Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN VĂN 1. Một số cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài Kiến thức ngữ pháp là một phạm trù rộng mênh mông. Với khuôn khổ một luận văn thạc sỹ, chúng tôi không thể nghiên cứu và khảo sát được hết tất cả các vấn đề ngữ pháp. Trong luân văn này chúng tôi sẽ tập trung khảo sát những vấn đề cơ bản nhất và nổi bật nhất đó là khảo sát hư tư và các kiểu câu hỏi và câu phủ định trong các giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài.
Hư từ trong tiếng Việt Đối với các ngôn ngữ thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập không biến hình như tiếng Việt, hư từ luôn được nhìn nhận dưới mối quan hệ đối lập với hệ thống thực từ. Hư từ là bộ công cụ ngữ pháp cực kỳ quan trọng trong tiếng Việt. Vì thế hư từ là một vấn đề được các nhà nghiên cứu tiếng Việt quan tâm, nhất là những nhà ngữ pháp học. Thế nhưng từ trước tới nay có rất nhiều quan niệm về hư từ được thể hiện qua các công trình nghiên cứu đã công bố.
Tuy nhiên , nhìn chung hầu như các quan điểm đó cũng đều có sự thống nhất về ý nghĩa và chức năng của hư từ. Về ý nghĩa, hư từ được coi là những từ trống về nghĩa từ vựng. Còn về chức năng thì hư từ là công cụ thể hiện các quan hệ ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp. Cụ thể hơn: Theo Nguyễn Kim Thản trong cuốn Cơ sở ngữ pháp tiếng Việt(1963) cũng cho rằng “hư từ là những từ không có ý nghĩa chân thực, mà chỉ có tác dụng làm công cụ ngữ pháp để chỉ các ý nghĩa ngữ pháp khác nhau của các từ”[31,tr.35] Quan niệm của Đinh Văn Đức “hư từ là một tập hợp không lớn về số lượng của các từ,hư từ ít tham gia biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân xuất các hình thức tri nhận thành khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa khái niệm với khái niệm trong tư duy.
23] “Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” là công trình nghiên cứu sâu sắc về hư từ tiếng Việt. Qua đây Nguyễn Anh Quế đã chỉ ra và phân tích chi tiết về hư từ. Ông cho rằng: “ Một từ dù theo quan điểm nào cũng là có nghĩa.Khi đứng riêng rẽ, từ có ý nghĩa từ 8 vựng và ý nghĩa ngữ pháp của một từ, là hai mặt không thể thiếu, không thể tách rời. Tác giả đã đi đến kết luận rằng hư từ cũng có ý nghĩa từ vựng, tuy mờ nhạt hơn thực từ…Nói một cách khác hư từ không mang ý nghĩa tất yếu hay ý nghĩa tự thân mà chỉ mang ý nghĩa tổ hợp.
Hư từ không bao giờ làm yếu tố chính, yếu tố trung tâm mà chỉ làm yếu tố phụ trong đoản ngữ hoặc chỉ dùng nối kết các câu. Có thể thấy rằng, nguyên chỉ về vấn đề định nghĩa hư từ là gì cũng là cả một sự tranh cãi giữa các quan điểm. Ở phạm vị luận văn này chúng tôi không di sâu phân tích chứng minh các quan điểm của các tác giả đi trước mà chỉ xem đó là cơ sở để có cái nhìn chung nhất, khách quan nhất về hư từ trong tiếng Việt. Như vậy điểm chung nhất , cơ bản nhất, trừ những nét tiểu dị thì hư từ là những từ không có ý nghĩa từ vựng chân thực, dùng để diễn đạt các ý nghĩa ngữ pháp hoặc quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ hoặc giữa các bộ phận của câu, hoặc giữa các câu với nhau.
Tiêu chí nhận diện hư từ Tiêu chí nhận diện hư từ được hầu hết được các tác giả đề nghị là dựa vào tổ chức đoản ngữ và dựa vào chức năng của từ để vạch ra sự đối lập thực từ- hư từ. Những từ có thể làm thành tố trung tâm của đoản ngữ và có thể làm thành phần câu là thực từ; những từ không có thể làm trung tâm đoản ngữ ,không thể làm thành phần câu là hư từ. Sở dĩ chúng tôi dựa vào quan điểm này vì hướng phân loại này khắc phục được khó khăn trong quan niệm truyền thống về cách xác định ý nghĩa của từ( có ý nghĩa chân thực và không có ý nghĩa chân thực). Ý nghĩa từ vựng của từ- chân thực hay không chân thực- đều bao hàm cả trong phạm vi thực từ và hư từ.
Điều đó giải thích cho hiện tượng một số hư từ có nguồn gốc từ thực từ mà chúng chưa hoàn toàn mất nghĩa từ vựng-nghĩa là chỉ có ý nghĩa ngữ pháp thuần túy, hoặc hiện tượng “ trống nghĩa” trong một số thực từ ( như các danh từ sự, cuộc, nỗi, niềm của tiếng Việt ).Về chức năng thì hư từ được xác định là những từ chuyên dùng kèm với thực từ để bổ sung ý nghĩa cho thực từ , và là những từ chuyên dùng biểu thị các quan hệ tình thái. Như vậy hư từ được nhận diện trong tương quan đối lập với thực từ. Những tiêu chí phổ biến có thể tóm tắt lại để coi một từ là hư từ bao gồm: Không có ý nghĩa từ vựng chân thực, hoặc chỉ có ý nghĩa từ vựng mờ nhạt. 9 Không có chức năng định danh.
Làm công cụ để biểu đạt những ý nghĩa, phạm trù ngữ pháp nào đó của thực từ ( nói tóm lại là những từ có liên quan đến việc diễn đạt, biểu thị những loại ý nghĩa ngữ pháp) Ví dụ: Từ “ chẳng” ta không xác định được nó phản ánh sự vật, sự việc hay tính chất gì trong thế giới khách quan, tức là “ chẳng” không có ý nghĩa từ vựng chân thực. “ chẳng” chỉ là công cụ biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp, phạm trù ngữ pháp hay ý nghĩa ngữ dụng sau. Dùng để phủ định với nghĩa dứt khoát hơn từ không. + Em chẳng thích ăn món này đâu.
Khi làm kết từ, chẳng tương đương với kẻo/chẳng kẻo + Chúng ta đi thôi chẳng muộn. Phân loại hư từ Hư từ đã được nhiều người bàn đến, nhưng nói đến sự phân loại hư từ một cách có hệ thống thì không phải nhiều tác giả đi sâu vào nghiên cứu tới vấn đề đó. Có lẽ do mức độ đòi hỏi của những công trình mà họ nghiên cứu thì họ chỉ nói đến hư từ ở một mức độ nào đó mà thôi. Chúng ta có thể dựa vào chức năng hoặc dựa vào vị trí của hư từ trong câu để phân loại hư từ.
Trong các công trình nghiên cứu về hư từ chúng tôi thấy nổi bật lên là quan điểm phân loại hư từ của Nguyễn Anh Quế trong “ hư từ trong tiếng Việt hiện đại” (xem thêm 29). Ở đây tác giả đã phân loại hư từ thành ba nhóm lớn theo tiêu chí về vị trí là: các hư từ chuyên dùng làm thành tố phụ đoản ngữ, các hư từ không làm thành tố phụ đoản ngữ, các hư từ nằm ngoài đoản ngữ- cac hư từ phụ trợ. Bên cạnh đó là quan niệm của Diệp Quang Ban. Khác với Nguyễn Anh Quế, Diệp Quang Ban lại dựa vào chức năng của hư từ để phân loại chúng.
Tuy nhiên các đơn vị từ được Diệp Quang Ban liệt vào danh sách các hư từ cũng giống Nguyễn Anh Quế, chỉ có điều khác về tên gọi. Tên gọi cũng quan trọng nhưng điều quan trong làm 10 nổi rõ được các nét nghĩa và chức năng của chúng trong thực tiến của tiếng Việt. Thực tế cho thấy rằng, đối với người nước ngoài học tiếng Việt thì việc hiểu được một hư từ theo chức năng, chúng có ý nghĩa gì, đi với động từ hay tính từ.có vẻ dễ dàng hơn là hiểu một hư từ có nằm trong đoản ngữ hay không. Chúng tôi sẽ phân loại hư từ theo tiêu chí về chức năng và khả năng kết hợp với thực từ như thế nào.
Hơn nữa điều này còn liên quan đến cách thức giảng dạy hư từ cho người nước ngoài, với một hư từ chúng ta nên giảng dạy ý nghĩa trước hay ngữ dụng trước, chức năng trước.Dựa trên những cơ sở lý luận đã được đưa ra, chúng tôi thống kê được danh sách cac hư từ và các tiểu loại của hư từ tiếng Việt như sau: Phụ từ: bao gồm định từ và phó từ Định từ: là những từ biểu thị quan hệ giữa số lượng và sự vật được nêu ở danh từ, chuyên dùng kèm với danh từ, với chức năng làm thành tố phụ trong kết hợp có trung tâm ngữ nghĩa- ngữ pháp là danh từ ( cụm danh từ). Số lượng định từ tuy không nhiều nhưng chúng có tác dụng dạng thức hóa một số ý nghĩa ngữ pháp quan trọng của từ loại danh từ. Các định từ trong tiếng Việt như: mỗi , một, những ,các, từng , mọi , cái, mấy. Phó từ: là những từ thường dùng kèm với thực từ ( động từ, tính từ).
Chúng biểu thị ý nghĩa về quan niệm giữa quá trình và đặc trưng với thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng thực tại, đồng thời cũng biểu hiện ý nghĩa về cách thức nhận thức và phản ánh các quá trình và đặc trưng hiện thực. Một số phó từ thường gặp như: đã , đang, mới , vừa mới , sắp, luôn , luôn luôn, vẫn, cứ , thột , bỗng nhiên, bất thình lình, thoạt thoắt, nhất định, ắt hẳn, chắc, chắc là, quả là. Kết từ: Về ý nghĩa khái quát, kết từ biểu hiện ý nghĩa về quan hệ giữa các khái niệm và đối tượng được phản ánh. Kết từ là dấu hiệu biểu thị quan hệ ngữ pháp giữa các thực từ với hư từ một cách tường minh.
Dựa vào các kiểu ý nghĩa quan hệ ( quan hệ cú pháp) được thể hiện bằng kết từ. Có thể phân chia làm hai loại là kết từ chính phụ và kết từ đẳng lập. 11 Kết từ chính phụ: dùng để kết nối thành tố phụ vào thành tố chính. Do đó kết từ chính phụ thường có xu hướng gắn vào thành tố phụ.
Chúng ta có thể kể ra một số kết từ chính phụ phổ biến như : của, bằng , do, vì, tại, bởi, vì, nên, từ, đến, tuy, nhưng, như , tuy/mặc dù/ dù.nhưng, nếu/hễ/giá. thì, thì/ là/ mà., do/vì/tại/bởi.nên/cho nên/mà. Kết từ đẳng lập: dùng để nối kết các từ, các kết hợp từ ( ở bậc cụm từ hay gắn bó với bất cứ thành tố nào trong một kết hợp có quan hệ đẳng lập. Đây là một số kết từ đẳng lập thương gặp như; và, với , cùng , hay, hoặc, rồi, còn, là, rằng, hình như, thì, cũng, vẫn, cứ.thà/thà rằng(không).chứ (không), thà/thà rằng.