Chương 1: CƠ SỞ LÝ THUYET 1.1 Tổng quan nghiên cứu về lỗi tiếng Việt của người nước ngoài học tiếng Việt. Vẫn đề lỗi ngôn ngữ khi học ngoại ngữ là một vẫn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học quan tâm đến.Trước hết phải kê đến nhà nghiên cứu Pit Corder với bài viết có tựa đề “The Signficance of Learne” nghiên cứu về vấn đề dùng không chính xác từ loại. Tác giả phân tích các nguyên nhân gây ra lỗi như lỗi do vượt tuyến, lỗi giao thoa ngôn ngữ, lỗi tự ngôn ngữ đích để rồi tìm ra các giải pháp chữa lỗi. Trong những năm gan đây đã có rất nhiều các bài nghiên cứu của các nhà khoa học nghiên cứu về van đề lỗi như: Nguyễn Linh Chi với “Một số nhận xét về lỗi dùng từ đặt câu của người nước ngoài học tiếng Việt” (Tạp chí Ngôn ngữ và đời sống số 8 — 2007), “Lỗi trật tự từ của người bản ngữ tiếng Anh học tiếng Việt” (Tạp chí ngôn ngữ số 7 — 2008), “Lỗi ngôn ngữ của người nước ngoài học tiếng Việt (trên tư liệu từ vựng, ngữ pháp của người Anh, Mĩ )” (Luận án tiến sĩ ngữ ngôn ngữ học).Trong đó, tác giả Nguyễn Linh Chi đã chỉ ra các lỗi cơ bản về từ vựng, ngữ pháp của người Anh, người Mỹ học tiếng Việt và tác giả tiếp cận các lỗi này từ góc độ chiến lược học, chiến lược giao tiếp và hệ thống ngôn ngữ trung gian.
Luận án miêu tả, giải thích những lỗi từ vựng, ngữ pháp và chỉ ra nguyên nhân gây nên lỗi theo cơ sở lý luận phân tích lỗi do S. Corder khởi xướng. Nguyễn Văn Phúc với “Nghiên cứu các dạng lỗi phát âm tiếng Việt của sinh viên nói tiếng Anh” (Luận án tiến sĩ khoa học ngữ văn). Đỗ Thị Thu với “Xem xét cách diễn đạt câu tiếng Việt của người nước ngoài khi học tiếng Việt” (Luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn), Đinh Lê Huyền Trâm “Khảo sát lỗi từ vựng và ngữ pháp của sinh viên Lào và Campuchia học tiếng Việt tại trường Hữu Nghị 80” (Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ), Tiếp theo phải kể đến luận án của tác giả Nguyễn Thiện Nam nghiên cứu về lỗi ngữ pháp của người nói tiếng Khơme, tiếng Nhật và tiếng Anh khi học tiếng Việt.
Luận án đã góp phần không nhỏ vào việc học tiếng Việt của người nước ngoài và giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài. Các bài viết và công trình nghiên cứu được liệt kê trên đây dù ở dạng đúc kết kinh nghiệm hay là những nghiên cứu chuyên sâu thì cũng đều giải quyết được một số yêu cầu cụ thể trong việc phát hiện, xử lý và đưa ra được những giải pháp khắc phục lỗi, đóng góp hữu ích trong công tác dạy và học tiếng Việt cho người nước ngoài nói chung. Tuy nhiên, có thé thay hầu hết các công trình nghiên cứu về lỗi mới chỉ tập chung nghiên cứu các lỗi ngữ pháp, lỗi từ vựng và ngữ nghĩa. Có rất ít các công trình nghiên cứu về lỗi ngữ âm của người nước ngoài khi học tiếng Việt.
Mới đây nhất, năm 2016, Soudchai Simmalavong có Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học với đề tài “Bước đầu khảo sát lỗi ngữ âm của người Lào khi học tiếng Việt”. Bài luận văn mới chỉ dừng lại ở việc khảo sát và phân tích những lỗi cơ bản như lỗi phụ âm dau, van mà chưa gắn với những đối tượng cu thé. Do đó đề tài nghiên cứu “Khảo sát lỗi phát âm tiếng Việt của học viên nước ngoài học tiếng Việt (trường hợp học viên quân sự Lào học tiếng Việt tại Đoàn 871-TCCT)” sẽ đưa đến cái nhìn cụ thé hơn về lỗi phát âm của học viên quân sự Lao tai Đoàn 871-TCTT, và đưa đến một cái nhìn tổng quan trong van đề phân tích lỗi ngữ âm.2 Một số cơ sở lí thuyết 1.1 Khái quát về ngữ âm, ngữ âm tiếng Việt và ngữ âm tiếng Lào.1 Khái quát về ngữ âm. Ngôn ngữ là một hệ thống âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của con người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện tư duy, truyền đạt văn hóa - lịch sử từ thế hệ nay sang thế hệ khác.
Cái ngôn ngữ dùng dé giao tiếp và truyền đạt tư tưởng ấy, ngay từ đầu đã là ngôn ngữ thành tiếng, ngôn ngữ âm thanh. Đó là toàn bộ hệ thống các âm của ngôn ngữ mà con người nói ra, là cái “vo vật chat” của ngôn ngữ mà con người nói ra được, tri nhận được [46,97]. Mặt âm thanh làm nên tính chất hiện thực của ngôn ngữ, nhờ có nó ngôn ngữ mới được xác lập, ton tại và phát triển. Mặt âm thanh là một thuộc tính không thể tách rời của tất cả các sinh ngữ hiện đang tồn tại.
Lí luận của chủ nghĩa Mác khăng định sự phát sinh của ngôn ngữ phụ thuộc vào sự phát triển của bộ máy phat âm của người nguyên thuỷ; nguồn gốc của ngôn ngữ gan liền với sự phát triển của khả năng cấu tạo những âm thanh tách bach ở con người. Luận điểm này được chứng tỏ bằng học thuyết về hệ thống tín hiệu thứ hai của I.Pavlov: Nếu các cảm giác và hiện tượng của chúng ta về thế giới ở xung quanh đối với ta là hệ thống tín hiệu thứ nhất của hiện thực, những tín hiệu cụ thé, là lời nói, đặc biệt trước hết là những sự kích thích động học từ các khí quan phát âm đi vào vỏ não, là những tín hiệu thứ hai, tín hiệu của những tín hiệu /Pavlov, dẫn theo Zinder, [14]. Như vậy, về mặt sinh lí học, những sự kích thích động học đi từ các khí quan phát âm là những sự kích thích phát sinh do những vị trí khác nhau của các khí quan này. Chính sự chuyên động của các khí quan phát âm khi cấu tạo các âm thanh là điều kiện thiết yêu để cho ngôn ngữ được xác lập, tồn tại và phát triển.
Do đó, không thể có một ngôn ngữ nào đó mà không dùng âm thanh, không lấy âm thanh làm hình thức thé hiện. Cố nhiên, không phải bất kì âm thanh nào do con người phát ra đều là âm thanh ngôn ngữ. Âm thanh ngôn ngữ khác với tiếng ho, tiếng nắc, v. Những âm thanh này được phat ra do nhu cau sinh lí, nghĩa là không có giá trị biểu đạt, không phải là phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ.
Hình thức biểu đạt bằng âm thanh của các từ trong ngôn ngữ không chỉ là âm thanh vật chất đơn thuần. Khi ta đọc thầm, nhằm va suy nghĩ thì hình thức âm thanh của các từ và câu vẫn xuất hiện nhưng ở dạng ấn tượng âm thanh hay còn gọi là hình ảnh âm thanh. Như vậy, khi có người nói, người nghe ta có âm thanh cụ thể, thực tế. Còn khi tư duy thì chúng ta tư duy bằng ngôn ngữ.
Mặt khác, âm thanh ngôn ngữ, đặc biệt là các các âm tố lời nói dường như tách riêng ra khỏi từ, được trừu tượng hoá, bởi lẽ, một âm vi nào đó không chỉ xuất hiện trong một từ mà có thé xuất hiện trong nhiều từ khác nhau của một ngôn ngữ. Nó xuất hiện trong từ này, cũng có thể xuất hiện trong nhiều từ khác. Mấy vạn từ làm thành từ vựng của một ngôn ngữ, về mặt âm thanh vốn là những kết hợp khác nhau của may chục âm tổ lời nói (âm vi) mà thôi.Các âm thanh trong một ngôn ngữ có quan hệ đồng nhất và đối lập với nhau về mặt giá trị và lập thành hệ thống. Đó là hệ thống ngữ âm của một ngôn ngữ nhất định.
Âm thanh ngôn ngữ là hình thức biểu đạt tất yếu của ngôn ngữ, là cái vỏ vật chất tiện lợi nhất của ngôn ngữ. Do đó, về một phương diện nảo đó, nếu coi ngôn ngữ bao gồm hai mặt: mặt biéu hiện và mặt được biểu hiện thi cũng có thé coi ngữ âm là mặt biểu hiện còn từ vựng và ngữ pháp là mặt được biểu hiện của ngôn ngữ. Bởi vậy, nghiên cứu ngữ âm là công việc đầu tiên và tất yếu đối với việc nghiên cứu bất cứ ngôn ngữ nảo. Cơ sở hình thành ngữ âm: Âm thanh ngôn ngữ được xác lập từ cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội.
Cơ sở tự nhiên: Ở mặt âm thanh ngôn ngữ, chúng ta có thé tiến hành nghiên cứu về bản chất âm học (cảm thụ - vật lí) và những phương thức cấu âm (nguồn gốc - sinh lí), tức là cơ sở tự nhiên của âm thanh ngôn ngữ. Mặt vật lí (cảm thụ - âm học): Cũng như các âm thanh khác trong tự nhiên, âm thanh ngôn ngữ được tạo thành do sự chan động cua dây thanh va sự hoạt động của các khí quan khác thuộc bộ máy phát âm của con người. Do đó, người ta có thể miêu tả âm thanh của ngôn ngữ bằng những đặc trưng âm học như độ cao, độ mạnh, độ dài, âm sắc, v. Mặt sinh lí (nguồn gốc - cấu âm): Âm thanh ngôn ngữ do bộ máy phát âm của con người cùng với hoạt động của nó tạo nên.
Bộ máy phát âm là những bộ phận của cơ thể được dùng với chức năng thứ hai là tạo ra các âm của ngôn ngữ. Bộ máy phát âm gồm có cơ quan hô hấp, thanh hầu và các khoang (khoang mũi, khoang miệng, khoang yết hầu) Hình ảnh bộ máy phát âm. Vom miệng trên ; 3. Vom miệng m ẻm (‘a §.
Nap đóng của thanh quản 11. Dây thanh gia 12. Thực quản Cơ sở xã hội: Nói đến cơ sở xã hội của ngữ âm là nói đến chức năng xã hội của nó.Âm thanh, tự bản thân nó không mang ý nghĩa gì cả. Nhưng khi một đơn vị âm thanh nào đó được một cộng đồng lựa chọn và xác lập làm hình thức biểu đạt cho những đơn vị mang nghĩa trong một ngôn ngữ va dùng để giao tiếp thì sẽ trở thành những đơn vị âm thanh ngôn ngữ.
Mặt xã hội của ngữ âm làm cho mỗi người nói một ngôn ngữ nào đó nhận ra sự khác nhau giữa các đơn vị âm thanh của ngôn ngữ đó, đồng thời luôn có ý thức và thói quen phân biệt sự khác nhau đó, một sự khác nhau có tính chất chức năng - chức năng giao tiếp.2 Ngữ âm tiếng Việt. Các ngôn ngữ trên thế giới được chia thành 4 loại hình: Loại hình ngôn ngữ hòa kết, loại hình ngôn ngữ chắp dính, loại hình hỗn nhập và loại hình ngôn ngữ đơn lập. Trong đó tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Đặc điểm nay thể hiện rõ rệt ở mặt ngữ âm.
Trên chữ viết, mỗi tiếng được ghi thành một chữ.