Đặt vấn đề Việt Nam là một đất nƣớc đi lên từ cái nôi ngành nông nghiệp. Trải qua bề dày lịch sử lâu đời, ông cha ta vẫn luôn coi trọng phát triển sản xuất nông nghiệp nhƣ một ngành kinh tế thiết yếu để tạo ra của cải vật chất và nguồn lƣơng thực cho gia đình, xã hội. Hiện nay, tuy có nhiều trang thiết bị hiện đại, nhƣng thiên tai, bão lũ và đặc biệt là dịch bệnh khiến cho hoạt động sản xuất nông nghiệp gặp nhiều bất lợi ảnh hƣởng đến năng suất, chất lƣợng của nông sản. Ngƣời dân không ngừng đổi mới các biện pháp canh tác và bảo vệ thực vật để đảm bảo cho quá trình sản xuất.
Bên cạnh đó, con ngƣời đã nghiên cứu, cải tiến thêm rất nhiều biện pháp phòng, chống và tiêu diệt sâu, bệnh dịch hại thực vật nhờ các loại thuốc hóa học và chế phẩm sinh học. Trong hệ vi sinh vật đất, vi khuẩn chiếm khoảng 90% tổng số, chiếm ƣu thế lớn về mặt số lƣợng. Đất là nơi cƣ trú của nhiều vi khuẩn có hại cho thực vật, động vật đặc biệt là con ngƣời. Chằng hạn nhƣ các vi khuẩn thuộc chi Streptococcus, Staphylococcus gây ra một số bệnh cho ngƣời nhƣ nhiễm khuẩn huyết, sốt thƣơng hàn, uốn ván, giang mai, dịch tả.
Đối với thực vật, vi khuẩn gây bệnh trên nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣ vi khuẩn Xanthomonas campestris gây loét vàng trên vỏ của của một số loài cây có múi, Erwinia carotovora gây bệnh thối nhũn trên cây cải xanh, Liberobacter asiaticum tạo ra các vết loang màu vàng trên lá cây cam, quýt làm cây chậm sinh trƣởng và chết dần. Bên cạnh đó, một số loài vi nấm cũng là nhóm vi sinh vật đất có khả năng gây ra nhiều bệnh cho cây trồng nhƣ bệnh chết héo do Fusarium sp.; các bệnh vàng lá, thối rễ (cam, quýt, bƣởi, sầu riêng), bệnh chết nhanh (hồ tiêu), bệnh sọc đen (cây cao su), thối loét thân (sầu riêng) do các loài thuộc chi Phytophthora sp. Đối với ngành nông nghiệp sự thay đổi bất thƣờng của khí hậu, thiên tai, bão lũ là điều kiện bất lợi cho sinh trƣởng của thực vật đặc biệt là cây 1 trồng nhƣng ngƣợc lại, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật, sâu bệnh hại phát triển gây tổn hại về năng suất, chất lƣợng của nông sản. Để tiêu diệt mầm bệnh, những ngƣời nông dân hay sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) có nguồn gốc hóa học khác nhau, bởi những loại thuốc này có tác dụng nhanh, triệt để nhƣng các vấn đề về ô nhiễm môi trƣờng đặc biệt tồn dƣ thuốc hóa học trong nông sản vẫn chƣa đƣợc giải quyết.
Vì vậy, việc nghiên cứu tìm ra biện pháp phòng trừ hiệu quả, khắc phục nhƣợc điểm của thuốc BVTV hóa học là cấp thiết. Thuốc BVTV có nguồn gốc sinh học hay còn đƣợc gọi là chế phẩm sinh học ra đời không chỉ khắc phục đƣợc nhƣợc điểm của thuốc BVTV hóa học, thân thiện với môi trƣờng mà còn giúp tăng năng suất, chất lƣợng của nông sản. Ngày nay, để hợp với xu hƣớng phát triển nông nghiệp an toàn, khai thác và sử dụng các chủng vi sinh vật có khả năng kháng nấm bệnh là biện pháp phổ biến trong sản xuất chế phẩm sinh học. Do đó, đề tài: “Khảo sát một số đặc điểm sinh hóa và khả năng đối kháng nấm bệnh của chủng vi khuẩn phân lập từ đất vùng rễ” đƣợc tiến hành.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý – sinh hóa và ảnh hƣởng của điều kiện nuôi cấy đến khả năng đối kháng nấm của chủng vi khuẩn tuyển chọn. Yêu cầu - Phân lập, tuyển chọn chủng vi khuẩn có khả năng đối kháng nấm gây hại cây trồng từ đất vùng rễ cây bắp cải. - Khảo sát các đặc điểm sinh lý, sinh hóa: khả năng di động, phản ứng catalase, biến dƣỡng citrate, khử nitrate,v.v của chủng vi khuẩn tuyển chọn.
- Khảo sát ảnh hƣởng của điều kiện nuôi cấy nhƣ nhiêt độ, pH, nguồn carbon đến khả năng đối kháng nấm của chủng vi khuẩn tuyển chọn. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài này là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sâu hơn về vi khuẩn phân lập từ đất vùng rễ và nghiên cứu phát triển các loại chế phẩm sinh học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài này góp phần bổ sung thêm các thông tin về vi khuẩn đất vùng rễ.
Đánh giá khả năng đối kháng với một số chủng nấm gây bệnh hại cây trồng. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về vi sinh vật đất Đất là môi trƣờng lý tƣởng cho nhiều loài vi sinh vật sinh trƣởng và phát triển. Ngoài vi khuẩn, trong đất có rất nhiều loài vi sinh vật khác nhƣ tảo, nấm, động vật nguyên sinh.
Vi khuẩn đất đóng vai trò rất tích cực trong việc tuần hoàn vật chất trong đất thông qua các chu trình tuần hoàn carbon, nito, phospho biến đổi các chất mùn, khoáng chất khác nhau (Rogers và cs. Đặc biệt, vùng đất xung quanh rễ cây là nơi tập trung nhiều sản phẩm trao đổi chất đƣợc rễ cây giải phóng vào môi trƣờng, tạo điều kiện thuần lợi cho vi sinh vật đặc trƣng phát triển còn đƣợc gọi là hệ vi sinh vật vùng rễ. Thành phần hệ vi sinh vật đất thay đổi theo loại đất, thành phần hóa học, pH và độ sâu của từng lớp đất, mùa vụ canh tác, loại cây trồng. Sự phân bố Phân bố theo chiều sâu: Quần thể vi sinh vật thƣờng tập trung nhiều nhất ở tầng đất canh tác với độ sâu 10 – 20 cm so với về mặt, do có độ ẩm thích hợp, chất dinh dƣỡng tích lũy nhiều, không bị tác động mạnh của ánh sáng mặt trời, tạo điều kiện thích hợp cho vi sinh vật phát triển.
Đặc biệt đây là nơi diễn ra các quá trình chuyển hóa quan trọng trong tầng đất này. Số lƣợng và thành phần vi sinh vật sẽ giảm dần ở độ sâu 30 cm đến 4 -5 m, chủ yếu là vi khuẩn kị khí. Theo số liệu của Hoàng Lƣơng Việt, có tới 70,3 triệu vi sinh vật trong 1 gram đất ở độ sâu 9 – 20 cm tại đất đồi Mộc Châu – Sơn La; từ 20 – 40 cm có chứa khoảng 48,6 triệu; từ 80 – 120 cm có chứa khoảng 40,7 triệu (Lê Xuân Phƣơng, 2008). Phân bố theo loại đất: Các loại đất khác nhau có điều kiện dinh dƣỡng, độ ẩm, độ thoáng khí, pH khác nhau kéo theo sự phân bố của vi sinh vật cũng khác nhau.
Đối với đất trồng lúa nƣớc, với tình trạng ngập nƣớc lâu ngày, ảnh hƣởng đến độ thoáng 4 khí, nhiệt độ và chất dinh dƣỡng. Do đó phần lớn diễn ra quá trình khử oxy, chỉ có một lớp mỏng phía trên dày khoảng 0 – 3 cm diễn ra quá trình oxy hóa. Bởi vậy, trong đất trồng lúa nƣớc các loài vi sinh vật kị khí phát triển mạnh nhƣ vi khuẩn amon hóa, vi khuẩn phản nitrat hóa. Ngƣợc lại các vi sinh vật hiếu khí đều rất ít nhƣ vi khuẩn cố định nitơ, vi khuẩn nitrat hóa.
Trong khi đó, ở đất trồng màu, đất thông thoáng khí, quá trình oxy hóa chiếm ƣu thế, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật hiếu khí phát triển mạnh. Ở đất giàu dinh dƣỡng nhƣ đất phù sa sông Hồng, tổng số vi sinh vật rất cao nhƣng ngƣợc lại, tại vùng đất bạc màu Hà Bắc có tổng số lƣợng vi sinh vật ít nhất (Lê Xuân Phƣơng, 2008). Phân bố theo cây trồng: Đối với cây trồng, vùng rễ là vùng vi sinh vật phát triển nhất so với vùng xa rễ hoặc vùng không có rễ. Vì rễ cây thƣờng xuyên tiết ra chất hữu cơ cung cấp chất dinh dƣỡng cho vi sinh vật.
Tuy nhiên, mỗi một loại cây trồng trong quá trình sống và chết đi tiết ra những chất khác nhau. Thành phần và số lƣợng vi sinh vật sống trong vùng rễ đƣợc quyết định bởi số lƣợng và thành phần các chất hữu cơ từ rễ tiết ra. Chẳng hạn nhƣ nhóm vi sinh vật cố định nitơ cộng sinh vùng rễ cây họ Đậu, nhóm vi sinh vật cố định nitơ tự do hoặc nội sinh cƣ trú chủ yếu trong vùng rễ cây Lúa (Lê Xuân Phƣơng, 2008). Mối quan hệ giữa các nhóm vi sinh vật trong đất Quan hệ ký sinh: Quan hệ kí sinh là hiện tƣợng vi sinh vật này sống ký sinh trên vi sinh vật khác, sống hoàn toàn dựa trên dinh dƣỡng của vật chủ và gây tổn hại cho vật chủ (Lê Xuân Phƣơng, 2008).
Virus phân giải Rhizobium hay đƣợc gọi là rhizobiophages, tạo thành các yếu tố sinh học quan trọng nhất ảnh hƣởng đến số lƣợng rhizobia và nốt sần cây họ đậu trên đất nông nghiệp (Shahaby et al. Ngƣời ta tính rằng có khoảng 107 – 109 virus trong 0,1 g đất (Williamson et al. Quan hệ cộng sinh: Quan hệ cộng sinh là mối quan hệ hợp tác hai bên cùng có lợi và không thể thiếu đƣợc trong quá trình sống của chúng. Ngoại trừ các nốt sần ở thân, thực vật cộng sinh với vi sinh vật chủ yếu liên quan đến mô rễ.
Cộng sinh rễ nội bào chia thành hai loại chính: nốt sần và nấm rễ. Cả hai loại cộng sinh đều làm tăng các loại vi sinh vật vùng rễ (Gianinazzi-Pearson et al. Trong nốt sần, vi khuẩn cố định nitơ rhizobium khử nitơ trong khí quyển thành amoniac đƣợc cây sử dụng. Ngƣợc lại, thực vật cung cấp nguồn cacbon ổn định cho vi khuẩn (Tóth & Stacey, 2015), các cây thuộc họ đậu có khả năng cộng sinh với vi khuẩn nốt sần chỉ chiếm khoảng 9% (Lƣơng Đức Phẩm, 2009).
Các vi khuẩn có khả năng thiết lập mối quan hệ cộng sinh và tạo nốt sần với cây họ đậu là Rhizobium trifolii, R.phaseoli (Segovia et al. Nhiều nghiên cứu cho rằng Rhizobium sp. có tác dụng thúc đẩy sự tăng trƣởng của thực vật. Hạt lạc đƣợc bổ sung Rhizobium sp.
có chiều dài rễ dài hơn 69,75%, chiều cao chồi cao hơn 49,51%, số nhánh nhiều hơn 13,75% và số củ nhiều hơn đối chứng là 13,60% (Sayyed et al. Quan hệ hỗ sinh: Quan hệ hỗ sinh là quan hệ hai bên cùng có lợi nhƣng không nhất thiết phải có nhau nhƣ quan hệ cộng sinh. Chẳng hạn nhƣ mối quan hệ giữa nhóm vi khuẩn phân giải photpho và nhóm vi khuẩn phân giải protein, nhóm vi khuẩn thứ nhất cung cấp photpho cho nhóm thứ hai, nhóm vi khuẩn thứ hai cung cấp nitơ cho nhóm vi khuẩn thứ nhất (Lê Xuân Phƣơng, 2008). Azotobacter, Clostridium là hai chủng đại diện cho mối quan hệ tƣơng hỗ giữa nhóm vi khuẩn phân giải photphat và cố định nitơ.