Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Khảo sát hành vi rào đón trong giao tiếp tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Vũ Thị Nga thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2010, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Đức Tồn. Công trình thuộc chuyên ngành Lí luận ngôn ngữ (mã số 62.01). Về mặt tiếp cận học thuật, luận án thuộc khuynh hướng nghiên cứu ngôn ngữ học miêu tả và ngữ dụng học (pragmatics), kết hợp phân tích định tính diễn ngôn với thống kê phân loại ngữ liệu trong giao tiếp tiếng Việt.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Hội thoại bản chất là sự tương tác liên nhân, trong đó các nhân vật hội thoại tác động qua lại lẫn nhau và tạo ra những biến đổi về hành vi, trạng thái tâm lý, tình cảm. Khi tham gia hội thoại, bên cạnh việc truyền đạt một nội dung thông tin, người nói còn phải cân nhắc lựa chọn hành vi ngôn ngữ và cách thức thực hiện. Để đạt hiệu quả giao tiếp, người nói thường sử dụng các yếu tố phụ trợ đi kèm nhằm tăng hoặc giảm hiệu lực ở lời của phát ngôn; một trong những phương tiện phụ trợ phổ biến là lời rào đón (hedges).
Trong giao tiếp hằng ngày của người Việt, yếu tố rào đón xuất hiện với tần số tương đối cao, đặc biệt khi thực hiện các hành vi có nguy cơ đe dọa thể diện của đối tác giao tiếp. Lời rào đón được sử dụng nhằm ngăn ngừa trước sự hiểu lầm hoặc những phản ứng không hay đối với phát ngôn của chủ ngôn, giúp cuộc thoại diễn ra uyển chuyển, liên tục, góp phần duy trì và nâng cao hiệu quả giao tiếp. Hiện tượng này mang đậm dấu ấn tâm lý và bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt.
Mặc dù rào đón đã được nghiên cứu trong ngữ dụng học ở nước ngoài, nhưng tại Việt Nam, vấn đề này trước đây chỉ được đề cập tản mạn trong một số bài viết hoặc công trình nghiên cứu riêng lẻ mang tính chất "nhân tiện", chưa có công trình nào mang tính chuyên khảo nghiên cứu toàn diện, có hệ thống và sâu sắc. Do đó, luận án được triển khai để giải quyết khoảng trống học thuật này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của luận án là nghiên cứu hành vi rào đón nói chung trong tiếng Việt, từ đó khái quát hóa kết quả thành các luận điểm lý thuyết, đóng góp vào sự phát triển của chuyên ngành ngữ dụng học nói chung và lý thuyết lịch sự nói riêng.
Để hiện thực hóa mục đích trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nhận diện, khảo sát và phân loại hành vi rào đón trong giao tiếp tiếng Việt.
- Phân tích hiệu quả giao tiếp của các hành vi rào đón.
- Lí giải cơ sở hình thành và giải mã thông điệp của hành vi rào đón.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hành vi rào đón trong giao tiếp của người Việt.
- Phạm vi nghiên cứu: Các văn bản có xuất hiện lời rào đón thuộc nhiều phong cách chức năng khác nhau (văn học nghệ thuật, khoa học, hành chính), kết hợp cùng các ngữ liệu thu thập trong các tình huống giao tiếp đời thường và trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước đây được luận án điểm lại
Luận án hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu hành vi rào đón qua hai bình diện chính trong ngôn ngữ học:
-
Trong ngữ pháp học truyền thống: Các yếu tố có chức năng rào đón thường bị gộp chung vào thành phần tình thái của phát ngôn (thành phần biểu thị thái độ, đánh giá của người nói đối với nội dung thông báo, hoàn cảnh phát ngôn hoặc hiện thực).
- Hoàng Tuệ xem các từ ngữ như có lẽ, hình như, chắc chắn, theo tôi là phương tiện từ vựng biểu thị thành phần tình thái nằm ngoài cấu trúc của vị ngữ.
- Cao Xuân Hạo nhận định tình thái của câu có thể được biểu thị bằng khởi ngữ (ngữ đoạn mở đầu câu) như có lẽ, tất nhiên.
- Nguyễn Quang phân xuất các dấu hiệu tình thái gồm: uyển thanh (có lẽ, có thể, có khả năng...), hạ ngôn (một chút, một tí, một lát...), chủ quan hoá, cam kết (chắc là, chắc chắn...), thỉnh đồng (chứ nhỉ, đấy, phải không nào...), nhã hiệu (dạ, thưa, ạ...), tăng cường (vô cùng, thực sự, thật là...).
- Đỗ Hữu Châu nhận xét việc gộp chung các yếu tố rào đón vào phạm trù tình thái đã làm mờ ranh giới và chức năng mang màu sắc văn hóa dân tộc riêng của chúng.
-
Dưới ánh sáng của Ngữ dụng học:
- Nguyễn Thiện Giáp trong Dụng học Việt ngữ dành một mục bàn về "Những lời rào đón trong giao tiếp", chỉ ra rằng lời rào đón là bằng chứng cho phép người nói vi phạm nguyên tắc cộng tác và là tín hiệu để người nghe giới hạn cách giải thích. Tác giả dẫn chứng các biểu thức rào đón theo phương châm về chất (Nếu tôi không nhầm thì, tôi nhớ không rõ nhưng, theo như tôi biết, tôi không dám chắc, nghe đồn, hình như, có lẽ...), phương châm về lượng (Tôi không được phép tiết lộ, thiên cơ bất khả lộ, như anh đã biết, tôi không muốn làm phiền anh với những chi tiết vụn vặt...), phương châm quan yếu (Tôi không biết điều này có quan trọng không, tôi muốn nói thêm là...), phương châm cách thức (Tôi xin mở ngoặc đơn là...), và rào đón vì phép lịch sự (Nói khí vô phép, nói chị bỏ ngoài tai, tôi hỏi thật...).
- Diệp Quang Ban trong Ngữ pháp tiếng Việt và bài viết năm 2000 phân tích các biểu thức tình thái chỉ độ tin cậy (chẳng lẽ, hình như, chắc là) và tình thái chỉ ý kiến (nói trộm bóng, nói của đáng tội, theo chỗ tôi biết) dưới tư cách yếu tố rào đón; đồng thời định vị các quán ngữ "lang thang" (anh còn lạ gì, nói khí vô phép) vào hệ thống rào đón gắn với 4 phương châm hội thoại của Grice.
- Đỗ Hữu Châu (2001) xếp yếu tố rào đón vào chiến lược lịch sự âm tính nhằm né tránh hoặc bù đắp, giảm nhẹ hiệu lực của hành vi đe dọa thể diện (FTA).
- Nguyễn Quang (2004) phân loại rào đón theo lực ngôn trung (tiểu từ, trạng ngữ - mệnh đề) và theo 4 tiêu chí của Grice: Chất (Chân), Lượng (Túc), Hệ (Trực), Thức (Minh).
- Các công trình chuyên biệt về từng hành vi ngôn ngữ: Nguyễn Thị Hoàng Yến (hành vi chê), Chử Thị Bích (hành vi cho, tặng), Đào Nguyên Phúc (hành vi xin phép), Trần Chi Mai (hành vi từ chối bằng phát ngôn lảng tránh), Nguyễn Quang Ngoạn (chiến lược phản bác), Dương Tuyết Hạnh (2007, hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ), cùng công trình bước đầu của chính tác giả Vũ Thị Nga (2002, luận văn thạc sĩ Rào đón trong hội thoại Việt ngữ).
| Tác giả / Công trình |
Góc độ tiếp cận |
Đóng góp và nội dung nhận diện |
| Hoàng Tuệ; Cao Xuân Hạo |
Ngữ pháp học |
Xếp các yếu tố rào đón vào thành phần tình thái, phó từ ngoài vị ngữ hoặc khởi ngữ (có lẽ, hình như, tất nhiên). |
| Nguyễn Quang (1998, 2004) |
Ngữ dụng học, Lịch sự |
Nhận diện dấu hiệu tình thái (uyển thanh, hạ ngôn...); phân loại rào đón theo lực ngôn trung và 4 phương châm Grice. |
| Nguyễn Thiện Giáp (2000) |
Dụng học Việt ngữ |
Luận giải lời rào đón như tín hiệu định hướng giải thích khi vi phạm nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự. |
| Diệp Quang Ban (1998, 2000) |
Ngữ pháp - Dụng học |
Xác lập các yếu tố "lang thang", quán ngữ tình thái chỉ độ tin cậy/ý kiến là lời rào đón gắn với phương châm Grice. |
| Đỗ Hữu Châu (2001) |
Ngữ dụng học |
Định vị rào đón thuộc chiến lược lịch sự âm tính; phê phán việc ngữ pháp học hòa tan rào đón vào tình thái. |
| Dương Tuyết Hạnh; Đào Nguyên Phúc... |
Hành vi ngôn ngữ cụ thể |
Khảo sát vai trò của biểu thức rào đón trong các hành vi: nhờ, xin phép, từ chối, phản bác, chê, tặng. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Điểm chung của các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam là chỉ bàn đến rào đón một cách cục bộ, phụ trợ trong khi tìm hiểu các vấn đề ngôn ngữ khác. Luận án của Vũ Thị Nga là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên khảo, trực diện và có hệ thống về hành vi rào đón trong tiếng Việt, khảo sát toàn diện từ cơ sở lý luận, cấu tạo ngữ pháp, chức năng ngữ dụng, phân loại chi tiết đến giải mã các nhân tố văn hóa - nhận thức hình thành nên hiện tượng này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết nền tảng của ngữ dụng học hiện đại, bao gồm:
- Lý thuyết giao tiếp và nhân tố giao tiếp:
- Nhân vật giao tiếp: Phân định vai nói (A) và vai nghe (B); vai xã hội (vai thường xuyên theo giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp; vai lâm thời gồm lâm thời thể chế và lâm thời tình huống). Xác lập quan hệ vai: ngang hàng ($A=B$), người nói thấp hơn người nghe ($A<B$), người nói cao hơn người nghe ($A>B$).
- Quan hệ liên cá nhân: Quan hệ ngang (khoảng cách tâm lý, mức độ thân sơ biểu hiện qua xưng hô, đề tài, cử chỉ) và quan hệ dọc (quan hệ tôn ti, tầng bậc vị thế xã hội).
- Hình ảnh tinh thần của đối ngôn (theo Như Ý): Quá trình nhận thức hình ảnh bản thân ($X'$), hình ảnh đối ngôn ($Y''$) và ngược lại, tạo tiền đề để người nói "đón" trước phản ứng của người nghe và "rào" chặn nguy cơ hiểu lầm.
- Hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường và tiền giả định bách khoa: Lượng tri thức chung về văn hóa, xã hội, niềm tin, điều kiêng cữ làm căn cứ giải mã hành vi.
- Diễn ngôn (theo Đỗ Hữu Châu): Lời nói liên tục hoặc ngắt quãng cài răng lược giữa các nhân vật hội thoại.
- Lý thuyết hội thoại:
- Nguyên tắc cộng tác hội thoại (H.P. Grice): Gồm 4 phương châm: phương châm về lượng (đúng lượng tin đòi hỏi), phương châm về chất (không nói điều tin là sai hoặc thiếu chứng cứ), phương châm quan yếu (nói đúng chỗ, liên quan), phương châm cách thức (tránh tối nghĩa, mập mờ). Đi kèm là các bổ cứu lý thuyết của D. Wilson và J. Thomas về tính quan yếu và bản chất của phương châm chất.
- Lý thuyết lịch sự: Lịch sự chiến lược của R. Lakoff (quy thức, phi quy thức, bạn bè), G. Leech (6 phương châm: khéo léo, rộng rãi, tán thưởng, khiêm tốn, tán đồng, thiện cảm), P. Brown & S. Levinson (thể diện âm tính/dương tính; hành vi đe dọa thể diện FTA, hành vi tôn vinh thể diện FFA; lịch sự tiêu cực và các biện pháp giảm nhẹ FTA). Lịch sự chuẩn mực xã hội (S. Ide, Y. Matsumoto, Võ Đại Quang) và lịch sự trong văn hóa Việt Nam (Phan Ngọc, Phạm Đức Dương về văn hóa nhân cách luận; Nguyễn Thiện Giáp về tế nhị, khoan dung, khiêm tốn; Vũ Thị Thanh Hương về sự kết hợp giữa lịch sự chiến lược và lịch sự chuẩn mực/lễ độ).
- Đơn vị hội thoại: Tham thoại (cấu trúc nòng cốt gồm hành vi chủ hướng CH, hành vi phụ thuộc PT, cùng thành phần mở rộng theo Đỗ Hữu Châu); Sự kiện lời nói (George Yule: hành vi trung tâm, tham thoại tiền dẫn nhập).
- Lý thuyết hành vi ngôn ngữ:
- J.L. Austin: Phân biệt hành vi tạo lời, hành vi ở lời, hành vi mượn lời; điều kiện may mắn ($A, B, C$); phân loại động từ ngữ vi (chỉ dùng với hiệu lực ngữ vi khi ở ngôi thứ nhất, thời hiện tại, thể chủ động, thức thực thi). Luận án chia động từ nói năng tiếng Việt làm 3 loại: vừa dùng ngữ vi vừa dùng miêu tả (hỏi, hứa, mời); chỉ dùng ngữ vi (đa tạ, phỉ thui); chỉ dùng miêu tả (rào đón, chửi, mắng, giễu). Động từ rào đón được xác định là động từ miêu tả, không dùng làm động từ ngữ vi nguyên cấp.
- J.R. Searle: Biểu thức ngữ vi, dấu hiệu chỉ dẫn hiệu lực ở lời (IFIDs), công thức cấu trúc phát ngôn $F(p)$ (trong đó $F$ là hiệu lực ở lời, $p$ là nội dung mệnh đề); 4 điều kiện sử dụng hành vi ở lời (nội dung mệnh đề, chuẩn bị, chân thành, căn bản); 4 tiêu chí cốt lõi để phân loại hành vi ở lời (đích ở lời, hướng khớp ghép, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề).
- O. Ducrot: Quan niệm hành vi ở lời làm thay đổi tư cách pháp nhân của các bên hội thoại.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp đồng bộ 3 phương pháp nghiên cứu chính:
- Phương pháp thống kê: Tập hợp, lập danh mục và phân loại các ngữ liệu chứa hành vi rào đón xuất hiện trong các tác phẩm văn bản, hội thoại đời thường và phương tiện truyền thông đại chúng.
- Phương pháp miêu tả: Phân tích ngữ nghĩa - ngữ dụng, miêu tả hình thức ngữ pháp, cấu trúc phát ngôn và hiệu quả giao tiếp của các biểu thức rào đón theo từng nhóm chức năng cụ thể.
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Đặt hành vi rào đón trong mối liên hệ mật thiết với các nhân tố hội thoại (vai giao tiếp, đích, ngữ cảnh thoại trường) và các yếu tố hiện thực ngoài diễn ngôn (văn hóa, chuẩn mực xã hội, tâm lý tiếp nhận).
Nguồn tư liệu nghiên cứu
Ngữ liệu của luận án được trích xuất từ các văn bản văn học nghệ thuật Việt Nam, các văn bản khoa học, văn bản hành chính, các tư liệu báo chí và các cuộc hội thoại giao tiếp tự nhiên được ghi nhận trong thực tế. Các trích dẫn ngữ liệu được mã hóa xuất xứ theo quy ước cụ thể trong luận án.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về ngữ dụng học của hành vi rào đón
Chương này xây dựng nền tảng lý thuyết cho toàn bộ công trình thông qua việc tổng quan sâu sắc các vấn đề của dụng học:
- Khảo sát quá trình giao tiếp, vai xã hội và vai giao tiếp; phân tích sự tương tác theo trục quan hệ ngang (khoảng cách xã hội) và quan hệ dọc (tôn ti vị thế: $A=B, A<B, A>B$). Luận án chứng minh người ở vị thế thấp ($A<B$) sử dụng hành vi rào đón với tần số cao nhằm thể hiện sự nhún nhường, trong khi người ở vị thế cao ($A>B$) dùng rào đón để giảm nhẹ tính gay cấn của các hành vi đe dọa thể diện (chê, nhắc nhở). Phân tích mô hình "hình ảnh tinh thần của đối ngôn" (Như Ý) làm cơ sở cho hành vi "đón" phản ứng và "rào" hiểu lầm.
- Hệ thống hóa lý thuyết hội thoại: Phân tích 4 phương châm của Grice (lượng, chất, quan yếu, cách thức); phân tích các bình diện của phép lịch sự (lịch sự chiến lược của Lakoff, Leech, Brown & Levinson; lịch sự chuẩn mực xã hội của Ide, Matsumoto; lịch sự trong văn hóa giao tiếp của người Việt với các phạm trù lễ độ, đúng mực, tế nhị, khéo léo).
- Trình bày cấu trúc tham thoại (hành vi chủ hướng, hành vi phụ thuộc, thành phần mở rộng) và cấu trúc sự kiện lời nói (cặp thoại trung tâm, cặp thoại tiền dẫn nhập).
- Phân tích lý thuyết hành vi ngôn ngữ: Phân biệt hành vi tạo lời, ở lời, mượn lời của Austin; cơ chế hoạt động của động từ ngữ vi; cấu trúc $F(p)$ và hệ điều kiện thoả mãn của Searle; phân định ranh giới giữa biểu thức ngữ vi tường minh và biểu thức ngữ vi nguyên cấp; phân loại các động từ nói năng trong tiếng Việt.
Chương 2: Hành vi rào đón và vai trò dụng học của hành vi rào đón
Chương 2 tập trung định vị khái niệm, phân tích cấu tạo và vai trò ngữ dụng của hành vi rào đón:
- Xây dựng định nghĩa tác nghiệp về hành vi rào đón (HVRĐ): Xác định rào đón là một hành vi ngôn ngữ phụ trợ đi kèm hành vi ngôn ngữ trung tâm nhằm định hướng tiếp nhận hoặc điều chỉnh hiệu lực ở lời.
- Phân loại hành vi rào đón thành 2 nhóm lớn:
- Hành vi rào đón về nội dung và cách thức tiếp nhận thông tin của phát ngôn (rào đón nguyên tắc cộng tác hội thoại).
- Hành vi rào đón về hiệu quả ngoài lời của phát ngôn (rào đón hành vi ở lời và rào đón vì phép lịch sự).
- Khảo sát đặc điểm cấu tạo ngữ pháp của biểu thức rào đón (BTRĐ): Nhận diện các hình thức cấu tạo từ tiểu từ, cụm từ, quán ngữ đến các kết cấu mệnh đề/vị từ hoàn chỉnh. Xác định chức năng ngữ pháp - ngữ dụng của BTRĐ: BTRĐ hoạt động như một kiểu trạng ngữ ngữ dụng (TNND) trong cấu trúc phát ngôn.
- Xác định vai trò dụng học:
- Trong cấu trúc tham thoại, HVRĐ đóng vai trò là hành vi phụ thuộc (PT) hỗ trợ cho hành vi chủ hướng (CH).
- Trong sự kiện lời nói, HVRĐ đóng vai trò là các tham thoại tiền dẫn nhập (pre-sequences) dẫn dắt vào cặp thoại trung tâm.
- Lí giải các yếu tố tác động đến sự hình thành HVRĐ trong tiếng Việt: Tác động của các quy tắc hội thoại, tác động của văn hóa giao tiếp trọng hòa hiếu, tế nhị, và tác động của đặc trưng nhận thức giàu tính trực cảm, liên tưởng của người Việt.
Chương 3: Hành vi rào đón nội dung và cách thức tiếp nhận thông tin trong giao tiếp tiếng Việt
Chương 3 miêu tả và phân tích ngữ liệu thực tế của nhóm hành vi rào đón gắn với 4 phương châm hội thoại của Grice:
- Rào đón phương châm về lượng: Khảo sát các BTRĐ khi người nói:
- Nói lại một thông tin cũ (như: như anh đã biết, như tôi đã trình bày).
- Cung cấp lượng tin ít hơn đòi hỏi (như: tôi chỉ có thể nói đến thế, thiên cơ bất khả lộ).
- Cung cấp lượng tin nhiều hơn đòi hỏi (như: tôi xin nói dài dòng một chút, nói ra thì dài dòng).
- Rào đón phương châm về chất: Khảo sát các BTRĐ:
- Nhấn mạnh độ tin cậy của thông tin (như: tôi tận mắt chứng kiến, nói có sách mách có chứng, tôi đoan chắc).
- Giảm nhẹ độ tin cậy của thông tin (như: nếu tôi không nhầm thì, nghe đâu, hình như, có lẽ, theo chỗ tôi được biết).
- Rào đón phương châm quan yếu: Khảo sát các BTRĐ:
- Nhấn mạnh tính quan yếu của vấn đề (như: điều cốt yếu là, quan trọng hơn cả là).
- Rào đón khi chuyển đề tài (như: nhân tiện đây, tiện thể, tiện đây xin hỏi, nói chuyện này lại nhớ đến).
- Rào đón phương châm cách thức: Khảo sát các BTRĐ:
- Nhấn mạnh phương châm cách thức (như: nói một cách đơn giản, nói tóm lại, nói ngắn gọn là).
- Rào đón khi có nguy cơ vi phạm phương châm cách thức (như: tôi xin mở ngoặc đơn, nói hơi khó nghe một chút).
- Rào đón duy trì sự liên tục của cuộc thoại: Phân tích các phát ngôn duy trì kênh giao tiếp (phatic communication).
- Hành vi rào đón đồng thời một số phương châm hội thoại: Phân tích các trường hợp một BTRĐ tích hợp việc rào đón nhiều phương châm (như kết hợp lượng và chất, hoặc quan yếu và cách thức).
Chương 4: Hành vi rào đón hiệu quả ngoài lời của phát ngôn trong giao tiếp tiếng Việt
Chương 4 khảo sát nhóm hành vi rào đón hướng tới việc điều chỉnh lực ngôn trung và bảo đảm tương tác thể diện:
- Rào đón hành vi ở lời của hành vi ngôn ngữ:
- Rào đón các điều kiện sử dụng hành vi ở lời: Điều kiện chuẩn bị (như thăm dò khả năng, thời gian của đối tác: nếu anh không bận, nếu chị có thời gian), điều kiện chân thành (như: tôi thật lòng muốn khuyên anh), điều kiện căn bản (như: tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm).
- Rào đón cách thực hiện hành vi ở lời: Sử dụng các yếu tố tu từ làm giảm tính trực diện, áp đặt của hành vi chủ hướng.
- Hành vi rào đón vì phép lịch sự:
- Rào đón vì lịch sự chiến lược: Sử dụng các phương tiện ngôn ngữ làm dịu bớt các hành vi đe dọa thể diện (FTA) như chê, từ chối, yêu cầu; các hành vi sửa chữa, thanh minh (xin lỗi làm phiền anh), yếu tố tối thiểu hóa (một tí, một chút), yếu tố "tháo ngòi nổ" chặn trước phản ứng tiêu cực (tôi nói ra anh đừng giận, biết là đường đột nhưng...).
- Rào đón vì lịch sự chuẩn mực: Sử dụng các khuôn mẫu nghi thức lời nói, quán ngữ mang tính chuẩn mực xã hội nhằm tôn trọng tôn ti, thứ bậc, tuổi tác, địa vị (thưa gửi, bẩm, kính thưa, nói khí vô phép, nói trộm bóng trộm vía).
- Phân tích hiệu lực rào đón vì phép lịch sự: Khẳng định mối liên hệ chuyển hóa, tương hỗ giữa các HVRĐ phương châm hội thoại và rào đón hành vi ở lời với mục đích tối hậu là duy trì phép lịch sự và thể diện trong giao tiếp.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã xác định được các đặc trưng khu biệt của hành vi rào đón trên cơ sở phân tích điều kiện sử dụng, các thành phần cấu tạo trong biểu thức ngữ vi của hành vi rào đón (biểu thức rào đón - BTRĐ) và định danh các biểu thức rào đón phổ biến trong tiếng Việt.
- Khảo sát và miêu tả đặc điểm cấu tạo ngữ pháp của các BTRĐ; xác định rõ chức năng ngữ pháp - ngữ dụng của BTRĐ là một kiểu trạng ngữ ngữ dụng (TNND); làm rõ tác dụng của TNND đối với hiệu lực ở lời của phát ngôn, vị trí của nó trong câu và trong cấu trúc diễn ngôn.
- Nhận diện và miêu tả hệ thống hành vi rào đón trong hoạt động giao tiếp của người Việt trên nền tảng tích hợp lý thuyết giao tiếp, lý thuyết hội thoại và lý thuyết hành vi ngôn ngữ.
- Phân loại toàn diện các hành vi rào đón trong tiếng Việt thành 2 nhóm lớn mang tính khái quát cao:
- Hành vi rào đón về nội dung và cách thức tiếp nhận thông tin của phát ngôn (bản chất là rào đón nguyên tắc cộng tác hội thoại theo 4 phương châm của Grice).
- Hành vi rào đón về hiệu quả ngoài lời của phát ngôn (bao gồm rào đón các điều kiện của hành vi ở lời và rào đón vì phép lịch sự).
- Xác lập vai trò dụng học của hành vi rào đón: Vừa là hành vi phụ thuộc (PT) trong tham thoại, vừa là tham thoại tiền dẫn nhập trong sự kiện lời nói.
- Xác định và lí giải 3 cơ sở hình thành hành vi rào đón trong tiếng Việt: Sự tôn trọng các quy tắc hội thoại, sự tác động của văn hóa giao tiếp trọng hòa hiếu, tế nhị, và sự quy định của đặc trưng nhận thức dân tộc.
Đóng góp về mặt thực tiễn và ứng dụng
- Góp phần làm sáng tỏ thêm nét đẹp văn hóa truyền thống trong phương thức ứng xử ngôn ngữ của người Việt Nam.
- Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu tham khảo phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy bộ môn Tiếng Việt và Ngữ dụng học trong các trường đại học, cao đẳng và trường phổ thông.
- Hỗ trợ người học và người tham gia giao tiếp nâng cao năng lực ứng xử ngôn ngữ, biết cách lựa chọn các biểu thức rào đón thích hợp nhằm gia tăng hiệu quả giao tiếp trong đời sống cá nhân và hoạt động xã hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án chủ yếu thu thập ngữ liệu từ các văn bản viết thuộc phong cách văn học nghệ thuật, phong cách khoa học, văn bản hành chính và một số tình huống hội thoại ghi nhận thông thường; chưa bao quát triệt để toàn bộ các biến thể khẩu ngữ tự nhiên thuộc mọi phương ngữ địa phương và các ngữ vực chuyên biệt của đời sống hiện đại.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát hành vi rào đón trên các khối ngữ liệu khẩu ngữ đời thường với quy mô lớn hơn; đi sâu phân tích đối chiếu hành vi rào đón giữa tiếng Việt với các ngôn ngữ khác (như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Hán) dưới góc nhìn giao tiếp liên văn hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học, Lý luận ngôn ngữ, Việt ngữ học khi tìm hiểu về ngữ dụng học, phân tích diễn ngôn và lý thuyết hội thoại.
- Giảng viên giảng dạy tiếng Việt: Vận dụng khung lý thuyết về trạng ngữ ngữ dụng và các bảng biểu thức rào đón để thiết kế bài giảng về ngữ pháp chức năng, ngữ dụng học thực hành và giao tiếp học.
- Các nhà nghiên cứu văn hóa và nhà hoạch định chính sách truyền thông: Tham khảo cơ chế vận hành của thể diện và phép lịch sự trong ứng xử ngôn ngữ người Việt để ứng dụng trong xây dựng quy tắc ứng xử công vụ và giao tiếp cộng đồng.
- Nội dung đáng tham khảo nhất: Hệ thống phân loại 2 nhóm hành vi rào đón; khung phân tích BTRĐ dưới tư cách trạng ngữ ngữ dụng; và các bảng tổng kết biểu thức rào đón thường gặp (Bảng 1 đến Bảng 6 trong văn bản).
Câu hỏi thường gặp
1. Hành vi rào đón trong tiếng Việt được luận án phân chia thành những nhóm lớn nào?
Luận án phân loại hành vi rào đón thành 2 nhóm lớn:
- Nhóm hành vi rào đón về nội dung và cách thức tiếp nhận thông tin của phát ngôn (chính là hành vi rào đón nguyên tắc cộng tác hội thoại của Grice, gồm rào đón phương châm lượng, chất, quan yếu, cách thức và rào đón duy trì cuộc thoại).
- Nhóm hành vi rào đón về hiệu quả ngoài lời của phát ngôn (gồm rào đón các điều kiện sử dụng hành vi ở lời, rào đón cách thực hiện hành vi ở lời và rào đón vì phép lịch sự chiến lược cũng như lịch sự chuẩn mực).
2. Biểu thức rào đón (BTRĐ) giữ chức năng ngữ pháp – ngữ dụng gì trong cấu trúc câu?
Theo luận án, về mặt ngữ pháp – ngữ dụng, các biểu thức rào đón được xác định là một kiểu trạng ngữ ngữ dụng (TNND). Chúng không thuộc cấu trúc vị ngữ cốt lõi mà là thành phần phụ trợ có chức năng làm tăng hoặc giảm hiệu lực ở lời, điều chỉnh nội dung liên cá nhân và định hướng cách thức tiếp nhận nội dung mệnh đề của phát ngôn.
3. Vị trí của hành vi rào đón được xác định như thế nào trong tham thoại và sự kiện lời nói?
Trong cấu trúc tham thoại, hành vi rào đón đóng vai trò là hành vi phụ thuộc (PT) nhằm củng cố, biện minh hoặc hỗ trợ cho hành vi chủ hướng (CH). Trong cấu trúc sự kiện lời nói, hành vi rào đón hoạt động như các tham thoại tiền dẫn nhập (pre-sequences) dẫn dắt, thăm dò trước khi bước vào cặp thoại trung tâm.
4. Động từ "rào đón" thuộc tiểu loại động từ nói năng nào trong tiếng Việt?
Căn cứ vào chức năng ngữ vi, luận án xếp động từ rào đón vào loại động từ nói năng chỉ có thể dùng với chức năng miêu tả lại hành vi ở lời mà không thể dùng theo chức năng ngữ vi. Người nói chỉ có thể nói "anh ấy rào đón mãi mới nói" (chức năng miêu tả thuật lại), chứ không thể phát ngôn "tôi rào đón anh..." để thực hiện hành vi rào đón.
5. Những yếu tố nào chi phối sự hình thành của hành vi rào đón trong giao tiếp tiếng Việt?
Luận án chỉ ra 3 yếu tố nền tảng chi phối sự hình thành hành vi rào đón: (1) Sự tôn trọng và điều chỉnh các quy tắc hội thoại (nguyên tắc cộng tác và phép lịch sự); (2) Tác động của văn hóa giao tiếp truyền thống của người Việt (trọng tình, tế nhị, nhún nhường, dĩ hòa vi quý); (3) Tác động của đặc trưng nhận thức và tâm lý của người Việt trong việc định hình hình ảnh tinh thần của bản thân và đối ngôn.
Kết luận
Luận án "Khảo sát hành vi rào đón trong giao tiếp tiếng Việt" của tác giả Vũ Thị Nga là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về hành vi rào đón dưới góc độ ngữ dụng học tại Việt Nam. Công trình đã nhận diện bản chất, khảo sát cấu tạo ngữ pháp, xác lập chức năng trạng ngữ ngữ dụng của biểu thức rào đón, đồng thời phân loại chi tiết hiện tượng này thành hai nhóm gắn với nguyên tắc cộng tác hội thoại và hiệu quả ngoài lời. Thông qua việc phân tích ngữ liệu đa dạng, luận án đã làm sáng tỏ cơ sở hình thành của hành vi rào đón từ các quy tắc hội thoại, văn hóa giao tiếp và đặc trưng nhận thức của người Việt. Đây là tài liệu khoa học hữu ích cho công tác nghiên cứu lý luận ngôn ngữ, thực hành giao tiếp và giảng dạy tiếng Việt.