MỞ ĐẦU 1. Dat van đề Viét Nam nam trong vung khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ cao, mua nhiều và độ 4m tương đối cao. Vì vậy nước ta có một hệ thực vật phong phú và đa dang, đặc biệt là các loại cây cho tinh dầu (sả, quit, cam, chanh, lai.) trong số đó hương nhu, một loại cây hay mọc dai lại có một giá tri kinh tê cao. Hương nhu tia (Ocimum sanctumL) thuộc họ hoa môi là một trong các loài hoa có hương thơm, hấp dẫn, được sử dụng nhiều trong công nghệ mỹphâm (nước hoa, dau thom, xà phòng tắm,.) nhờ thành phan các câu tử trong tinh dau, chúng tạo mùi thơm dịu dang và bên lâu, là hương liệu quan trọng của các loại mỹ phẩm cao cấp, và chứa một lượng không nhỏ eugenol và methyleugenol có công dụng hữu hiệu trong được phẩm (chữa bệnh cúm, ho, nhức đâu).
Tinh dầu hương nhu thiên nhiên rat dat vì vậy ngày nay người ta chuyển sang sửdụng sản phẩm tinh dau tổng hợp. Tuy nhiên việc xác định thành phan tinh dau trong công nghệ sản xuất tinh dau tổng hợp chưa được chú trọng. Có nhiều phương pháp ly trích tinh dau, mỗi phương pháp có ưu và nhược điểm khác nhau. Mặc dù vậy, chưa có phương pháp nào đáp ứng được những yêu cầu đặt ra về hiệu quả cũng như chất lượng tinh dầu hương nhu.
Do tỉnh dầu hương nhu được ứng dụng rộng rãi trong công nghệ sản xuất mỹ phẩm và dược phẩm, vì vậy việc xác định tính chất vật lý và hóa học của tinh dầu có ý nghĩa quan trọng. Tinh dâu hương nhu đã được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi từ nhiều thế kỷ trước, trên nhiều quốc gia ở khắp các nơi trên thé giới. Riêng ở nước ta, nghiên cứu tinh dau hương nhu cũng như khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu hầu như chưa được quan tâm đúng mức. Xuất phát từ yêu câu đó, được sự phân công của bộ môn Công Nghệ Sinh Học, dưới sự hướng dẫn của thay TS.Huynh Ngọc Oanh, TS.
Nguyễn Tú Anh và ThS. Nguyễn Kim Minh Tâm, chúng tôi thực hiện dé tài “ Chiết xuất tinh dầu hương nhu (Ocimum sanctum. L) và khảo sát hoạt tính sinh hoc”. Mục tiêu nghiên cứu - _ Tối ưu hóa điều kiện chưng cất tinh dau băng phương pháp chưng cất lôi cuốn hơi nước; - _ Hoạt tính sinh học của tinh dầu hương nhu tía; Nâng cao hiệu suất thu tinh dầu bằng phương pháp vật lý (vi sóng, phá vỡ tế bào băng sóng siêu âm) và phương pháp sinh học (enzyme); Tách eugenol từ tinh dầu hương nhu tía.
Nội dung nghiên cứu Đề thực hiện mục tiêu của dé tài đặt ra nội dung nghiên cứu như sau: Khảo sát điều kiện tối ưu thu tinh dau: kích thước nguyên liệu, tỷ lệ nguyên liệu : nước, thời gian chưng cất; Tối ưu hóa điều kiện thu tinh dau. Khao sát hoạt tính sinh học: kháng vi sinh vật; Khao sát hoạt tính kháng oxy hóa băng cách bắt gốc tự do DPPH và ABTS; Khảo sát tinh gây kích ứng da của tinh dầu hương nhu tía. Tach eugenol: bằng phương pháp hóa học và sac ký cột. CHƯƠNG 2: TÔNG QUAN 2.
Giới thiệu chung về cây hương nhu 2. Mô tả thực vật cây hương nhu - _ Tên khác: E đỏ, É tía, É rừng. - Tén khoa học: Ocimum tenuiflorum L. - _ Tên đồng nghĩa: O.
- Ho: Hoa môi (Lamiaceae). - Tén nước ngoài: Monk’s basil, sacred basil, holy basil, rough basil, tulsi, mosquito plant of South Africa (Anh) ; basilic saint, basilic sacré (Pháp). M6 tả thực vật Cây hương nhu tía là một loại cây nhỏ, sống hàng năm hoặc nhiều năm; có thê cao 1,5 m. Thân và cành thường có mau tia, có lông quặp.
Thân non màu xanh tia hay tia đậm, tiết diện vuông hơi lõm ở bốn cạnh; thân gia màu nâu tia tiết diện gan tron hoặc có bốn ngân lôi lớn [1 3]. Lá có cuống dài, thuôn hình mác hay hình trứng, dài 1 — 5cm, mép có răng cưa, 2 mặt đều có lông. Lá đơn, mọc đối chéo chữ thập. Phiến lá hình bau dục, đáy men xuống một phan cuống, bìa răng cưa hơi nhọn hoặc gần tròn ở hơn 2/3 phía trên, màu xanh tía hoặc tia sam ở mặt trên; gan lá hình lông chim nổi rõ ở mặt đưới, 5-7 cặp gân phụ, màu nhạt hơn phiến lá.
Cuéng lá giéng màu gân lá, hình trụ, mặt trên hơi có rãnh ở giữa, gốc có mau rụng rõ, nhiều lông [1,4]. Lá: Biểu bì trên và biéu bì dưới có mang lông che chở đa bào gồm 2 - 10 tế bào xếp thành day dài. Lông tiết có chân gồm | - 2 tế bào ngăn, đầu thường có 2 — 4 tế bào chứa tinh dầu màu vàng. Ở vùng gân chính có mô dây năm sát biểu bì trên và biểu bì đưới.
Cung libe-gỗ thường chia làm hai, phan trên có nhiều bó libe-gỗ nhỏ xếp thành hàng đối diện với hai cung libe-gỗ to. Cung mô dây dính kèm theo phía dưới của cung libe. Phần phiến lá có một lớp mô giậu ở sát biểu bì trên, kế đến là mô khuyết [1. Hoa màu tím, mọc thành chùm, ít khi phân nhánh.
Lá và hoa vò ra có mùi định hương. Cụm hoa chùm xim bó dài 4-15 cm ở ngọn cành; xim có 3 hoa (xim bó) mọc đối tạo thành vòng gia, khoảng cách giữa hai vòng gia 1-2 cm, các vòng giả tạo thành chùm (| l, 4].Huong nhu tia 2. Đặc điểm phân bố, thu hái và chế biến Hương nhu tía phân bố pho biến ở vùng nhiệt đới, ưa khí hậu nóng âm nhiệt độ trung bình khoảng 25-30 C, lượng mua 1800-2600 mm/năm. Cây ưa sáng, nóng va am, ở các vùng núi cao có khí hậu cận nhiệt đới và hơi lạnh, không sống được.
Mùa hoa tháng 5- tháng 7. Ở Việt Nam, Hương nhu tía thường được trồng làm rau ăn, làm gia vị và làm thuốc.Cây hương nhu tía mọc hoang nhiều ở khắp nơi trong nước ta, nhiều nhất tại các tỉnh Quang Ninh, Hà Giang, Tuyên Quang, Hải Dương, Hưng Yên. Ngoài ra, hương nhu tia còn được trồng nhiều ở Ấn Độ, Campuchia, Lào, Thai Lan, Philippine [3, 4|. Trước đây ở nước ta chỉ trông một it để làm thuốc và làm gia vị trong món ăn ở các tỉnh miền Trung.
Khi cây đang ra hoa thì hái về, hái toàn cây, phơi khô trong mát để dùng làm thuốc và lá hương nhu tươi được giã với muối tạo ra một loại gia vila muối é. Gan đây ta phát triển trồng loài hương nhu tia để cat tinh dầu dùng trong nước và xuất khẩu |3, 4]. Hương nhu tía mọc từ hạt vào khoảng cuối mùa xuân, sinh trưởng nhanh trong mùa hè, đến cuỗi mùa thu hay đầu mùa đông thi tàn lui. Cây ra hoa quả nhiều.
Quả tự chín mở, hạt rơi xuống đất và nảy mam sau 5-6 tháng. Cây trồng dễ dàng bằng hạt, và nêu cứ để nguyên, cây sống lâu thành cây bụi nên trồng một lần có thé thu hoạch nhiều năm [3]. Một số bài thuốc chữa bệnh dân gian từ cây hương nhu tia Theo y học cổ truyền, hương nhu vi cay, tính hơi ôn, có tác dụng làm ra xông cảm cúm, xông hơi giảm căng thăng, thường được dùng chữa cảm mạo, nhức dau, đau bung, nôn, tiêu chảy, ho, chảy máu cam. Chữa cam sốt, nhức dau, dau bung, tay chân lạnh: Hương nhu tia 500g, hậu phác (tâm gừng nướng) 200g, bạch biến đậu (sao) 2000g.
tất cả tán nhỏ, trộn đều, mỗi lần uống 10g có khi đền 20g với nước sôi dé nguội [1,3]. Chita cam, lam ra mô hôi, ha sot: Hương nhu tia, hoặc hương, bạc hà, sả, tia tô, lá bưởi, lá chanh mỗi thứ 10g. Tat cả rua sạch, đun sôi, dùng xông hơi [1,3]. Phòng, chữa cém năng, say nang: Lá hương nhu tia 32g, hạt đậu ván 32g, củ sắn dây 32g, gừng sống 12g.
Các vị phơi khô, tán nhỏ, ray bột mịn. Mỗi lần người lớn dùng 16g, trẻ em 8g, hãm với nước sôi, gan uống [13]. Chita hôi miéng: Hương nhu tia 10g, sắc với 200ml nước, dùng súc miệng và ngậm [3] Tinh dầu hương nhu có tác dụng sát khuẩn, cầm máu và giảm dau rat tốt, hay được sử dụng trong nha khoa và trong việc tổng hop chat vanilin [3]. Tinh dầu hương nhu kết hợp với tinh dầu vỏ bưởi, sả, bạc hà cho tác dụng dưỡng tóc, kích thích tóc mọc, giảm tóc rụng [1].
Chữa toàn thân sưng phù, đái vàng, sẻn, hoặc đái rat, đầy bụng[ 1, 3]. Một số đặc điểm chung của tỉnh dầu Tinh dau (còn gọi là du hay hương du) là những chat có mùi thơm hoặc những chat có mùi hắc khó chịu mà ta có théthu từ các loại thực vật như tinh dau hoa hong, tinh dau hoa lài, tinh dầu long não, tinh dau qué, tinh dầu hương nhu.hay lay từ các loài động vật như tinh dau cà cuống, xạ hương [6]. Tinh dau là một hỗn hợp nhiều chất dễ bay hơi, có mùi đặc trưng tùy thuộc vào nguồn gốc nguyên liệu cung cấp tinh dau. Trong thực vật, tinh dầu được tao ra và tích trữ trong các mô, những mô này thé hiện sự hiện diện ở tat cả mọi nơi trong cơ thé thực vật như rễ, thân, lá, hoa và quả.đưới những tên gọi khác nhau như tế bào, tui, lông và ông.
Tinh dau có độ sôi cao (150 — 250°C) nhưng dễ bay hơi ở nhiệt độ thấp. Tinh dầu thường là những chat nhẹ hơn nước nên khi ta chưng cat hay đồ tinh dầu vào nước thì tinh dau nồi lên trên. Cũng có một số tinh dầu nặng hơn nước như tinh dau đinh hương, tinh dau quế. Khi chưng cất những tinh dau này năm phía dưới đáy bình chưng cat [6].
Tinh dau không tan trong nước hay chi tan rất ít, cho nên khi hòa tan lẫn với nước tinh dau nổi lên trên hay chìm xuống. Tinh dau tan trong một số dung môi hữu cơ như cồn 90°, ether, chloroform, benzene, dầu mỡ,.cho nên ta có thé dùng các dung môi này dé chiét lay tinh dau [6]. Tinh dầu thường không có màu hoặc có màu vàng nhạt, một số tinh dầu có màu rat sam như tinh dau ngải cứu có màu xanh lơ, tinh dầu qué có màu nâu thẫm, tinh dầu thạch xương bô có màu đó thẫm [6]. Dưới anh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng, không khí, nước, tinh dau dé bị oxy hóa và một phân biến thành nhựa.
Tinh dầu hương nhu Hàm lượng tinh dau trong cây đạt 0. Tinh dầu hương nhu tia có 2 phan: phần nhẹ hơn nước và phần nặng hơn nước, vi cay, độ sôi 243 — 244°C [15, 25].