Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: hương 1: ơ sở lý thuyết hương 2: ác lỗi từ vựng thường gặp hương 3: ác lỗi câu thường gặp 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ƢƠN 1: Ơ SỞ LÝ T UYẾT Ngôn ngữ báo chí là kiểu diễn đạt trên báo, đài để thông báo tin tức thời sự trong nước và quốc tế, phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần chúng nhằm thúc đẩy tiến bộ của xã hội. Ngôn ngữ báo chí được sử dụng ở nhiều loại, có thể quy về ba kiểu văn bản: văn bản cung cấp tin tức, văn bản phản ánh công luận và văn bản thông tin quảng cáo. Phong cách này tồn tại ở hai dạng là dạng nói và dạng viết. Mục đích của văn bản báo chí là nhằm thông báo kịp thời những thông tin cần thiết.
Ngôn ngữ báo chí không phải là một vấn đề mới, nó đã được đào sâu nghiên cứu theo từng góc cạnh, từng thời kỳ phát triển. Nhưng trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, đây lại là một vấn đề nóng cần có sự quan tâm của toàn xã hội. Tiếng Việt đang dần bị ăn mòn bởi thứ ngôn ngữ lai căng, thiếu trong sáng, pha tạp của một bộ phận giới trẻ. Do đó, báo chí phải đóng vai trò như một người dẫn đường trong công cuộc bảo tồn vào phát triển tiếng Việt ngày càng giàu đẹp hơn.
Vấn đề sử dụng ngôn ngữ báo chí có tác dụng trực tiếp và quyết định tới hiệu quả của thông tin báo chí, do vậy ngôn ngữ báo chí trước hết là một thứ ngôn ngữ văn hóa chuẩn mực. Vì thế mà sự chuẩn mực trong ngôn ngữ báo chí làm sắc bén thêm ý nghĩa của sự kiện. Ngôn ngữ báo chí thể hiện phong cách của nhà báo một cách rõ rệt nhất nên cần được quan tâm, phát triển một cách đúng hướng… 1. ặc điểm ngôn ngữ báo chí Ngôn ngữ là yếu tố quan trọng hàng đầu trong tác phẩm báo chí.
Ngôn ngữ là phương tiện chuyển tải nội dung các tác phẩm báo chí. Sự tác động hay hiệu quả của báo chí đều không thể tách rời khả năng sử dụng ngôn ngữ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngôn ngữ báo chí tồn tại và vận động như một loại hình phong cách ngôn ngữ xã hội. Với cách hiểu “Phong cách là những khuôn mẫu trong hoạt động lời nói, được hình thành từ những thói quen sử dụng ngôn ngữ có tính chất truyền thống và chuẩn mực trong việc xây dựng các lớp văn bản tiêu biểu” [7] thì ngôn ngữ báo chí có những nét riêng biệt cho phép nó có vị thế ngang hàng với các chức năng khác của ngôn ngữ.Nguyễn Hữu ạt đặc điểm về ngôn ngữ của phong cách báo chí gồm có 8 đặc điểm.
Tuy nhiên, chúng tôi xin phép được liệt kê một số đặc điểm nổi bật sau: 1.1 Tính chính xác, cụ thể ây là đặc trưng cơ bản đầu tiên của ngôn ngữ báo chí. Báo chí ra đời trước hết là do nhu cầu thông tin. Qua báo chí, người ta có thể nhanh chóng tiếp cận được các vấn đề mà họ quan tâm. Thông qua việc phản ánh thông tin về các sự kiện, hiện tượng, báo chí tác động vào ý thức con người nhằm tạo ra những vận động xã hội theo mục đích đã định.
Trong phong cách báo chí, chức năng tác động luôn được thực hiện hóa cùng các chức năng thông báo thuần túy. ể thực hiện chức năng này, ngôn ngữ phải đảm bảo tính chính xác, khách quan trong việc phản ánh, nhằm đưa đến những thông tin lành mạnh, giúp cho con người mở rộng tầm hiểu biết và phát triển theo khuynh hướng tích cực. Ngôn ngữ chuyển tải thông tin sự kiện càng chính xác, khách quan thì càng tăng hiệu quả của tác phẩm báo chí. ể thực hiện tính chính xác, khách quan của của ngôn ngữ báo chí, người viết phải sử dụng ngôn ngữ một cách rõ ràng, trong sáng làm cho người tiếp nhận thông tin hình dung đúng về sự kiện, tính chất và chiều hướng vận động của nó.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Tính đại chúng Báo chí là phương tiện thông tin đại chúng. ối tượng thông tin của báo chí là toàn xã hội. Báo chí có chức năng hướng dẫn và tác động dư luận. Như thế có nghĩa là nó tự quy tụ bạn đọc về phía mình.
Sự thu hút của báo chí đã tạo ra khả năng tập hợp và thu hút quần chúng. Vì vậy, ngôn ngữ báo chí phải là ngôn ngữ dành cho tất cả mọi người, phù hợp với trình độ chug của quần chúng và đảm bảo cho việc đôc giả tiếp nhận thông tin một cách thuận lợi nhất. Khi thực hiện chức năng hướng dẫn và tác động dư luận, các bài báo thường sử dụng câu hỏi tu từ. òn khi thực hiện chức năng tập hợp và tổ chức quần chúng, ngôn ngữ báo chí thường thiên về các câu mệnh lệnh, kêu gọi.
Trong các tác phẩm báo chí, người ta ít dùng các thuật ngữ chuyên ngành hẹp, các từ ngữ địa phương, tiếng lóng, cũng như các từ ngữ vay mượn từ tiếng nước ngoài. Tính ngắn gọn và biểu cảm Tính ngắn gọn của ngôn ngữ báo chí là yêu cầu mang tính tất yếu xuất phát từ chức năng cơ bản của báo chí là thông tin nhanh. Báo chí luôn tồn tại mẫu thuẫn giữa lượng thông tin khách quan lớn với giới hạn của bài viết, trang báo, số báo, cũng như điều kiện tiếp nhận thông tin của xã hội. Sự dài dòng có thể làm loãng thông tin, ảnh hưởng đến hiệu quả tiếp nhận của người đọc.
ặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, người ta luôn cố gắng thu được càng nhiều thông tin trong một đơn vị thời gian càng tốt. Trong báo chí, mức độ ngắn gọn của ngôn ngữ được xét ở mọi cấp độ, từ việc sử dụng từ ngữ đến các câu, đoạn văn và toàn bộ văn bản. Muốn đảm bảo sự ngắn gọn về ngôn ngữ trong tác phẩm báo chí, người viết cần phải chú ý thích đáng đến sự bố trí, sắp xếp, quan hệ qua lại giữa các bộ phận, các chi tiết, và đặc biệt là việc sử dụng từ ngữ, chính tả chính xác, kết cấu hợp lý. Người viết phải loại bỏ tất cả những cách diễn đạt dài dòng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang tính hoa mỹ.
Việc sử dụng ngôn ngữ phải đạt tới sự chắt lọc để thông tin đến được với người đọc nhanh nhất và dễ hiểu nhất. Mặc dù trong báo chí việc sử dụng ngôn ngữ phải đạt tới sự ngắn gọn, tiết kiệm một cách tối ưu nhưng vẫn phải giữ được tính biểu cảm. Tính biểu cảm của ngôn ngữ sẽ làm cho báo chí thực hiện tốt chức năng tác động và tổ chức quần chúng. Tính biểu cảm làm cho nội dung thông tin của bài báo đến được với độc giả một cách dễ dàng hơn.
Tính biểu cảm trong ngôn ngữ gắn liền với sức hấp dẫn và tính thuyết phục của báo chí. Vì thế, ngôn ngữ trong văn bản báo chí phải có sức thu hút, lôi cuốn người đọc. Người viết phải có khả năng sử dụng từ ngữ độc đáo, kiến tạo được những kết hợp từ mới lạ, giàu hình ảnh, sinh động và ấn tượng đối với độc giả. Báo chí Việt Nam phát huy tính hấp dẫn của ngôn ngữ theo con đường lành mạnh và có định hướng.
Tính thẩm mỹ và giáo dục Dù ở thể loại gì đi chăng nữa, ngôn ngữ báo chí vẫn phải đảm bảo những nguyên tắc về thẩm mỹ. Muốn nội dung của bài viết thực sự tác động đến độc giả và có khả năng làm thay đổi hành vi của độc giả theo hướng tích cực thì người viết cần phải lựa chọn từ ngữ và tìm tòi những kiểu kết cấu vừa hợp lý vừa sáng tạo. Ngôn ngữ đảm bảo được tính thẩm mỹ thì bài báo mới có sức thuyết phục. Nếu thực hiện được tính thẩm mỹ trong ngôn ngữ thì báo chí cũng đồng thời thực hiện được tính giáo dục.
Thực hiện được yêu cầu này thì ngôn ngữ báo chí mới giúp cho người đọc nhận thức đúng về các sự kiện, hiện tượng, vấn đề có ý nghĩa đối với xã hội được đề cập trên các bài báo. Nó giúp cho con người nhận thức được chân – thiện – mỹ. Tính giáo dục của ngôn ngữ báo chí thường không hiện lên trên bề mặt của văn bản mà ẩn chìm sau lớp ngôn ngữ, thực chất là ý nghĩa loại suy từ nghĩa thông báo và nghĩa tác động. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
huẩn mực ngôn ngữ Phong cách báo chí là một phong cách chức năng được sử dụng hằng ngày trên các báo, tạp chí ấn hành cho đông đảo bạn đọc. Báo chí có vai trò hết sức quan trọng trong việc xác lập chuẩn mực ngôn ngữ cộng đồng. Ngôn ngữ được coi là cốt lõi của báo chí. Vì vậy, việc quan niệm thế nào là chuẩn mực ngôn ngữ thật sự cần thiết.
Quan niệm về chuẩn mực ngôn ngữ Vậy chuẩn hóa ngôn ngữ là gì? ông việc này cần phải được tiến hành như thế nào và bao gồm những yếu tố nào? Trước khi trả lời câu hỏi này, chúng ta cần xác định rõ khái niệm “chuẩn mực” mà cụ thể hơn là khái niệm “chuẩn mực ngôn ngữ”. Xoay quanh khái niệm này có rất nhiều ý kiến khác nhau của các nhà ngôn ngữ học. Tại Việt Nam, chuẩn ngôn ngữ cũng là một vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm: Tác giả Hoàng Tuệ trong bài tổng kết Hội nghị Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ coi: “ huẩn mực, nói một cách khái quát, là cái đúng. ó là cái đúng có tính chất chung chung, tính chất bình thường, được mọi người trong một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận ở một giai đoạn lịch sử nhất định trong quá trình phát triển lịch sử của ngôn ngữ.
ái đúng ấy được xác định theo một tập hợp những quy tắc nhất định thuộc các phạm vi phát âm, viết chữ, dùng từ, cấu tạo từ mới và đặt câu…” [29]. òn đối với Nguyễn Hữu ạt: “ huẩn trước hết phải là những thói quen giao tiếp ngôn ngữ được định hình về mặt xã hội và được chấp nhận trong cảm thức của ngôn ngữ của người bản ngữ” [7;17]. Một quy định về chuẩn ngôn ngữ dù ngặt nghèo đến đâu nhưng nếu không đi được vào ý thức của cộng đồng, không đi vào những hoạt động thực tiễn thì không thể trở thành chuẩn mực.