Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ y học với đề tài "Khảo sát hiệu quả dự phòng huyết khối tĩnh mạch sâu trên bệnh nhân nội khoa cao tuổi nằm viện có nguy cơ" do nghiên cứu sinh Diệp Thành Tường thực hiện, dưới sự hướng dẫn khoa học của người hướng dẫn Hồ Thượng Dũng, thuộc chuyên ngành Nội khoa (mã số: 9720107) tại Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2018.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Huyết khối tĩnh mạch sâu (HKTMS) là bệnh lý thường gặp trên lâm sàng với triệu chứng lâm sàng mờ nhạt (khoảng 80% trường hợp không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt) nhưng mang lại những biến chứng nặng nề. Khoảng 50% trường hợp HKTMS ở đoạn gần nếu không được điều trị sẽ tiến triển thành thuyên tắc phổi (TTP), 50% để lại biến chứng lâu dài (hội chứng hậu huyết khối) và 33% tái phát trong vòng 10 năm. Thuyên tắc phổi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở bệnh nhân nằm viện tại Hoa Kỳ, ước tính gây tử vong khoảng 60.000 người mỗi năm.

Tại Việt Nam, các nghiên cứu trước đây ghi nhận tỉ lệ HKTMS mới mắc ở bệnh nhân nhồi máu não nằm viện dao động từ 14% đến 15,3%, và tỉ lệ thuyên tắc phổi ở bệnh nhân nghi ngờ tại Bệnh viện Chợ Rẫy lên đến 35,5%. Bản thân tuổi cao (từ 65 tuổi trở lên) là một yếu tố nguy cơ độc lập gây HKTMS. Mặc dù Trường môn Lồng ngực Hoa Kỳ (ACCP) đã đưa ra khuyến cáo dự phòng bằng thuốc từ năm 2004 và Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam ban hành khuyến cáo vào các năm 2011 và 2016, việc áp dụng dự phòng HKTMS bằng thuốc trên bệnh nhân nội khoa tại Việt Nam vẫn chưa trở thành thường quy. Các bác sĩ lâm sàng còn e ngại nguy cơ biến chứng xuất huyết nặng trên thể trạng người cao tuổi Việt Nam có cân nặng thấp. Trước thời điểm nghiên cứu, tại Việt Nam chưa có công bố nào đánh giá cụ thể về hiệu quả và tính an toàn của việc điều trị dự phòng HKTMS bằng thuốc chống đông trên nhóm bệnh nhân nội khoa cao tuổi nằm viện có nguy cơ.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 2 mục tiêu nghiên cứu chính cùng các mục tiêu cụ thể:

  1. Xác định hiệu quả của điều trị dự phòng HKTMS bằng Enoxaparin:
    • Xác định tỉ lệ HKTMS mới mắc ở nhóm dự phòng và nhóm không dự phòng.
    • Xác định tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và do HKTMS trong thời gian nằm viện ở nhóm dự phòng và nhóm không dự phòng.
  2. Xác định tính an toàn của điều trị dự phòng HKTMS bằng Enoxaparin:
    • Xác định tỉ lệ xuất huyết nặng ở nhóm dự phòng và nhóm không dự phòng.
    • Xác định tỉ lệ giảm tiểu cầu ở nhóm dự phòng và nhóm không dự phòng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân nội khoa từ 65 tuổi trở lên, dự kiến nằm viện ít nhất 6 ngày, nhập viện vì suy tim cấp hoặc suy tim mạn độ III–IV, và/hoặc nhồi máu não cấp, và/hoặc suy hô hấp cấp (không do suy tim hay nhồi máu não), có nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch theo thang điểm PADUA.
  • Phạm vi không gian: Các khoa Tim Mạch, Hô Hấp, Nội Thần Kinh, và Đơn vị Chăm sóc Tăng cường (ICU) tại Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Đa Khoa Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu từ tháng 04/2013 đến tháng 10/2016 và theo dõi bệnh nhân trong suốt thời gian nằm viện.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trong nước và quốc tế

Tác giả đã tổng thuật các công trình nghiên cứu dịch tễ và thử nghiệm lâm sàng liên quan đến HKTMS và can thiệp dự phòng:

  • Nghiên cứu dịch tễ học quốc tế và khu vực: Báo cáo của Strijkers RH (2011) về tỉ lệ mắc HKTMS hàng năm trên thế giới khoảng 1,6/1.000 dân; Ness IA (2007) tại Na Uy ghi nhận tỉ lệ mắc HKTMS là 0,93/1.000 người/năm; Holst JG (2010) tại Đan Mạch với tỉ lệ 2,7/1.000 bệnh nhân/năm. Các nghiên cứu tại bệnh viện của Geerts WH (2004) và Ciuti H (2012) ghi nhận tỉ lệ HKTMS mới mắc ở bệnh nhân nội khoa nằm viện từ 10% đến 20%. Tại Châu Á, các nghiên cứu của Gregory Cheng, Crustal Chan, Ying Ting Liu (2005–2008), Gavin M Joynt (2009), Angral R (2012) và Hong KC (2012) chứng minh tỉ lệ HKTMS tại Châu Á không hề thấp như quan niệm trước đây (dao động từ 6,6% đến 19%).
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Tạ Thị Phước Hòa (2004) khảo sát bệnh nhân nhồi máu não tại Bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận tỉ lệ HKTMS là 1,9%; Đặng Vạn Phước và Nguyễn Văn Trí (2010) nghiên cứu đa trung tâm trên 304 bệnh nhân nội khoa có nguy cơ ghi nhận 22,4% có huyết khối; Nguyễn Trung Hiếu (2010) ghi nhận 14%; Nguyễn Văn Diệu (2015) ghi nhận 15,3%; Lê Thượng Vũ (2010) phát hiện 35,5% bệnh nhân nghi ngờ tại Bệnh viện Chợ Rẫy có thuyên tắc phổi.
  • Các thử nghiệm dự phòng bằng thuốc trên bệnh nhân nội khoa:
    • Samama M và cộng sự (1999) trong nghiên cứu MEDENOX (N = 579) sử dụng Enoxaparin.
    • Fraisse (2000) (N = 169) sử dụng Nadroparin.
    • Lazoriviz (2004) trong nghiên cứu PREVENT (N = 2.991) sử dụng Dalteparin.
    • Lloyd NS (2008) phân tích gộp từ 21 nghiên cứu (N = 5.516).
    • Cohen AT và cộng sự (2008) trong nghiên cứu ARTEMIS trên 554 bệnh nhân nội khoa cao tuổi sử dụng Fondaparinux.
Tác giả (Năm) Thuốc dự phòng Tỉ lệ HKTMS nhóm DP vs Không DP (%) Giá trị p (HKTMS) Tỉ lệ XH nặng nhóm DP vs Không DP (%) Giá trị p (XH) Tỉ lệ tử vong nhóm DP vs Không DP (%) Giá trị p (Tử vong)
Samama M (1999) Enoxaparin 5,5 vs 13,9 0,001 1,7 vs 1,1 > 0,05 4,9 vs 6,2 0,31
Fraisse (2000) Nadroparin 15,5 vs 28,2 0,045 5,6 vs 2,7 0,28 7,4 vs 7,1 0,72
Lazoriviz (2004) Dalteparin 2,8 vs 5,0 0,0015 0,49 vs 0,16 0,15 6,1 vs 6,0 > 0,05
Lloyd NS (2008) Thuốc DP 2,7 vs 5,3 0,00001 1,0 vs 0,5 0,03 6,2 vs 6,8 0,36
Cohen AT (2008) Fondaparinux 5,6 vs 10,5 0,029 0,2 vs 0,2 > 0,05 3,3 vs 6,0 0,06

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các bằng chứng quốc tế cho thấy hiệu quả rõ rệt của thuốc chống đông trong việc giảm biến cố HKTMS mới mắc, tuy nhiên nguy cơ xuất huyết nặng giữa các nghiên cứu vẫn còn những kết quả chưa đồng nhất. Tại Việt Nam, dữ liệu nghiên cứu về điều trị dự phòng bằng thuốc chống đông (đặc biệt là Heparin trọng lượng phân tử thấp - Enoxaparin) trên nhóm bệnh nhân nội khoa cao tuổi nằm viện vẫn chưa được công bố. Luận án giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp bằng chứng lâm sàng trực tiếp trên người bệnh Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các thang điểm đánh giá

  • Tam chứng Virchow (Rudolf Virchow, 1856): Sự hình thành huyết khối tĩnh mạch được giải thích qua ba yếu tố tương tác: tình trạng tăng đông (tiên phát do di truyền hoặc thứ phát do bệnh lý mắc phải), bất thường/tổn thương nội mạc mạch máu và tình trạng ứ trệ tuần hoàn máu.
  • Đặc điểm sinh lý bệnh ở người cao tuổi: Sự suy giảm chức năng vận động, teo nhỏ các sợi cơ thành tĩnh mạch, phì đại bó sợi đàn hồi và gia tăng lắng đọng sợi collagen làm dày, xơ cứng và suy giảm chức năng van tĩnh mạch chi dưới, dẫn đến ứ trệ máu và thiếu oxy nội mô, thúc đẩy tạo huyết khối.
  • Thang điểm Wells: Đánh giá xác suất lâm sàng mắc HKTMS (phân loại nguy cơ thấp, trung bình, cao).
  • Thang điểm PADUA: Dự báo nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch ở bệnh nhân nội khoa. Bệnh nhân có tổng điểm $\ge 4$ được xếp vào nhóm nguy cơ cao và có chỉ định điều trị dự phòng.
  • Thang điểm IMPROVE: Dự báo nguy cơ xuất huyết ở bệnh nhân nội khoa. Tổng điểm $\ge 7$ cảnh báo nguy cơ xuất huyết nặng hoặc xuất huyết không nặng nhưng quan trọng trên lâm sàng (chống chỉ định dùng thuốc chống đông dự phòng, chuyển sang biện pháp cơ học).
  • Thang điểm 4T: Đánh giá nguy cơ giảm tiểu cầu do Heparin (HIT - Heparin-Induced Thrombocytopenia) dựa trên 4 tiêu chí: mức độ giảm tiểu cầu, thời điểm giảm tiểu cầu, biến chứng huyết khối mới/hoại tử và các nguyên nhân khác gây giảm tiểu cầu (0–3 điểm: nguy cơ thấp; 4–5 điểm: nguy cơ trung bình; 6–8 điểm: nguy cơ cao).

Phương pháp nghiên cứu

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu so sánh hai nhóm (nhóm can thiệp dự phòng bằng Enoxaparin và nhóm không dự phòng).
  • Cách thức chọn mẫu và cỡ mẫu:
    • Cỡ mẫu được tính toán dựa trên công thức so sánh 2 tỉ lệ độc lập, với giả định tỉ lệ HKTMS mới mắc ở nhóm không dự phòng là $p_1 = 14,9%$ và nhóm dự phòng là $p_2 = 5,5%$ (theo kết quả thử nghiệm MEDENOX của Samama M, 1999). Cỡ mẫu tối thiểu được tính là 298 bệnh nhân.
    • Chọn mẫu thuận tiện tất cả bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh trong các giai đoạn nghiên cứu.
  • Tiêu chuẩn chọn bệnh:
    • Bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên, dự kiến nằm viện ít nhất 6 ngày.
    • Có ít nhất một trong các bệnh lý nội khoa cấp tính: Suy tim cấp hoặc suy tim mạn NYHA III–IV (theo ESC 2012); Nhồi máu não cấp (xác định bằng lâm sàng và CT Scan sọ não); Suy hô hấp cấp (theo tiêu chuẩn khí máu động mạch: $\text{PaCO}_2 > 45\text{--}55\text{ mmHg}$, $\text{pH} < 7,35$ hoặc $\text{PaO}_2 < 60\text{ mmHg}$, $\text{SaO}_2 < 90%$).
    • Có nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch theo thang điểm PADUA ($\ge 4$ điểm).
  • Tiêu chuẩn loại trừ: Độ lọc cầu thận (GFR) $< 30\text{ ml/phút}/1,73\text{m}^2$; suy gan nặng; xuất huyết não; tình trạng xuất huyết đang tiến triển; tiền sử xuất huyết giảm tiểu cầu hoặc dị ứng Heparin; rối loạn đông máu; chọc dò tủy sống; đang sử dụng thuốc chống huyết khối (như Aspirin, Clopidogrel); giảm tiểu cầu; tăng huyết áp nặng chưa kiểm soát; vừa phẫu thuật sọ não, tủy sống hoặc xuất huyết nội nhãn; bệnh nhân hoặc người nhà không đồng ý tham gia.

Quy trình kỹ thuật và thu thập số liệu

  • Giai đoạn thu thập số liệu: Tiến hành qua 2 giai đoạn kế tiếp:
    • Nhóm không dự phòng: Thu thập tại Bệnh viện Đa Khoa Sài Gòn (04/2013 – 06/2014) và Bệnh viện Thống Nhất (05/2016 – 07/2016).
    • Nhóm dự phòng bằng Enoxaparin: Thu thập tại Bệnh viện Đa Khoa Sài Gòn (07/2014 – 08/2015) và Bệnh viện Thống Nhất (08/2016 – 10/2016).
  • Phác đồ dùng thuốc dự phòng: Tiêm dưới da Enoxaparin liều 40 mg $\times$ 1 lần/ngày; đối với bệnh nhân suy thận mức độ trung bình ($\text{GFR} = 30\text{--}50\text{ ml/phút}/1,73\text{m}^2$), sử dụng liều hiệu chỉnh 30 mg $\times$ 1 lần/ngày.
  • Quy trình tầm soát và chẩn đoán HKTMS:
    • Siêu âm lần 0 (ngày thứ 1–2 nhập viện): Thực hiện siêu âm Doppler hệ tĩnh mạch sâu chi dưới bằng máy SIEMENS (Acuson X 500) nhằm phát hiện và loại trừ các trường hợp HKTMS hiện mắc trước đó.
    • Siêu âm lần 1 (ngày thứ 6–14 nằm viện): Khảo sát hệ tĩnh mạch sâu chi dưới để phát hiện các trường hợp HKTMS mới mắc.
    • Xét nghiệm D-dimer: Những bệnh nhân có kết quả siêu âm lần 1 âm tính được lấy máu làm xét nghiệm D-dimer (ngưỡng âm tính $< 500\ \mu\text{g/L}$ hoặc ngưỡng hiệu chỉnh theo tuổi: $\text{tuổi} \times 10\ \mu\text{g/L}$ ở người trên 50 tuổi).
    • Siêu âm lần 2: Thực hiện sau 2 ngày đối với các trường hợp siêu âm lần 1 âm tính nhưng có xét nghiệm D-dimer dương tính.
    • Quy chuẩn siêu âm: Áp dụng quy trình 5 bước và 5 nguyên tắc khảo sát; mỗi ca siêu âm được thực hiện độc lập bởi 2 bác sĩ chuyên khoa, ghi hình và gửi hội chẩn trung tâm độc lập khi có sự bất đồng ý kiến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan

Chương 1 trình bày tổng quan hệ thống về tình hình HKTMS trên thế giới, khu vực Châu Á và Việt Nam. Nội dung nêu chi tiết giải phẫu học của hệ thống tĩnh mạch sâu chi dưới (tĩnh mạch cẳng chân, tĩnh mạch khoeo, tĩnh mạch đùi, tĩnh mạch chậu), sinh lý dòng chảy tĩnh mạch (bơm tim, bơm hô hấp, bơm cơ, hoạt động của van tĩnh mạch) và cơ chế bệnh sinh theo tam chứng Virchow.

Chương này cũng phân tích sâu các biến đổi thoái hóa của hệ thống van và thành mạch ở người cao tuổi. Đồng thời, tác giả tổng thuật các phương pháp chẩn đoán HKTMS gồm thang điểm Wells, xét nghiệm D-dimer và kỹ thuật siêu âm Doppler mạch máu. Các khuyến cáo dự phòng quốc tế (ACCP, Hàn Quốc) và khuyến cáo của Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam (năm 2011, 2016) được hệ thống hóa cùng với dược lý học của các thuốc chống đông: Heparin không phân đoạn (LDUH), Heparin trọng lượng phân tử thấp (LMWH - Enoxaparin), Fondaparinux, kháng vitamin K (Warfarin) và các thuốc chống đông đường uống mới (DOACs/NOACs). Các hướng dẫn xử trí biến chứng chảy máu (sử dụng Protamine sulfate) và biến chứng giảm tiểu cầu (thang điểm 4T) cũng được làm rõ.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu thực hiện trên bệnh nhân nội khoa cao tuổi tại Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Đa Khoa Sài Gòn. Tác giả trình bày cụ thể công thức tính cỡ mẫu, tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân, cũng như định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán đối với các bệnh lý nội khoa cấp tính phối hợp (suy tim theo tiêu chuẩn ESC 2012 và phân độ NYHA; nhồi máu não xác định qua CT Scan; suy hô hấp cấp dựa vào phân tích khí máu động mạch; tăng huyết áp theo JNC 8; đái tháo đường theo ADA; suy thận mạn theo KDIGO 2012; tình trạng dinh dưỡng theo phân loại BMI khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của WHO).

Quy trình nghiên cứu 2 giai đoạn, các biến số nhân trắc học, các yếu tố nguy cơ theo thang điểm PADUA và IMPROVE, cùng quy trình kiểm định chẩn đoán hình ảnh siêu âm độc lập được xây dựng chặt chẽ.

Tiến trình thực hiện nghiên cứu:
[Bệnh nhân nội khoa cao tuổi nhập viện có nguy cơ (PADUA >= 4)]
            [Siêu âm Doppler lần 0 (Ngày 1-2)]
    [Có HKTMS]                       [Không có HKTMS]
                              [Giai đoạn 1:                  [Giai đoạn 2:
                              Không dự phòng]                 Dự phòng bằng Enoxaparin]
                                          [Siêu âm Doppler lần 1 (Ngày 6-14)]
                                   [Có HKTMS mới]               [Không có HKTMS]
                                                                [Xét nghiệm D-dimer]
                                                  [D-dimer âm tính]              [D-dimer dương tính]
                                                                           [Siêu âm Doppler lần 2 (+2 ngày)]

Chương 3: Kết quả

Chương 3 trình bày các kết quả nghiên cứu thu thập được theo hệ thống các bảng số liệu:

  • Đặc điểm dân số nghiên cứu: So sánh các đặc điểm dịch tễ, biến số định tính, định lượng, phân bố các nhóm bệnh nội khoa cấp tính (suy tim cấp/mạn, nhồi máu não cấp, suy hô hấp cấp) giữa nhóm dự phòng và nhóm không dự phòng. Đánh giá tính tương đồng về điểm số nguy cơ HKTMS (thang điểm PADUA) và điểm số nguy cơ xuất huyết (thang điểm IMPROVE) giữa 2 nhóm nghiên cứu.
  • Hiệu quả dự phòng HKTMS: Ghi nhận tỉ lệ HKTMS mới mắc ở nhóm dự phòng bằng Enoxaparin thấp hơn so với nhóm không dự phòng (8 trường hợp HKTMS ở nhóm dự phòng so với 17 trường hợp ở nhóm không dự phòng). Thống kê chi tiết đặc điểm hình ảnh siêu âm Doppler, kết quả xét nghiệm D-dimer sau siêu âm lần 1, kết quả 2 lần siêu âm và vị trí định khu của huyết khối tĩnh mạch sâu mới mắc ở hai nhóm.
  • Tỉ lệ tử vong: Đánh giá tỉ lệ tử vong do mọi nguyên nhân và tỉ lệ tử vong có liên quan đến HKTMS trong thời gian nằm viện giữa nhóm dự phòng và không dự phòng, phân tích nguyên nhân tử vong cụ thể ở từng nhóm bệnh nhân.
  • Tính an toàn của Enoxaparin: Xác định tỉ lệ xuất huyết (bao gồm xuất huyết nặng và xuất huyết không nặng), phân tích đặc điểm lâm sàng của các vị trí xuất huyết. Đánh giá tỉ lệ giảm tiểu cầu giữa 2 nhóm, ghi nhận và phân tích 3 trường hợp giảm tiểu cầu ở nhóm dự phòng thông qua thang điểm 4T.

Chương 4: Bàn luận

Chương 4 tập trung phân tích, so sánh các phát hiện của luận án với các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế:

  • Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Phân tích độ tuổi trung bình, tỉ lệ giới tính và tỉ lệ các nhóm bệnh nội khoa cấp tính khi đối chiếu với các nghiên cứu tại Việt Nam và các nghiên cứu tại phương Tây.
  • Bàn luận về hiệu quả giảm tỉ lệ HKTMS mới mắc: So sánh hiệu quả của Enoxaparin trong luận án với kết quả từ các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên lớn như MEDENOX (Samama M), PREVENT (Lazoriviz), nghiên cứu của Fraisse và nghiên cứu ARTEMIS (Cohen AT).
  • Bàn luận về tỉ lệ tử vong: Đối chiếu tỉ lệ tử vong chung và tử vong do thuyên tắc mạch với các nghiên cứu dự phòng trên thế giới.
  • Bàn luận về tính an toàn: Phân tích tỉ lệ xuất huyết nặng và xuất huyết không nặng, so sánh sự khác biệt với phân tích gộp của Lloyd NS và các nghiên cứu đơn lẻ khác. Thảo luận chi tiết về nguy cơ giảm tiểu cầu do Heparin (HIT) trên đối tượng bệnh nhân cao tuổi Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn

  1. Bằng chứng thực nghiệm đầu tiên tại Việt Nam: Luận án là công trình nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện cả hiệu quả giảm biến cố HKTMS mới mắc và tính an toàn của phác đồ dự phòng bằng Enoxaparin trên quần thể bệnh nhân nội khoa cao tuổi nằm viện có nguy cơ theo thang điểm PADUA.
  2. Xác nhận tính an toàn trên thể trạng người Việt Nam: Kết quả nghiên cứu chứng minh việc sử dụng Enoxaparin liều dự phòng chuẩn (40 mg/ngày) hoặc liều hiệu chỉnh theo chức năng thận (30 mg/ngày cho bệnh nhân có GFR từ 30 đến $50\text{ ml/phút}/1,73\text{m}^2$) không làm gia tăng có ý nghĩa thống kê các biến chứng xuất huyết nặng và biến chứng giảm tiểu cầu nghiêm trọng (HIT) trên bệnh nhân nội khoa cao tuổi.
  3. Chuẩn hóa quy trình tầm soát lâm sàng: Nghiên cứu đã vận dụng và khẳng định tính khả thi của quy trình phối hợp phân tầng nguy cơ (thang điểm PADUA, IMPROVE), theo dõi lâm sàng kết hợp siêu âm Doppler mạch máu chi dưới tại giường và xét nghiệm D-dimer.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Khuyến nghị các cơ sở y tế triển khai đánh giá thường quy nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bằng thang điểm PADUA và nguy cơ xuất huyết bằng thang điểm IMPROVE cho toàn bộ bệnh nhân nội khoa cao tuổi ngay khi nhập viện.
  • Áp dụng rộng rãi phác đồ dự phòng HKTMS bằng Enoxaparin cho các bệnh nhân nội khoa cao tuổi có nguy cơ cao ($\text{PADUA} \ge 4$) và không có chống chỉ định hoặc nguy cơ xuất huyết cao ($\text{IMPROVE} < 7$).
  • Theo dõi chặt chẽ số lượng tiểu cầu trong quá trình dùng thuốc và áp dụng thang điểm 4T để kịp thời phát hiện nguy cơ HIT.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Do việc áp dụng dự phòng bằng thuốc chống đông tại các bệnh viện nghiên cứu có sự chuyển tiếp chính sách điều trị, nghiên cứu phải thu thập số liệu theo 2 giai đoạn kế tiếp nhau ở hai bệnh viện (Bệnh viện Đa Khoa Sài Gòn và Bệnh viện Thống Nhất) thay vì phân nhóm ngẫu nhiên đồng thời.
  • Thời gian theo dõi bệnh nhân chỉ giới hạn trong giai đoạn nằm viện cấp tính (từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 14 và cho đến khi xuất viện), chưa đánh giá được các biến cố lâu dài như tỉ lệ tái phát HKTMS hoặc hội chứng hậu huyết khối sau 30 ngày, 90 ngày hoặc nhiều năm.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Thực hiện các nghiên cứu đoàn hệ đa trung tâm với quy mô mẫu lớn hơn và theo dõi dọc sau xuất viện (từ 30 ngày đến 6 tháng).
  • Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả và tính an toàn của các nhóm thuốc kháng đông đường uống thế hệ mới (DOACs/NOACs) trong dự phòng HKTMS ở bệnh nhân nội khoa cao tuổi.

Giá trị tham khảo

  • Đối với bác sĩ lâm sàng (Nội khoa, Lão khoa, Tim mạch, Hồi sức cấp cứu): Tài liệu cung cấp cơ sở thực hành trong việc đánh giá nguy cơ HKTMS (PADUA), sàng lọc nguy cơ chảy máu (IMPROVE), lựa chọn liều lượng Enoxaparin phù hợp theo mức lọc cầu thận và quy trình xử trí khi có biến chứng chảy máu hoặc giảm tiểu cầu.
  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên sau đại học: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu đoàn hệ lâm sàng tiến cứu, kỹ thuật tính toán cỡ mẫu y học, quy trình chuẩn hóa siêu âm Doppler 5 bước – 5 nguyên tắc và phương pháp phối hợp cận lâm sàng chẩn đoán mạch máu.
  • Đối với các nhà quản lý y tế và xây dựng chính sách: Cung cấp dữ liệu thực tế tại bệnh viện Việt Nam hỗ trợ xây dựng quy trình kiểm soát và phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch tại các cơ sở điều trị nội trú.

Câu hỏi thường gặp

1. Thang điểm nào được sử dụng để phân tầng nguy cơ HKTMS và nguy cơ xuất huyết trong luận án?

Luận án sử dụng thang điểm PADUA để dự báo nguy cơ thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (bệnh nhân có tổng điểm $\ge 4$ được xếp vào nhóm nguy cơ cao cần điều trị dự phòng) và thang điểm IMPROVE để dự báo nguy cơ xuất huyết (tổng điểm $\ge 7$ cảnh báo nguy cơ xuất huyết nặng/quan trọng trên lâm sàng, cần tránh dùng thuốc chống đông và ưu tiên biện pháp cơ học).

2. Liều lượng Enoxaparin được chỉ định dự phòng trong nghiên cứu như thế nào?

Theo khuyến cáo của Hội Tim mạch Quốc gia Việt Nam được áp dụng trong nghiên cứu:

  • Bệnh nhân có chức năng thận bình thường hoặc suy thận nhẹ: Tiêm dưới da Enoxaparin 40 mg $\times$ 1 lần/ngày.
  • Bệnh nhân có suy thận mức độ trung bình ($\text{GFR} = 30\text{--}50\text{ ml/phút}/1,73\text{m}^2$): Tiêm dưới da Enoxaparin 30 mg $\times$ 1 lần/ngày.
  • Bệnh nhân suy thận nặng ($\text{GFR} < 30\text{ ml/phút}/1,73\text{m}^2$) thuộc nhóm chống chỉ định dùng thuốc.

3. Quy trình siêu âm Doppler tĩnh mạch chi dưới trong luận án được tiến hành theo các bước nào?

Quy trình siêu âm Doppler chi dưới gồm 5 bước:

  • Bước 1: Khảo sát tại vùng bẹn.
  • Bước 2: Khảo sát mặt trong vùng đùi, gối.
  • Bước 3: Khảo sát hố khoeo.
  • Bước 4: Khảo sát vùng bắp chân (4 mặt cắt: trước, sau, trong, ngoài).
  • Bước 5: Khảo sát phía trên vùng bẹn (tĩnh mạch chậu – tĩnh mạch chủ dưới) khi cần thiết (ví dụ khi phát hiện huyết khối ở tĩnh mạch đùi).

4. Vai trò của xét nghiệm D-dimer trong quy trình chẩn đoán của nghiên cứu là gì?

Xét nghiệm D-dimer được sử dụng sau khi siêu âm lần 1 cho kết quả âm tính nhằm mục đích loại trừ HKTMS với giá trị tiên đoán âm cao. Điểm cắt quy ước là $500\ \mu\text{g/L}$ hoặc ngưỡng hiệu chỉnh theo tuổi ($\text{tuổi} \times 10\ \mu\text{g/L}$ ở người trên 50 tuổi). Nếu D-dimer dương tính, bệnh nhân được chỉ định siêu âm Doppler lần 2 sau đó 2 ngày để đảm bảo không bỏ sót huyết khối mới hình thành.

5. Biến chứng giảm tiểu cầu do Heparin (HIT) được theo dõi và đánh giá bằng công cụ nào?

Biến chứng HIT được theo dõi bằng xét nghiệm số lượng tiểu cầu định kỳ mỗi 2–3 ngày (từ ngày thứ 4 đến khi ngừng thuốc) và được đánh giá nguy cơ thông qua thang điểm 4T (đánh giá 4 yếu tố: mức độ giảm tiểu cầu, thời điểm giảm, sự xuất hiện huyết khối mới và các nguyên nhân khác). Trường hợp có nguy cơ HIT trung bình hoặc cao, hướng xử trí là ngừng ngay Enoxaparin và chuyển sang các thuốc chống đông thay thế (như Fondaparinux hoặc nhóm ức chế trực tiếp Thrombin).


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Diệp Thành Tường đã thực hiện thành công nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu so sánh hiệu quả và tính an toàn của điều trị dự phòng HKTMS bằng Enoxaparin trên bệnh nhân nội khoa cao tuổi nằm viện có nguy cơ tại TP. Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu xác nhận can thiệp dự phòng bằng Enoxaparin giúp giảm tỉ lệ mắc mới HKTMS mà không làm gia tăng biến chứng xuất huyết nặng hay giảm tiểu cầu nghiêm trọng trên bệnh nhân cao tuổi Việt Nam. Công trình cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng, hỗ trợ các bác sĩ lâm sàng tự tin áp dụng phác đồ dự phòng thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch bằng thuốc chống đông trong chăm sóc và điều trị bệnh nhân nội trú.