ĐẶT VẤN ĐỀ Trong các thập niên gần đây, các nguồn dƣợc liệu từ thực vật và các chế phẩm thực vật, đặc biệt là các nguồn thực vật đƣợc sử dụng trong dân gian ngày càng nhiều, đƣợc các nhà nghiên cứu trong và ngoài nƣớc quan tâm nhiều nhằm tìm kiếm các minh chứng khoa học cho tác dụng dƣợc lý của chúng. Thực vật đƣợc xem nhƣ là một trong những nguồn thay thế lý tƣởng vì mức độ an toàn, không hoặc ít phản ứng phụ và có nhiều đích tác động khác nhau lên tế bào vi khuẩn nên ít có nguy cơ gây ra sự kháng thuốc (Raskin, 2002; Ahn và cs. Đất nƣớc ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới với nền thực vật vô cùng phong phú, nguồn dƣợc liệu cùng với nền y học lâu đời. Theo số liệu thống kê gần đây, hệ thực vật Việt Nam có trên 10000 loài trong đó có khoảng 3200 loài cây thảo dƣợc (Võ Văn Chi, 2012).
Các loại thảo dƣợc điển hình nhƣ thầu dầu (R. oleifera), sài đất (W. đã đƣợc xác định là có hoạt tính kháng khuẩn rất mạnh đối với một số loại vi khuẩn gây bệnh nhƣ Vibrio parahaemolyticus và Vibrio harveyi (Hồng Mộng Huyền và cs. Dừa cạn (Catharanthus roseus (L., ) tên đồng nghĩa là Vinca rosea L.
thuộc họ Trúc đào (Apocynaceae) là một loài cây đƣợc dùng làm thuốc và làm cảnh (Phạm Hoàng Hộ, 2006). Dừa cạn thích nghi tốt với mọi điều kiện khí hậu ở Việt Nam, cây ra hoa quanh năm, lâu tàn và đƣợc lai tạo thành công với nhiều màu sắc dùng để trang trí, tạo cảnh quan đô thị (Bùi Hồng Hải, Nguyễn Thị Y Thanh & Đỗ Minh Hiếu, 2020). Ngoài ra, rễ và lá dừa cạn chứa hơn 55 alkaloid đã đƣợc định danh với các công dụng khác nhau: vincaleuciblastin, leurocristine và leurosidine có tác dụng chống ung thƣ; catharantin giúp lợi tiểu; vincaleuciblastin (vinblastine) là thuốc độc bảng A dùng để trị bệnh Hodgkin, chống Plasmodium falciparum (Phạm Hoàng Hộ, 2006; Đỗ Tất Lợi, 1999). Mặc dù cây dừa cạn đã đƣợc sử dụng từ lâu đời nhƣng những công trình nghiên cứu về cây vẫn còn hạn chế.
Việc đánh giá hoạt tính sinh học của cây dừa cạn là điều hết sức cần thiết, góp phần hoàn thiện các phƣơng thuốc dân gian có tiềm năng đƣợc sử dụng trong điều trị bệnh. Với cơ sở khoa học và ý nghĩa thực tiễn trên, đề tài “Khảo sát khả năng kháng 1 khuẩn và kháng oxy hóa của cao chiết cây dừa cạn (Catharanthus roseus) ” đƣợc tiến hành để xác định hiệu suất trích ly của cao chiết từ cây dừa cạn, định tính một số hợp chất thiên nhiên có trong cao chiết cây dừa cạn cũng nhƣ khảo sát khả năng kháng khuẩn và kháng oxy hóa của cao chiết cây dừa cạn. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Thu nhận đƣợc cao chiết cây dừa cạn dạng bột khô và định tính một số hợp chất thiên nhiên có trong cao chiết cây dừa cạn. Đánh giá đƣợc khả năng kháng oxy hóa và kháng khuẩn của cao chiết cây dừa cạn.
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU Cây dừa cạn (Catharanthus roseus) đƣợc thu hái tại xã Phú Hƣng, huyện Phú Tân, t nh An Giang. Năm dòng vi khuẩn: Escherichia coli, Salmonella enterica, Staphylococcus aureus, Propionibacterium acnes v Vibrio parahaemolyticus đƣợc lƣu trữ tại phòng thí nghiệm Công nghệ sinh học, Khu thí nghiệm Trung tâm, Trƣờng Đại học An Giang. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Khảo sát hiệu suất thu hồi cao chiết từ cây dừa cạn. Định tính một số hợp chất thiên nhiên có trong cao chiết cây dừa cạn.
Khảo sát khả năng kháng oxy hóa của cao chiết cây dừa cạn. Khảo sát khả năng kháng khuẩn của cao chiết cây dừa cạn. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI Về mặt khoa học: Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo về cao chiết cây dừa cạn về một số hợp chất thiên nhiên có trong cao chiết cây dừa cạn cũng nhƣ khả năng kháng khuẩn và kháng oxy hóa của cao chiết cây dừa cạn đối với một số dòng vi khuẩn. Trong nông nghiệp và công nghiệp: Giúp ngƣời dân biết tận dụng và khai thác thêm nguồn dừa cạn và cao chiết từ cây dừa cạn giúp nâng cao giá trị sử dụng của cây và giảm thải rác thải ra môi trƣờng.
Sản xuất cao chiết cây dừa cạn có khả năng kháng khuẩn và kháng oxy hóa và ứng dụng vào một số sản phẩm hỗ trợ sức khỏe con ngƣời và đem lại hiệu quả kinh tế. Về mặt y học: Cung cấp nguồn dƣợc liệu dồi dào cho các nghiên cứu thuốc điều trị bệnh từ cao chiết cây dừa cạn. 2 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. GIỚI THIỆU VỀ CÂY DỪA CẠN 2.1 Phân loại theo khoa học Tên khoa học: Catharanthus roseus (L.
Don; Vinca roseus L.; Lochnera rosea Reich. Tên gọi khác: Trƣờng xuân hoa, dừa tây, bông dừa, hải đằng, phjắc pót đông (Tày), dƣơng giác,. Theo Bennouna và cs. (2008), cây Dừa cạn nằm trong hệ thống phân loại nhƣ sau: Ngành: Ngọc Lan (Magnoliophyta) Lớp: Ngọc Lan (Magnoliopsida) Phân lớp: Hoa Môi (Lamiidae) Bộ: Trúc Đào (Apocynales) Họ: Trúc đào (Apocynaceae) Chi: Catharanthus Loài: Catharanthus roseus (L.
Cây dừa cạn Chi Dừa cạn Madagascar (danh pháp khoa học: Catharanthus) là một chi gồm 8 loài cây thân thảo sống lâu năm, trong số này có 7 loài là đặc hữu của Madagascar. Trong thực tế, các loài trong chi này chia sẻ cùng một tên gọi chung (Dừa cạn) với các loài trong chi Vinca (Dừa cạn Châu Âu). Các loài trong chi: 3 Catharanthus coriaceus: dừa cạn lá cứng (Markgr, 1970). Catharanthus lanceus (Bojer ex A.): dừa cạn lá kiếm (Pichon, 1948).
Catharanthus ovalis: dừa cạn tròn (Markgr, 1970). Don: dừa cạn Ấn Độ (Murray, 1837). Don, 1837: Dừa cạn, trƣờng xuân hoa, hải đằng, bông dừa. ĐẶC ĐIỂM CHUNG 2.1 Đặc điểm của cây dừa cạn Dừa cạn là cây thân thảo, sống nhiều năm, cao 40 ˗ 80 cm, phân nhiều cành thẳng đứng, cây có bộ rễ phát triển, thân gỗ ở phía gốc, mềm ở phần trên, mọc thành bụi đầy, có cành đứng (Đỗ Tất Lợi, 2006).
Lá mọc đối, thuôn dài, đầu hơi nhọn, phía cuống hẹp, nhọn, dài 3 ˗ 8 cm, rộng 1 ˗ 2,5 cm, không có nhựa mủ. Hoa trắng hoặc hồng, mùi thơm, mọc riêng lẻ ở kẽ lá phía trên, đài hợp thành ống ngắn. Tràng hợp hình đinh. Phiến có 5 thùy, 5 nhị đính trên tràng, 2 lá noãn hợp với nhau ở vòi.
Quả gồm 2 quả đại, dài 2,5 ˗ 5 cm, rộng 2 ˗ 3 mm, mọc thẳng đứng hơi ngả sang hai bên, trong có 12 ˗ 20 hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng, trên mặt hạt có những mụn nổi thành hàng dọc. Mùa hoa, quả gần nhƣ quanh năm. Rễ thƣờng ch có một rễ cái và chùm rễ phụ. Rễ cái đâm thẳng xuống đất , có thể đạt chiều dài 35 ˗ 40 cm, rễ phụ mọc thành chùm thƣa, ngắn, phát triển theo chiều ngang (Đỗ Tất Lợi, 2006).2 Phân bố của cây dừa cạn Dừa cạn là một loại cây thảo sống lâu năm, có nguồn gốc từ quần đảo Madagasca của Châu Phi.
Vào khoảng đầu thể kỷ 18, chúng du nhập vào các nƣớc có khí hậu nhiệt đới ở Nam và Đông Nam , trong đó có Việt Nam và đảo Hải Nam của Trung Quốc. Đến giữa thế kỷ 18 cây dừa cạn dần đƣợc trồng nhiều hơn ở các nƣớc Châu Âu để làm cảnh và phục vụ cho mục đích nghiên cứu (Đỗ Tất Lợi, 2006). Ở nƣớc ta, dừa cạn mọc hoang khá nhiều ở vùng bãi cát ven biển từ Hải Phòng đến Kiên Giang. Nơi tập trung nhiều nhất là các t nh Kiên Giang, đảo Phú Quốc và Côn Đảo, có nhiều ở Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên ˗ Huế, 4 Quảng Nam ˗ Đà Nẵng, Bình Định, Phú Yên.
Cây còn mọc cả ở những vùng đồi, thảm cây bụi trên đất pha cát hoặc sỏi đá, độ cao tới 1500 m. Nguồn dừa cạn mọc tự nhiên ở Việt Nam tƣơng đối dồi dào (Đỗ Huy Bích và cs.3 Thành phần hóa học của cây dừa cạn Từ dừa cạn, ngƣời ta đã chiết đƣợc các chất sau đây: Axit pyrocatechic, sắc tố flavonic (glucozit của quercetol và campferol) và anthocyanic từ thân và lá dừa cạn hoa đỏ. Ngoài ra từ lá ngƣời ta còn chiết đƣợc acid ursoloc, từ rễ chiết đƣợc cholin (Đỗ Tất Lợi, 2006). Dừa cạn tạo ra hơn 120 alkaloid, 70 trong số đó có hoạt tính dƣợc lý.
Chiết xuất từ cây dừa cạn có đặc tính chống oxy hóa tốt do sự hiện diện của nhiều loại polyphenol khác nhau đã đƣợc xác định (Barrales-Cureño, 2019). Chất chống oxy hóa đƣợc sản xuất bởi Catharanthus roseus 2.4 Công dụng của cây dừa cạn Từ xa xƣa, Catharanthus roseus (C. roseus) đã đƣợc sử dụng để chữa trị nhiều loại bệnh khác nhau. Loài cây này đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trong y học dân gian.
Ở Madagascar, chiết xuất của cây dừa cạn đã đƣợc sử dụng từ lâu nhƣ một loại thuốc an thần, hạ huyết áp, sát trùng và thuốc điều trị tiểu đƣờng. Ở Ấn Độ, chiết xuất từ lá của dừa cạn đã đƣợc sử dụng để xử lý vết ong đốt. Ở Trung Quốc, dừa cạn đƣợc biết đến nhƣ một loài cây giúp lợi tiểu, trị ho và làm săn se niêm mạc. Ở Trung và Nam Mỹ, dừa cạn đƣợc sử dụng để chữa viêm mắt và đau họng ( Võ Văn Chi, 2000).
Dừa cạn cũng đƣợc dùng phổ biến trong các bài thuốc Đông y để trị cao huyết áp, trị bệnh tiểu đƣờng, tiêu hóa k m, lỵ thông tiểu tiện, bệnh đi tiểu đỏ,. Một số trƣờng hợp còn dùng để trị ung thƣ máu, ung thƣ phổi ( Võ Văn Chi, 2012). 5 Catharanthus roseus đƣợc coi là một nhà máy sản xuất đến 130 terpenoid indole alkaloids (TIAs) khác nhau, trong đó có nhiều chất có hoạt tính dƣợc học quan trọng đƣợc dùng trong điều trị ung thƣ, tiểu đƣờng, cao huyết áp, dị ứng, táo bón và nhiều bệnh đƣờng ruột. Trong đó, vinblastine là hợp chất đã đƣợc FDA (Food and Drug Administration) của Mỹ phê duyệt vào năm 1965 và trở thành một thành phần chính của phƣơng pháp hóa trị liệu trong điều trị nhiều loại ung thƣ nhƣ bạch cầu, bàng quang, tinh hoàn, các u bạch huyết, ung thƣ vú, ung thƣ phổi tế bào nhỏ,…đƣợc bán trên thị trƣờng hơn 40 năm nay.
Ngoài ra, vincristine và vinblastine còn thể hiện hoạt tính kháng khuẩn (Grellier và cs. Các nhà khoa học hiện đại đã tiến hành nghiên cứu và chứng minh đƣợc khả năng điều trị tiểu đƣờng của các alkaloid trong loài cây này (Islam và cs., 2009; Robert và cs. Các alkaloids từ Catharanthus roseus ngăn chặn sự phát triển của tế bào ung thƣ bằng cách liên kết với các tubulin trong quá trình phân bào. Chúng cũng gây nên apoptosis (trình tự hủy diệt của tế bào theo chƣơng trình có sẵn trong gen).