Đặt vấn đề Trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa phát triển, sự tăng trưởng về kinh tế và khoa học kỹ thuật đã góp phần cải thiện đời sống người dân, song song đó vấn đề an toàn sức khỏe khi sử dụng thực phẩm cũng ngày càng được quan tâm. Chính vì Vậy, với xu thế hướng về lối sông thuần tự nhiên, việc sử dụng những sản phẩm tự nhiên, nhất là các sản pham bảo vệ sức khỏe có nguồn gốc từ thảo mộc đang được người tiêu dùng ưu tiên lựa chọn. Nam trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng 4m, Việt Nam là nước nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú, đa dạng các với các loại cây thảo dược có giá trị cao không chỉ tốt cho sức khỏe của con người mà còn mang lại giá trị kinh tế cao. Trong đó Bạc hà và Hương nhu là những loại thảo được được sử dụng phổ biến trong đời sống dựa trên những lợi ích mà chúng mang lại cho sức khỏe.
Bạc hà Á (Mentha arvensis L.) là một vị thuốc rất phô biến ở nước ta, nó được dùng trong ca đông và tây y. Bạc hà vị thuốc thơm, dé uống, làm ra m6 hôi, hạ sốt, dùng chữa cảm sốt, cảm mạo, ngạt mũi, nhức đầu, giúp tiêu hóa tốt, chữa kén ăn, ăn uống không tiêu, đau bụng đi ngoài,.(Đỗ Tat Lợi, 2006) Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.) là cây bụi ưa sang, mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi. Theo y học cô truyền, Hương nhu trắng thường được dùng dé tri cam nang, cảm mạo, hạ sốt, nhức dau, rối loạn tiêu hóa, phù thủng. Trong y học hiện đại, Hương nhu được biết đến với phô kháng khuẩn rộng, kháng được nhiều chủng vi khuan Gram âm va Gram dương.
Từ những giá trị dược lý mà Bạc hà và Hương nhu đem lại đối với sức khỏe, đề tài: “Khảo sát thành phần hoạt chất và hoạt tính chống oxy hóa của hỗn hợp phối vị Bac ha (Mentha arvensis L.) và Hương nhu (Ocimum gratissimum L.)” được thực hiện với mong muốn tạo ra một loại trà có sự kết hợp mới mẻ về hương vị cho người tiêu dùng, chứa các thành phần hoạt chất có lợi cho sức khỏe, tận dụng nguồn cây dược liệu vôn có trong nước. Mục tiêu của đề tài Khảo sát sơ bộ các thành phần hoạt chất có trong Bạc hà và Hương nhu. Tạo sản phẩm trà phối vị giữa Bạc hà và Hương nhu với bước đầu nghiên cứu về tỉ lệ phối vị và thời gian pha trà, đánh giá hoạt tính chong oxy trong trà. Nội dung thực hiện Khảo sát thành phần hóa thực vật của Bạc hà và Hương nhu.
Nghiên cứu tạo hỗn hợp phối vị Bạc hà kết hợp với Hương nhu. Khảo sát hoạt tính chống oxy hóa trong hỗn hợp phối vị. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Giới thiệu về cây Bạc ha (Mentha arvensis L.
Phân loại Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Lamiales Họ: Lamiaceae Chi: Mentha Loài: Mentha arvensis Tén khoa hoc: Mentha arvensis L. Tên khác: Bac ha A, Bạc hà Nhat, Hinh 2. Bac ha A (Mentha arvensis L. Bac ha nam.
Họ Hoa môi (Labiatae hay còn được gọi là Lamiaceae) bao gồm khoảng 210 chi với 3500 loài (Davidson, 1999). Chi Mentha thuộc họ Hoa môi gồm khoảng 25 đến 30 loài chủ yêu được tìm thấy ở các vùng ôn đới của Á-Âu, Úc, Nam Phi và Bắc Mỹ (Brickell và Zuk, 1997). tạo ra các chất chuyên hóa thứ cấp chăng hạn như Alkaloid, Flavanoid, Phenol, Terpenoid và Quinin được sử dụng trong thực phẩm và công nghiệp dược phẩm, mỹ phẩm và thuốc trừ sâu (Khanuja và ctv, 2000). Một số loài của chi này cũng được sử dụng làm thảo được trà và gia vị cả ở dang tươi và khô do chúng mùi thơm đặc trưng (Baser và ctv, 1995).
Nguồn gốc và phân bố Vào thời cô đại, M. arvensis được trồng đầu tiên ở Châu Âu. Cho đến thế kỷ 19, M. arvensis bắt đầu được trồng tại Nhật Ban.
Công dung làm thuốc của M. arvensis lần đầu tiên được ghi nhận ở Trung Quốc và Nhật Bản và sau đó được giới thiệu ở Ấn Độ với tên Pudina. Cây hiện đang được trồng rộng rãi ở Tây và Trung Á, các vùng ôn đới của Châu Âu, phía đông dãy Himalaya, Siberia và Bắc Mỹ (Tiwari, 2016; Dar và ctv, 2021). Tai Việt Nam, cây Bac ha moc hoang va được trong tai nhiéu vung, moc hoang ở cả miên đông bang va miên núi, phát hiện mọc hoang nhiêu ở Sapa (Lao Cai), Tam 3 Đảo (Vĩnh Phúc), Ba Vì (Hà Tây), Bắc Cạn, Sơn La, Thái Nguyên, Sơn La, Lai Châu.
và được trồng ở nhiều tỉnh với quy mô lớn dé khai thác tinh dầu như: Hà Nội, Hưng Yên, Thái Bình, Bình Thuận, Quảng Nam, thành phố Hồ Chí Minh, Long An, Tiền Giang, An Giang,. Đặc điểm thực vật học Theo Đỗ Tắt Lợi (2004), Bạc hà là một loại cỏ sống lâu năm, cao từ 10 đến 60 — 70 em, có thé cao tới 1 m, thân vuông mọc đứng hay hơi bò, có khi phân nhánh, trên thân có nhiều lông. Lá mọc đối, cuống dai từ 2 đến 10 mm, phiến lá hình trứng hay thon dài rộng 2 — 3 cm, dai 3 — 7 cm, mép có răng cưa, mặt trên và mặt dưới đều có lông che chở và lông bài tiết. Hoa mọc vòng ở kẽ lá, cánh hoa hình môi màu tím hay hồng nhạt có khi màu trắng.
Ít khi thấy có quả và hạt. Tỉnh dầu Bạc hà Tinh dầu Bạc hà có thành phần chính là Menthol (77,94%), Isomenthone (5,24%), Neomenthyl axetat (5,18%) và Menthone (5,00%). Tinh dầu bạc hà đã được sảng lọc về hoạt tính diệt nam đối với Rhizoctonia solani và Fusarium moniliforme (Makkar va ctv, 2018). Ngoài ra tinh dầu Bac ha còn có khả năng kháng khuẩn mạnh, đặc biệt trên S.
Công dụng và giá trị kinh tế Theo Đông Y Bạc hà có vị cay, tính mát, thơm, có tác dụng hạ sốt, làm ra mồ hôi, làm dịu họng, lợi tiêu hoá tiêu sưng, chống ngứa. Tinh dầu có tác dụng sát trùng, gây tê tại chỗ, có thể gây ức chế làm ngừng thở và tim ngừng đập hoàn toàn. Nó kích thích sự tiết dịch tiêu hoá, đặc biệt là mật, chống sự co thắt của các cơ quan tiêu hoá và ngực. Theo Chu Thị Thơm và ctv (2006), cây Bạc hà là cây thuốc, cây công nghiệp có giá trị kinh tế và vai trò quan trọng.
Bạc hà diệp là lá Bạc hà tươi đã say khô, dùng uống như chè, sắc làm thuốc, làm thành viên chữa ho và cảm cúm. Tinh dầu Bạc hà là dau cất từ thân, lá Bạc hà khi cây đã có hoa. Bạc hà não là tinh thé kết tinh màu trắng chiết cắt từ tinh dầu ra. Tinh dầu Bạc hà, Bạc hà não, là nguyên liệu chính sản xuất các loại đầu xoa, sát trùng, đầy hơi, mẫn ngứa.
Bạc hà là nguồn cung cấp hương liệu trong kỹ nghệ thực phẩm, làm thơm ngon bánh kẹo, rượu khai vị, thuôc đánh răng, thuôc lá, các loại nước giải khát,. Sau chưng cat Bạc hà còn 18 — 24% protein thô, 8 — 10% đường, 49,55% lipid thô và hàm lượng tương đối một số acid amin không thay thế nên dược dùng làm thức ăn gia súc, sản xuất nau ăn hoặc phân bón. arvensis được trồng rộng rãi nhờ hàm lượng tinh dầu cao và được phân lập cho ứng dụng thương mại thông qua quá trình chưng cất bằng nước (Tiwari, 2016). Giới thiệu về cây Hương nhu trắng (Ocimum gratissimum L.
Phân loại Giới: Plantae Ngành: Magnoliophyta Lớp: Magnoliopsida Bộ: Lamiales Họ: Lamiaceae Chi: Ocimum Loài: Ocimum gratissimum Tén khoa hoc: Ocimum gratissimum L. Tên khác: Hương nhu trang, é lớn lá, é Hình 2. Hương nhu trắng trắng. Nguồn gốc và phân bố Hương nhu trắng được trồng phố biến ở các nước như An Độ, Campuchia, Lào, Thai Lan, Philipin.
Hương nhu trắng mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta, nhiều nhất tại các tinh Quang Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hải Duong, Hưng Yên. Trước đây ở nước ta chỉ trồng một ít dé dùng làm thuốc. Khi cây đang ra hoa thì hái về, hái toàn cây, phơi khô trong mát để dùng làm thuốc. Gần đây nước ta phát triển trồng Hương nhu trắng (trồng và khai thác những cây mọc hoang) dé cất tinh dầu dùng trong nước và xuất khẩu (Đỗ Tắt Lợi ,2004).
Đặc điểm thực vật học Theo Đỗ Tat Lợi (2004), Hương nhu trắng là loài lá mọc đối, có cuống, phiến lá dai 5 — 10 cm, hình trứng nhọn, phía cuốn thon, mép khía tai bèo hay có răng cưa thô. Trên gân chính của lá có lông. Hoa nhỏ mọc thành xim đơn 6 hoa, xếp thành chùm, đôi khi ở phía dưới có phân nhánh. Hạch nhỏ hình cầu.
Hạt không nở và không có chat nhay bao quanh khi cho vào nước. Tỉnh dầu Hương nhu Theo báo cáo của Matasyoh va ctv (2007), tinh dau Hương nhu trắng chủ yếu là nhóm Monoterpen chiếm 92,48%. Phần Monoterpene này được đặc trưng bởi tỷ lệ Eugenol cao (68,8%). Các Monoterpene chính khác là Methyl eugenol (13,21%), cis- Ocimene (7,47%), Trans-ocimene (0,94%), -pinene (1,10%) và long não (0,95%).
Sesquiterpene hiện diện với số lượng khá tốt là Germacrene D (4,25%) và Trans- caryophyllene (1,69%). Sesquiterpene thứ yếu là -farnesene (0,85%) và - bisabolen (0,74%). Hoạt tính kháng khuan của tinh dau được đánh giá chống lại cả vi khuẩn Gram dương (Staphylococcus aureus, Bacillus spp.) và Gram âm (Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosae, Salmonella typhi, Klebisiella pneumoniae, Proteus mirabilis) va nam gây bệnh Candida albicans. Tinh dau có hoạt tính kháng khuẩn và kháng nam rõ rệt trên tất cả các chủng.
Công dụng và giá trị kinh tế Hương nhu trang theo y học cô truyền có tác dụng làm ra mồ hôi, chữa cam mạo, giảm sốt, lợi thấp hành thủy, dùng chữa cảm mạo, nhức đầu, đau bụng, nôn, thủy thủng, phân lỏng, chảy máu cam. Hương nhu trắng thường dùng dé chưng cất tinh dau, tinh chế Eugenol từ tinh dầu Hương nhu trắng dùng trong nha khoa và tổng hợp Vanilin. Tinh dầu Hương nhu được ứng dụng nhiều trong ngành công nghiệp hương liệu, mỹ phẩm và thực phẩm. Ngày nay, sự gia tăng của các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn đa kháng thuốc (MDR) đã trở thành một van đề sức khỏe cộng đồng đáng lo ngại, xảy ra do sử dung kháng sinh bừa bãi, tự ý mua và dùng không đúng liều lượng theo hướng dẫn.
Ngoài ra, cây còn cho thấy lợi ích điều trị tiềm năng trong việc làm chậm quá trình viêm, stress oxy hóa và “thu giữ” các gốc tự do trong các bệnh lý mãn tính, tình trạng lão hóa. Các thành phần hóa thực vật 2. Terpenoid Terpenoid là nhóm hợp chất tự nhiên mà cấu trúc hóa học dựa trên cơ sở các phân tử isopren liên kết lại với nhau, có công thức tổng quát là (CsHs)n với n > 2. Tuy là dẫn xuất của isopren nhưng isopren lại không phải là tiền chất của quá trình sinh tông hợp Terpenoid.