Đặt vấn đề Nhiễm khuẩn là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thế giới và đứng thứ hai là các bệnh về tim mạch. Theo niên giám thống kê y tế năm 2008 nhiễm khuẩn bệnh viện cũng chiếm tỷ lệ tử vong cao ở nước ta (16,7% so với bệnh về tim mạch là 18,4%) (Bộ Y tế, 2009) [4]. Sự ra đời của kháng sinh Penicillin đã đánh dấu cho kỷ nguyên phát triển của y học về điều trị nhiễm khuẩn và hàng loạt thuốc kháng sinh ra đời ngay sau đó đều phục vụ cho điều trị nhiễm trùng cho bệnh nhân. Nên việc sử dụng thuốc kháng sinh trước, trong và sau khi phẫu thuật rất quan trọng có tác dụng đẩy lùi các vi khuẩn nhiễm trùng.
Tuy nhiên, cùng với sự ra đời của thuốc kháng sinh thì việc sử dụng tự phát và lạm dụng thuốc quá mức dẫn đến một thực trạng là vi khuẩn kháng thuốc ngày càng gia tăng. Nhất là ở những nơi sử dụng thuốc kháng sinh nhiều và tập trung nhiều bệnh nhân như bệnh viện (Lê Hồng Minh, 2009) [17]. Thực sự, các vi sinh vật kháng kháng sinh đang là mối đe dọa chung của toàn cầu. Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên là một trong số bệnh viện lớn trong khu vực Phía Đông Bắc Việt Nam, tập trung nhiều bệnh nhân nặng và là tuyến cuối của các bệnh viện cở sở trong khu vực nên là nơi nghi ngờ sẽ có khả năng kháng thuốc cao.
NTBV không chỉ làm tăng thêm số ngày nằm viện, chi phí điều trị của bệnh nhân mà còn tăng nguy cơ đa kháng thuốc, nhất là kháng sinh tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại Bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng Thái Nguyên”. Mục đích Khảo sát được tình hình kháng thuốc kháng sinh của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện tại Bệnh viên đa khoa Trung ương Thái Nguyên. Yêu cầu - Đánh giá được tỷ lệ vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện.
- Đánh giá được tình hình kháng kháng sinh của một số vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện phân lập được. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp nguồn tài liệu khoa học phục vụ cho nghiên cứu và giảng dạy. - Đánh giá thực trạng vi khuẩn kháng thuốc ở Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên và cung cấp thông tin về tình hình nhiễm trùng ở bệnh viện và tình hình kháng thuốc kháng sinh của các vi khuẩn nhiễm trùng ở bệnh viện.
- Kết quả khảo sát là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu thuộc cùng lĩnh vực liên quan. Ý nghĩa thực tiễn Xây dựng kháng sinh đồ cho từng bệnh nhân cụ thể giúp góp phần xây dựng chế độ hóa trị liệu liên quan cho bệnh nhân, góp phần hạn chế sự lây lan của các chủng vi khuẩn kháng thuốc ngoài cộng đồng. 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về nhiễm trùng bệnh viện 2.
Khái niệm về nhiễm trùng bệnh viện Nhiễm trùng là hiện tượng vi sinh vật gây bệnh xâm nhập vào mô (tế bào) của cơ thể vật chủ trong những hoàn cảnh nhất định (Vũ Văn Long và cs, 2010) [15]. Theo định nghĩa của Trung Tâm Kiểm Soát và Phòng Bệnh Hoa Kỳ (Center for Control and Prevention - CDC) thì: “Nhiễm trùng bệnh viện là một loại nhiễm trùng tại chỗ hay toàn thân do phản ứng có mặt của tác nhân gậy bênh (hoặc độc tố của nó) mà nó chưa có mặt hoặc chưa được ủ bệnh lúc nhập viện” (Robert A. Những nhiễm trùng mắc phải ở bệnh viện nhưng biểu hiện lâm sàng sau khi người bệnh rời bệnh viện cùng là nhiễm trùng bệnh viện (Đoàn Thị Nguyện, 2009) [21]. Hậu quả và đối tượng có nguy cơ bị nhiễm trùng bệnh viện Nhiễm trùng bệnh viện gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đối với cá nhân bệnh nhân cũng như cộng đồng vì nhiễm trùng bệnh viện không chỉ làm tăng số ngày nằm viện, chi phí điều trị mà còn tăng nguy cơ phát triển của các vi khuẩn đa kháng thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong cho bệnh nhân.
Có nhiều đối tượng có nguy cơ bị nhiễm trùng bệnh viện nhưng riêng với bệnh nhân suy giảm miễn dịch vì các lý do sau: Bệnh nhân bị các bệnh của cơ quan miễn dịch, dùng các thuốc giảm miễn dịch như các thuốc điều trị ung thư, sau phẫu thuật, hoặc sau mắc một bệnh nặng, hoặc đang mắc một bệnh mạn tính, hoặc người có tuổi nằm điều trị ở bệnh viện lâu ngày, hoặc trẻ em còi xương, suy dinh dưỡng, bị bệnh ỉa chảy kéo dài, những nhân viên bệnh viện thường xuyên tiếp xúc với vi sinh vật gây bệnh. Trong khi cơ thể có sức đề kháng kém, tình trạng vệ sinh và bảo hộ lao động chưa được cải thiện (Đoàn Thị Nguyện, 2009) [21]. Nhiễm trùng bệnh viện được chia ra thành nhiễm trùng nội sinh và nhiễm trùng ngoại sinh. Nhiễm trùng nội sinh là loại nhiễm trùng do các vi sinh vật đã ký sinh sẵn ở người bệnh gây ra.
Chúng là những vi sinh vật gây bệnh cơ hội. Nhiễm 4 trùng ngoại sinh là loại nhiễm trùng do các vi sinh vật xâm nhập vào bệnh nhân từ môi trường bên ngoài (Đoàn Thị Nguyện, 2009) [21]. Vi khuẩn thường gặp trong nhiễm trùng bệnh viện Mọi loài vi khuẩn đều có thể gây nhiễm trùng bệnh viện với tỷ lệ khác nhau nhưng đứng đầu là các vi khuẩn Gram Âm vì chúng có lớp màng ngoài được bọc bởi một nang, mà nang này che các kháng nguyên làm cơ thể phát hiện ra tác nhân xâm nhập khó khăn hơn. Ngoài ra màng vi khuẩn có chứa lipopolysaccharide đóng vai trò là nội độc tố và làm tăng phản ứng viêm có thể gây sốc nhiễm khuẩn nên vi khuẩn Gram Âm gây bệnh nguy hiểm hơn.
Còn vi khuẩn Gram Dương chúng cũng gây nguy hiểm nhưng mức độ ít hơn do cơ thể người không có peptidoglycan và có khả năng sản xuất enzyme lysozyme tấn công lớp Peptidoglycan của chúng. Các vi khuẩn Gram Âm có thể gây ra nhiễm trùng ở nhiều cơ quan như hệ tiết niệu, hệ tuần hoàn hoặc ở các vết phẫu thuật.Trong số các vi khuẩn Gram Âm gây nhiễm trùng bệnh viện, phổ biến nhất là Escherichia coli, Klebsiella, Enterobacter, Hemophilus…. Các vi khuẩn Gram Dương thường gặp nhất là: Staphylococcus aureus và Streptococcus pneumoniae, Enterococcus… (Đoàn Thị Nguyện, 2009) [21]. Tình hình nghiên cứu nhiễm trùng bệnh viên ở Việt Nam và trên Thế Giới.1 Tình hình nghiên cứu nhiễm trùng bệnh viện ở Việt Nam Trong tình hình cả thế giới đều đang lo ngại và hướng đến các vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện kháng thuốc làm tăng nguy cơ tử vong, kéo theo nhiều hậu quả khác, đặc biệt ở các nước đang phát triển như Việt Nam, vấn đề đó luôn được quan tâm hàng đầu.
Đã có rất nhiều bệnh viện tiến hành khảo sát về tỷ lệ vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện trên cả nước gồm các bệnh viện lớn như: Bạch Mai, Bệnh viện Đa khoa Trung ương Huế, Thống Nhất… và các bệnh viện cơ sở khác (Nguyễn Văn Kính và cs, 2009) [12]. Theo một báo cáo về tình hình kháng thuốc tại một số đơn vị điều trị tích cực trong cả nước, tỷ lệ vi khuẩn phân lập được lần lượt là: Acinetobacter (24%), Klebsiella (20%). Theo nghiên cứu khác tại 37 bệnh viện các tỉnh phía Bắc trong năm 2006 - 2007, gồm 2 bệnh viện Trung ương, 17 5 bệnh viện tuyến tỉnh, 17 bệnh viện tuyến huyện cho thấy có 553/7571 (7,3%) bệnh nhân mắc bệnh nhiễm trùng bệnh viện có 3 loại chính là viêm phổi 41,9%, nhiễm trùng vết mổ 27,5%, nhiễm trùng tiêu hóa 13,1%, trong đó căn nguyên chính là Acinetobacter (23,3%), P. Các loại vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện khác nhau là không giống nhau theo khảo sát năm 2009 tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, tỷ lệ vi khuẩn phân lập được lần lượt là E.
coli (29,7%), Klebsiella spp. aureus (6,0%) và Acinetobacter spp. coli và 11,5% Klebsiella có sinh ESBL (Extender Spectrum β-lactamase) là enzyme β-lactamase mà vi khuẩn tiết ra gây phá hủy vòng β-lactam làm mất tác dụng của các thuốc kháng sinh nhóm β-lactam (Nguyễn Sử Minh Tuyết và cs, 2009) [27]. Cũng theo khảo sát khác tại Bệnh viện Nhi Quảng Nam vào năm 2015 của Nguyễn Minh Thái [29], tỷ lệ các vi khuẩn phân lập được lần lượt là S.
Như vậy, tỷ lệ các vi khuẩn có thể khác nhau nhưng dẫn đầu gây nhiễm trùng bệnh viện vẫn là vi khuẩn E. Tình hình nghiên cứu nhiễm trùng bệnh viện trên thế giới Theo nghiên cứu của Mayon - white R. và cộng sự năm 1988 [45] về tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện trên 47 bệnh viện, 14 quốc gia, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi có tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện là 13,5% và thường mắc bệnh về đường da, đường hô hấp…. Tỷ lệ người lớn trên 64 tuổi nhiễm trùng là 12,0% và dễ mắc các bệnh nhiễm trùng tiết niệu….
Trong các vi khuẩn phân lập được từ bệnh viện, E. aureus là 2 trong 6 tác nhân chính gây nhiễm trùng bệnh viện. Theo báo cáo khác về tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện ở châu Âu năm 1995, tỷ lệ các vi khuẩn phân lập được lần lượt là: Enterobacteriaceae (34,4%), S. Theo nghiên cứu của Anton Y.
năm 2002, trong số 1,7 triệu người bị nhiễm trùng bệnh viện, gần như 99,000 người tử vong do nhiễm trùng bệnh viện 6 hoặc liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện đưa NTBV đứng hàng thứ 6 trong nguyên nhân gây tử vong ở Hoa Kỳ, dữ liệu tương tự đã được báo cáo ở Châu Âu (Anton Y. Theo bài báo cáo của CDC năm 2011 trên 183 bệnh viện ở Hoa Kỳ, vi khuẩn thường gặp nhất trong nhiễm trùng bệnh viện là S. aureus bao gồm cả MRSA (11%), sau đó lần lượt là: Klebsiella (10%), E. Theo nghiên cứu ở Ả rập của Hanan H.
và cộng sự thì trong số 89 tác nhân phân lập gây bệnh thường gặp nhất là P. Theo nghiên cứu của Khan H. năm 2015 được tiến hành ở nhiều nơi khác nhau trên thế giới chỉ ra rằng ở Bắc Mỹ và Châu Âu có tỷ lệ bệnh nhân nhập viện là 5% - 10% trong khi ở Châu Á, Mỹ Latin và Châu Phi cận Sahara có tới 40% bệnh nhân phải nhập viện do nhiễm trùng bệnh viện (Khan H. Tổng quan về đề kháng kháng sinh 2.
Định nghĩa của kháng sinh và cơ chế tác động của kháng sinh Định nghĩa kháng sinh đầu tiên ra đời: “Kháng sinh (antibiotic) là những chất kháng khuẩn được tạo ra từ các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, antinomycetes), co tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác” (Bộ Y Tế, 2015) [5].