Chương I: Cơ sở lý luận Chương II: Phân loại lời dẫn phóng sự truyền hình ANTV Chương III: Phân tích diễn ngôn lời dẫn phóng sự truyền hình ANTV - Phần kết luận 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lý thuyết về phân tích diễn ngôn 1.Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn. Ở phần này, chúng tôi sẽ tiếp tục đề cập đến khái niệm “phân tích diễn ngôn” trên cơ sở khái niệm “diễn ngôn” như đã trình bày mục trên. Harris (1952) là người đầu tiên nói về phương pháp phân tích diễn ngôn áp dụng cho các chuỗi câu liên kết, coi phân tích diễn ngôn như là một hệ phương pháp hình thức phân tích văn bản thành các đơn vị nhỏ hơn [24; tr.
Đồng thời ông cũng rất chú ý tới việc đối lập giữa các tập hợp câu là diễn ngôn với cái gọi là một tập hợp ngẫu nhiên không có tính mạch lạc. Theo sau Harris - một đại biểu của đường hướng cấu trúc luận trong phân tích diễn ngôn, các nhà nghiên cứu theo đường hướng chức năng luận cũng thể hiện quan điểm của mình về phân tích diễn ngôn. Fasold (1990) nói “nghiên cứu diễn ngôn là nghiên cứu mọi khía cạnh sử dụng của ngôn ngữ”; Brown.G, hai tác giả tiêu biểu coi “diễn ngôn như là một quá trình” cho rằng: Phân tích diễn ngôn nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức. Nhà phân tích diễn ngôn, vì thế, quan tâm đến chức năng hay mục đích của một mẫu dữ liệu ngôn ngữ và cách thức dữ liệu đó được người phát cũng như người nhận xử lí [42; tr.
Nói một cách cụ thể hơn, nhà nghiên cứu cần tìm hiểu xem, nội dung thông điệp được thể hiện bằng chất liệu ngôn ngữ đã được người nói/viết tạo ra theo cách thức nào để đạt được mục đích, ý đồ tác động của mình tới người tiếp nhận trong bối cảnh giao tiếp thực tế, xác định… và đồng thời, nội dung thông điệp đó được người nghe/đọc tiếp nhận theo cách nào, với tâm lí ra sao… Từ việc mô tả đó mới khái quát lên thành 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những quy tắc trong ngôn ngữ mà người giao tiếp đã sử dụng để đạt được mục đích, ý đồ giao tiếp. Đồng quan điểm với hai tác giả trên, David Nunan (1998) cũng đã phân biệt phân tích văn bản và phân tích diễn ngôn. Phân tích văn bản là xem xét các đặc điểm nội dung và hình thức của văn bản tách rời ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ, còn phân tích diễn ngôn sẽ quan tâm tới mặt chức năng tức là liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình sử dụng (ngôn ngữ hành chức). Ông chỉ rõ giống như các nhà ngữ âm học, ngữ pháp học, nhà phân tích diễn ngôn cũng cần quan tâm đến việc nhận diện những cái đều đặn và những cái khuôn mẫu trong ngôn ngữ.
Tuy nhiên, không chỉ có vậy, nhà phân tích diễn ngôn còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng hơn cả là đạt đến mục đích cuối cùng của công việc phân tích: vừa chỉ ra, vừa giải thuyết mối quan hệ giữa những cái đều đặn đó với những ý nghĩa và những mục đích được diễn đạt qua diễn ngôn. Ở Việt Nam, Đỗ Hữu Châu là một trong những người đầu tiên và nghiên cứu khá nhiều về dụng học. Tác giả này cũng đã thể hiện quan niệm của mình như sau: Phân tích diễn ngôn là phân tích cả những yếu tố hình thức của diễn ngôn, bao gồm các yếu tố ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học, các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn. Các yếu tố kèm lời, phi lời cũng được xem là các yếu tố thuộc về hình thức của diễn ngôn.
Về nội dung, nhà nghiên cứu cho rằng diễn ngôn bao gồm nội dung thông tin và nội dung miêu tả. Hai thành tố nội dung này có thể hiện tường minh qua các yếu tố ngôn ngữ hình thức của diễn ngôn, hoặc cũng có thể tồn tại một cách khiếm diện trong đích giao tiếp của đối phương. Như vậy,theo Đỗ Hữu Châu, phân tích diễn ngôn đầy đủ là phải phân tích cả hai mặt nội dung và hình thức của diễn ngôn. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bên cạnh đó, Nguyễn Thiện Giáp trong cuốn “Giáo trình ngôn ngữ học” cũng đã dành một số trang viết để nói về phân tích diễn ngôn.
Theo ông, phân tích diễn ngôn (discourse analysis) là một cách tiếp cận việc nghiên cứu diễn ngôn dựa trên những khái niệm và thuật ngữ của ngữ pháp truyền thống. Phân tích diễn ngôn có nhiệm vụ phân tích bằng một bộ phức hợp khái niệm và thuật ngữ ngữ pháp quen thuộc với bất kỳ nhà nghiên cứu ngữ pháp nào và cố gắng nhận ra xem những khái niệm đó cần thiết trong sự cấu trúc diễn ngôn như thế nào. Phân tích diễn ngôn cố gắng mở rộng sự phân tích cấu trúc câu đến đơn vị lớn hơn câu, nó thường bắt đầu bằng sự cố gắng nhận diện những đơn vị tối thiểu của ngôn ngữ, sau đó, tìm kiếm những quy luật chi phối những đơn vị tối thiểu đó cùng nhau kết hợp thành chuỗi để tạo nên diễn ngôn như thế nào.441-442] Trong cuốn “Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo của văn bản” của Diệp Quang Ban có trình bày: “Phân tích diễn ngôn là đường hướng tiếpcận tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu (diễn ngôn/ văn bản) từ tính đa diện hiện thực của nó, bao gồm các mặt ngôn từ và ngữ cảnh tình huống, với các mặt hữu quan thể hiện trong khái niệm ngôn vực (register) mà nội dung hết sức phong phú và đa dạng (gồm các hiện tượng thuộc thể loại và phong cách chức năng, phong cách cá nhân, cho đến các hiện tượng xã hội, văn hóa, dân tộc)” [8; tr. Như vậy, định nghĩa này chú trọng tới ba yếu tố đối tượng khảo sát (tài liệu ngôn ngữ nói và viết bậc trên câu), đối tượng nghiên cứu (tính đa diện hiện thực của tài liệu ngôn ngữ khảo sát) và phương pháp tiếp cận là phương pháp phân tích (phân tích ngôn ngữ trong sử dụng).
Với tác giả Nguyễn Hòa, phân tích diễn ngôn và phân tích văn bản không phải là hai bộ môn khác nhau mà chỉ là “hai mặt của phân tích ngôn ngữ hành chức trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội.” 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo chúng tôi quan điểm cho rằng “diễn ngôn là một sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể”[24; tr.33] của Nguyễn Hòa rất phù hợp với hướng nghiên cứu của chúng tôi về diễn ngôn lời dẫn phóng sự. Nói đến sự kiện giao tiếp tức là bao gồm các yếu tố: phương tiện ngôn ngữ thể hiện (phát ngôn hoặc văn bản), có chủ đề, nội dung, mạch lạc và thể hiện mục đích giao tiếp. Và hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể được hiểu là nói đến những hoàn cảnh ngoài ngôn ngữ chi phối, tác động đến sự kiện giao tiếp đó như các yếu tố về hoàn cảnh tình huống hay điều kiện diễn ra ngoài diễn ngôn, kiến thức nền, yếu tố văn hóa, dụng học. Từ khái niệm “diễn ngôn” cho thấy, phân tích diễn ngôn là phân tích ngôn ngữtrong sử dụng.
Vì thế, diễn ngôn là khái niệm còn phân tích diễn ngôn là phương pháp hoặc cách tiếp cận. Điều này cho thấy, ngữ cảnh chính là yếu tố quan trọng trong phân tích diễn ngôn. Các nhà ngữ pháp chức năng - hệ thống cho rằng người ta không thể hiểu được ý nghĩa của những điều được nói ra nếu không biết gì về ngữ cảnh xung quanh chúng.Những đặc tính của diễn ngôn Như vậy có thể thấy những đặc tính cơ bản của diễn ngôn là tính ma ̣ch l ạc, tính giao tiếp, ký hiệu và tính liên quan. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Tính mạch lạc Mạch lạc được Nguyễn Thiện Giáp coi là “cái quyết định để một sản phẩm ngôn ngữ trở thành diễn ngôn”[20; tr.
Cụ thể hơn George Yule cho rằng mạch lạc là điều được nói hay viết ra sẽ có nghĩa theo kinh nghiệm bình thường của họ về các sự vật. Như vậy, cơ sở mạch lạc là những gì quen thuộc, kiến thức văn hóa chung, kiến thức nền. Có thể hiểu một cách ngắn gọn rằng mạch lạc là mạch nối diễn ngôn, cho phép hiểu diễn ngôn trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội. Mạch lạc là một phần của nội dung thực của văn bản.
Tính mạch lạc của diễn ngôn theo Diệp Quang Ban được thể hiện qua những phương tiện ngôn ngữ và phương tiện ngoài ngôn ngữ, đó là cách thức hay cấu trúc tổ chức diễn ngôn (hình thức tổ chức văn bản), trong quan hệ nghĩa – logic giữa các từ ngữ trong văn bản; quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với cái được nói tới trong tình huống từ bên ngoài văn bản; trong quan hệ thích hợp giữa các hành động nói.296] Bên cạnh sự thể hiện trong liên kết, mạch lạc còn thể hiện trong cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố quan yếu của diễn ngôn theo một cách thức hay trình tự nhất định nào đó nhằm thể hiện những ý tứ tạo thành mục đích nói. Như vậy, có thể thấy tính cấu trúc của diễn ngôn mang tính chủ quan của người viết. Chức năng giao tiếp và tính ký hiệu Xuất phát từ quan điểm ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được dùng làm công cụ giao tiếp và ký hiệu là những đặc tính không thể thiếu của diễn ngôn. Song diễn ngôn là một đơn vị ngôn ngữ chưa hành động ngôn ngữ vì vậy tính giao tiếp, ký hiệu của nó có thêm phần của ngữ nghĩa và ngữ dụng.
Tức là ý nghĩa của lời nói và ý nghĩa dụng ngôn của lời nói. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ý nghĩa lời nói được hiểu là nội dung biểu hiện hay nội dung mệnh đề là ý nghĩa sự việc hay nội dung của sự kiện/ sự thể đã xảy ra, thể hiện qua các tham thể và mối quan hệ giữa các tham thể. Nội dung mệnh đề thay đổi khi có sự thay đổi của mộttrong các yếu tố này. Xét về mặt nội dung biểu hiện, ý nghĩa của diễn ngôn bao gồm ý nghĩa của từng ký hiệu từ ngữ trong ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống trong việc tạo và hiểu lời.
Nội dung dụng học là ý nghĩa rút ra từ ý định của người nói. Dụng học quan tâm đến lực ngôn trung của diễn ngôn.