn học (câu 1 – 3) Lĩnh vực 2: thông tin về sinh viên (câu 4-7) Lĩnh vực 3: thông tin về bài giảng + Nội dung bài giảng (câu 8-12) + Phương pháp giảng dạy (câu 13-18) + Hình thức kiểm tra đánh giá (câu 19-20) Lĩnh vực 4: Các ý kiến khác (câu 21-23) Đối với các dữ liệu định tính đề tài cũng đã sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu đối với 03 giảng viên và 09 sinh viên 6. Phƣơng pháp chọn mẫu điều tra − Chọn mẫu điều tra bằng bảng hỏi: Trường CĐCĐ Cà Mau hiện tại có 03 ngành, tác giả chọn cả 3 ngành gồm Kế toán, Công nghệ thông tin và Anh văn. Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên đơn giản.
Kích thước mẫu là 350 sinh viên của 3 ngành học trong trường: Kế toán, Công nghệ thông tin và Anh Văn. Hai ngành Kế toán và Công nghệ thông tin, mỗi ngành trên chọn ra 150 4 sinh viên rải đều từ năm thứ nhất đến năm thứ ba, tương ứng với các khóa 2009, 2010 và 2011. Riêng ngành Anh Văn do số lượng sinh viên tham gia học tập tại trường thuộc ngành này ít hơn so với ngành kế toán và công nghệ thông tin nên chỉ chọn 50 sinh viên cũng rải đều từ năm thứ nhất tới năm thứ ba của cả 03 khóa 2009, 2010 và 2011. − Chọn mẫu để phỏng vấn sâu Mỗi chuyên ngành đào tạo sẽ chọn 1 giảng viên để phỏng vấn.
Do đó có tất cả 3 giảng viên tham gia phỏng vấn. Mỗi khóa h ọc chọn ngẫu nhiên 3 sinh viên để phỏng vấn. Do đó có tất cả 9 sinh viên tham gia phỏng vấn. Khung lý thuyết Mô hình SSRM về duy trì và thỏa mãn nhu cầu của sinh viên - The Student Satisfaction and Retention Model (SSRM), from (Keaveney and Young, 1997) cho thấy bài giảng của giáo viên bao gồm nội dung, phương pháp giảng dạy và việc kiểm tra đánh giá hướng đến nhận thức của sinh viên, tạo ra ở họ tâm thế, tình cảm với bài giảng trên 3 phương diện này.
Theo đó nội dung bài giảng, phương pháp giảng dạy và việc kiểm tra đánh giá đáp ứng ở mức độ nào đó đối với nhu cầu của học viên, từ đó sự hài lòng của sinh viên với bài giảng nói chung được thể hiện. Tuy nhiên mức độ hài lòng của họ với nội dung giảng dạy, phương pháp giảng dạy và việc kiểm tra đánh giá lại phụ thuộc trước hết vào các đặc điểm của chủ thể sự hài lòng – người tiếp nhận bài giảng là sinh viên (giới tính, ngành/môn học, khóa học, thời gian tham dự lớp học, học lực). Bởi vì khi theo học tại một trường nào đó thì sinh viên có những kỳ vọng nhất định về những gì mình đạt được từ khóa học thông qua việc truyền thụ kiến thức của giảng viên. Vì vậy khung lý thuyết được trình bày như sau: 5 Giới tính của Ngành/môn Khóa học Thời gian tham Học sinh viên học dự lớp học lực Sự hài lòng của sinh viên với bài giảng: (Nội dung bài giảng, phương pháp giảng dạy và việc kiểm tra đánh giá) • Biến độc lập: đặc điểm sinh viên gồm giới tính, ngành học, năm học, thời gian tham dự lớp học, học lực của SV.
• Biến phụ thuộc: Sự hài lòng của sinh viên với bài giảng. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan nghiên cứu Lấy ý kiến người học đối với mọi mặt hoạt động của nhà trường là một việc làm bình thường và được tổ chức thường xuyên ở nhiều trường đại học trên thế giới nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người học nói chung, trong đó có chất lượng giảng dạy. Ở Việt Nam, việc tổ chức lấy ý kiến của sinh viên về hoạt động giảng dạy đã được triển khai từ năm học 2009-2010. Với quan điểm xem giáo dục như là một dịch vụ và sinh viên là một khách hàng, một người cộng sự thì vai trò của sinh viên ngày càng quan trọng hơn và là một nhân tố quan trọng trong đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
Năm 1994, trên cơ sở tổng hợp nhiều kết quả nghiên cứu về việc lấy ý kiến SV đối với hoạt động giảng dạy, Lally và Myhill [3] đã rút ra một số nhận xét chung đáng chú ý như sau: - Sự khác biệt về tuổi, giới tính, và “thâm niên” của sinh viên tác động không đáng kể đến kết quả lấy ý kiến sinh viên. Tuy nhiên, sự chênh lệch nhiều về năng lực của sinh viên giữa các lớp học có thể dẫn đến những kết quả khó có tính so sánh giữa các giảng viên.