Đặt vấn đề Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, thì nền nông nghiệp nước ta đã và đang có những bước phát triển không ngừng. Bên cạnh ngành trồng trọt thì ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng cũng có một vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế không chỉ hiện nay mà cả sau này. Vì lợn là loài gia súc sinh trưởng và phát triển mạnh, tạp ăn, dễ nuôi, chịu đựng kham khổ tốt có khả năng sử dụng nhiều loại thức ăn thô xanh, củ, quả, các sản phảm cây màu như: lúa, ngô, khoai, sắn sau chế biến. Hơn nữa, thịt lợn có giá trị dinh dưỡng cao, phẩm chất tốt mức độ tiêu hóa cao (đạt 94%).
Thịt lợn chứa nhiều dinh dưỡng như: protein, vitamin, khoáng phù hợp với yêu cầu của con người (Nguyễn khánh Quắc 1998 [6] ). Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào điều kiện sống và các vùng sinh thái khác nhau, chăn nuôi các giống lợn khác nhau. Ở những nơi có điều kiện kinh tế thì phát triển chăn nuôi lợn ngoại và lợn lai. Các giống lợn này có khả năng sinh trưởng nhanh được người chăn nuôi ưa chuộng.
Còn những nơi gặp nhiều khó khăn về kinh tế thì người dân vẫn chăn nuôi giống lợn địa phương là chủ yếu, trong đó có tỉnh Hà Giang. Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một khối lượng phân hữu cơ cho ngành trồng trọt. Để nâng cao năng suất trong chăn nuôi, ngoài việc nuôi dưỡng tốt công tác phòng và trị bệnh đảm bảo thì chất lượng con giống là tiền đề quan trọng. Muốn chăn nuôi có năng suất, hiệu quả lớn thì phải có giống tốt.
Muốn có giống tốt thì phải có đàn nái sinh sản chất lượng cao. Chất lượng đàn nái không những quyết định đến số lượng con giống được sản xuất ra mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất hiệu quả chăn nuôi lợn thịt sau này. e 2 Để đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản của các giống lợn hiện nay đang được nuôi tại các nông hộ của một số xã của huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang, làm cơ sở để khuyến cao người dân nuôi lợn nái lựa chọn con giống phù hợp cụ thể của địa phương chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo sát khả năng sinh sản của lợn nái đen nuôi tại xã Trung Thành huyện Vị Xuyên tỉnh Hà Giang”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái đen tại xã Trung Thành, huyện Vị Xuyên, Tỉnh Hà Giang.
- Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu có liên quan đến khả năng sinh sản của lợn nái đen. - Là cơ sở, căn cứ cho các nghiên cứu tiếp theo ở mức cao hơn. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa khoa học Cung cấp số liệu khoa học cho giảng dạy bộ môn chăn nuôi lợn. Đồng thời đây sẽ là tài liệu quan trọng đóng góp vào cơ sở dữ liệu về khả năng sinh trưởng, sinh sản của các giống lợn nái ở việt nam.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở cho người chăn nuôi biết được một số đặc điểm sinh học để áp dụng vào việc chăn nuôi, nhân giống và sử dụng tốt hơn tiềm năng của giống lợn bản địa trong quá trình phát triển kinh tế xã hội cho các vùng đồi núi trên địa bàn tỉnh Hà Giang. e 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học Qua quá trình phát triển lâu dài, khoa học kỹ thuật đã đạt được những thành tựu to lớn, đặc biệt trong lĩnh vực sinh học. Nó giúp cho cuộc sống con người và cả cho ngành chăn nuôi nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng cũng thu được những kết quả đáng khích lệ, đặc biệt trong công tác giống.
Những ứng dụng nghiên cứu về di truyền học, nhân giống, lai tạo, con người đã tạo ra những sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao, phù hợp với những yêu cầu của mình. Chọn lọc trong chăn nuôi Trong chăn nuôi, chọn lọc là công tác đầu tiên để cải tạo giống là động lực để đạt tới tiến bộ di truyền, chọn lọc để tăng số lượng gen tốt, giảm số lượng gen xấu, để đạt được hiệu quả trong chăn nuôi. Chọn lọc giống lợn là chọn lọc những cá thể đực cái có những đặc điểm tính trạng tốt giữ lại làm giống. Trần Đình Miên và cs (1997) [5].
Khi chọn lọc giống lợn phải căn cứ vào mục tiêu nhân giống đã định trước để chọn trong đàn những con phù hợp với yêu cầu làm giống. Trước khi tiến hành chọn giống phải nắm vững đặc điểm của giống một cách tỷ mỷ trên cơ sở đó chọn ra những tiêu chuẩn thích hợp. Có 2 phương pháp để chọn lọc giống lợn. - Chọn lọc theo tính trạng : + Các tính trạng chọn lọc đó là tính trạng số lượng và tính trạng chất lượng.
Tính trạng số lượng do nhiều gen tác động tạo thành, các chỉ tiêu số lượng gồm: số con đẻ/lứa, số con cai sữa, xuất chuồng, khối lượng con lúc sơ sinh, cai sữa, xuất chuồng tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ đẻ, tỷ lệ lợn con chết… e 4 Tính trạng chất lượng do một vài gen quy định có thể nhận thức đánh giá qua cảm giác biểu hiện bên ngoài kiểu hình, hệ số di truyền tỷ lệ kiểu gen tạo nên giá trị kiểu hình. Khi tiến hành phải xác định mục tiêu chọn lọc các tính trạng sinh sản tính trạng năng xuất và chất lượng, tính trạng về sinh trưởng. Chọn dòng đực, cái phải đảm bảo được tính tạng sinh trưởng, tỷ lệ nạc. Đối với lợn cái ngoài các tính trạng tốt, phải chú ý đến tính trạng sinh sản tuổi động dục, số con đẻ ra tỷ lệ tiết sữa.
+ Các phương pháp chọn lọc theo tính trạng gồm có: Chọn lọc theo một tính trạng là chọn những cá thể đạt được mục tiêu của một tính trạng ta cần chọn ra. Chọn lọc tính trạng là phải chọn lọc lần lượt một tính trạng nào đó trước khi tính trạng đó đạt yêu cầu theo một mục tiêu đề ra rồi chọn những tính trạng tiếp theo. Chọn lọc đồng thời loại thải độc lập là chọn lọc những tính trạng này được nâng cao nhưng lại kéo theo một tính trạng liên quan khác hạ xuống. Chọn lọc theo chỉ số là phương pháp kết hợp chọn lọc đồng thời nhiều tính trạng trong một thời điểm.
- Chọn lọc theo cá thể: + Chọn lọc tổ tiên: Phải căn cứ vào hệ phả, tổ tiên, lý lịch của lợn giống để xác định quan hệ họ hàng thân thuộc giữa các con lợn, vẽ sơ đồ huyết thống để rễ xác định mối quan hệ giữa các con với nhau. + Chọn lọc bản thân: Dựa vào các tiêu chuẩn giám định của một giống về ngoại hình thể chất, sinh trưởng và phát dục, sức sản xuất để đánh giá lợn đực hay lợn cái có đủ tiêu chuẩn làm giống hay không. Trong chọn lọc giống lợn việc đánh giá chính xác bản thân con vật thông qua biểu hiện kiểu hình, tính năng sản xuất như: Khả năng tăng khối lượng; tiêu tốn thức ăn; độ dày mỡ lưng, tỷ lệ nạc… + Chọn lọc đời sau: e 5 Căn cứ vào năng xuất đời sau của mỗi giống lợn để đánh giá chính xác hơn chất lượng con giống. Đối với lợn đực giống căn cứ vào thành tích các con chúng để đánh giá xem các tính trạng tốt của lợn đực giống xem chúng có được truyền cho đời sau hay không.
Đối với lợn nái, cần căn cứ vào tuổi thành thục về tính trạng của lợn nái hậu bị, khả năng sinh sản của lợn nái, khả năng tiết sữa thông qua một đến hai lứa đẻ chúng ta có thể quyết định có nên giữ lại những lợn đó để làm giống hay không. Đặc điểm sinh học của lợn nái Lợn là loài gia súc đa thai, trong điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng hợp lý lợn có thể đẻ 1,8-2,4 lứa/năm và đạt bình quân từ 10-12 con/lứa, lợn nái có số vú nhiều khả năng tiết sữa cao, số lượng vú, khả năng tiết sữa và số con đẻ có liên quan mật thiết với nhau các giống lợn nội thương có từ 10 vú trở lên. Lợn là loài có khả năng thành thục sớm từ 3-4 tháng tuổi đã biểu hiện động dục, dễ chăm sóc có thể ăn nhiều loại thức ăn từ thức ăn thô xanh và thức ăn hạt đến các loại thức ăn từ động vật, hệ số trao đổi cơ bản thấp hơn các loài gia súc khác, có khả năng thích nghi cao, dễ huấn luyện. Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 2.
Sự thành thục về tính và thể vóc Sự thành thục về tính: Tuổi thành thục về tính là tuổi mà con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản. Khi gia súc đã thành thục về tính, bộ máy sinh dục đã phát triển hoàn thiện, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ về sinh dục. Con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối. Khi đó ở con cái các noãn bao chín và rụng trứng (lần đầu), con đực có phản xạ sinh tinh.
Đối với các giống gia súc khác nhau thì thời gian thành e 6 thục về tính khác nhau, ở lợn nội thường từ 4 - 5 tháng tuổi (120 - 150 ngày), ở lợn ngoại (180 - 210 ngày)(Võ Trọng Hốt và cs (2000) [4]). Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân và cs (2001) [8], cho biết lợn Đen thành thục về tính là 213, 1 ngày. Ở lợn cái có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thành thục về tính như giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại, trạng thái sinh lý của từng cá thể,… - Giống: Ở lợn lai tuổi động dục đầu tiên muộn hơn so với lợn nội thuần. Lợn lai F1 bắt đầu động dục lúc 6 tháng tuổi, khi khối lượng cơ thể đạt 50 -55kg.
Lợn ngoại động dục lần đầu muộn hơn so với lợn lai vào lúc 6 - 7 tháng tuổi, khi lợn có khối lượng 65 - 68 kg. Còn đối với lợn nội tuổi thành thục về tính từ 4 - 5 tháng tuổi. Cụ thể lợn Đen nhập vào nuôi ở Việt Nam có tuổi động dục lần đầu là 208 - 209 ngày. - Chế độ dinh dưỡng: Ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục về tính của lợn cái.