CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Viêm dạ dày là tình trạng viêm ở niêm mạc dạ dày. Viêm dạ dày không phải là một bệnh đơn độc. Đúng hơn, nó là một nhóm bệnh có những biến đổi chung trong niêm mạc dạ dày nhưng lại khác về các nét lâm sàng, đặc điểm mô học, sinh bệnh học [21]. Viêm dạ dày có nhiều nguyên nhân, ngoài nguyên nhân chính là vi khuẩn Helicobacter pylori thì có nhiều yếu tố khác như: sử dụng thuốc chống viêm, sử dụng Aspirin (trị đau nhức khớp) không đúng chỉ định kéo dài, yếu tố thần kinh (luôn luôn căng thẳng, lo âu), do rượu, thuốc lá.
Một vài phân loại đã được dùng để xem xét viêm dạ dày. Thông thường các phân loại này đã dựa vào thời gian (cấp và mạn) của biểu hiện lâm sàng, các hình ảnh mô học đặc trưng cho viêm dạ dày, sự phân bố giải phẫu của niêm mạc dạ dày hoặc sinh bệnh học [21]. Hiện nay, nội soi là một kỹ thuật thăm dò quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị. Nội soi dạ dày giúp xác định các dạng tổn thương mà lâm sàng không thấy được, nội soi để sinh thiết xác định viêm dạ dày do vi khuẩn, ung thư dạ dày, giúp cấp cứu chảy máu dạ dày [14], [16].
Giá trị và lịch sử của nội soi chẩn đoán, điều trị viêm dạ dày: Năm 1932, Wolf, Schindler và Moutier trình bày và sử dụng lần đầu tiên đèn soi dạ dày nửa cứng nửa mềm. Năm 1958, Hirschowitz sử dụng ống soi mềm hoàn toàn mở ra một thời kỳ phát triển mới của chuyên nghành nội soi. Năm 1966, Bệnh viện Bạch Mai, soi dạ dày bằng ống nửa cứng nửa mềm được thực hiện lần đầu. Năm 1967, Bệnh viện Bạch Mai soi dạ dày bằng ống soi mềm.
4 Từ năm 1980 trở đi nhiều Bệnh viện ở thành phố Hồ Chí Minh được trang bị đèn nội soi dạ dày và phát triển đến các tỉnh khác [17].1Những yếu tố gây bệnh viêm dạ dày 1.1 Do tự miễn Thường gây viêm teo dạ dày (viêm dạ dày type A: là hình thái ít phổ biến của viêm dạ dày), có thể dẫn đến thiếu máu ác tính. Cơ chế tự miễn chính là sự có mặt các kháng thể chống tế bào thành và chống yếu tố nội tại trong huyết thanh bệnh nhân viêm dạ dày type A và thiếu máu ác tính. Kháng thể chống tế bào thành đã được chứng minh có tính chất độc tế bào đối với tế bào niêm mạc, các cơ chế miễn dịch qua trung gian tế bào cũng đã được đưa ra tham gia vào tổn thương tế bào nhầy dạ dày [21].2 Do nhiễm trùng, ký sinh trùng - Helicobacter pylori (Hp): Hp là xoắn khuẩn gram (-), dài 0,2-0,5µm, vi ái khí gây ra một số hình thái viêm dạ dày cấp và mạn, sống trong dạ dày, vi khuẩn gây bệnh viêm dạ dày mạn hoạt động kéo dài suốt đời hoặc cho đến khi vi khuẩn được tiêu diệt [1], [21], [33]. Hp sản xuất nhiều protein gây ra hoặc thúc đẩy các tổn thương niêm mạc dạ dày.
Men Ureasea là một chất tiền viêm hoá ứng động bạch cầu đơn nhân và đa nhân do Hp tạo ra, phân hủy Urê thành NH3 và HCO3- giúp vi trùng xâm nhập vào niêm mạc dạ dày và bảo vệ vi trùng khỏi bị ảnh hưởng của acid trong dịch vị. Men urease làm tổn hại tế bào biểu mô dạ dày bằng các ion hydroxyt sinh ra do cân bằng nước với NH3. Bệnh nhân nhiễm Hp bị giảm somatostatin gây tăng giảm phóng gastrin. Tình trạng tăng gastrin kéo dài dẫn đến tăng khối lượng tế bào thành ở niêm mạc dạ dày làm tăng tiết acid gây dị sản niêm mạc dạ dày, gây viêm dạ dày [1], [21], [33].3 Do hóa chất - Do rượu.
- Do thuốc chống viêm Steroides, NSAIDs. - Do acid mật, men tụy. Các tác nhân này phá vỡ hàng rào niêm mạc dạ dày mà trong điều kiện bình thường đã cản trở sự khuyết tán trở lại các ion H+ từ khoang dạ dày vào niêm mạc dạ dày. Nguyên nhân phổ biến nhất rất quan trọng của viêm dạ dày trợt cấp kết hợp với thuốc là uống Aspirin hoặc các NSAIDs khác.
Các thuốc này ức chế hoạt động của men cyclooxygenase niêm mạc dạ dày, giảm tổng hợp prostaglandin niêm mạc nội sinh chất này đã đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ niêm mạc dạ dày. Sự giảm prostaglandin nghĩ là cơ chế chính nhưng có lẽ không phải là độc nhất, nhờ đó mà aspirin và kháng viêm NSAIDs gây viêm dạ dày [7], [21]. - Ngộ độc acid hoặc dung dịch chất kiềm có tính phỏng, bào mòn niêm mạc dạ dày gây viêm dạ dày [7], [21].4 Do các nguyên nhân khác - Stress: bỏng, chấn thương nặng, sau phẫu thuật lớn, shock, nhiễm phóng xạ, u não, chấn thương thần kinh-tâm thần, xơ gan, suy thận.các tress ức chế vỏ não làm cho thùy sau đồi thị hưng phấn, kích thích thùy trước tuyến yên tăng tiết ACTH làm vỏ thượng thận tăng tiết corticoid gây viêm dạ dày. - Do ăn uống: ăn uống không đều độ, thức ăn quá nóng, quá lạnh, thức ăn khó tiêu, chè, cà phê.2 Phân loại viêm dạ dày Phân loại trong hệ thống phân loại Sydney theo tiêu chuẩn nội soi -Viêm sung huyết, xuất tiết: là hình thức phổ biến nhất trong thực hành lâm sàng, bao gồm chủ yếu là hồng ban dạng đốm, thường có dạng hạt mịn, mất bóng, xuất tiết từng đám nhỏ và dễ vỡ, niêm mạc mủn và có những chấm đỏ chạy dọc vùng hang vị tới lỗ môn vị.
Loại viêm dạ dày này thường gặp ở hang vị, nhưng cũng có thể toàn bộ niêm mạc dạ dày. Nguyên nhân do nhiễm Hp nặng. Được chia theo 3 mức độ: nặng,vừa, nhẹ [16], [17], [32]. Loại sung huyết nhẹ: đám sung huyết nhỏ, thay đổi màu sắc rõ.
Loại sung huyết vừa: đám sung huyết lớn hơn, màu đỏ rực. Loại sung huyết nặng: đám sung huyết rộng, màu đỏ rực. -Viêm trợt phẳng: được chẩn đoán khi vết trợt phẳng là trội hơn, có màng tơ huyết phủ đáy. Các vết trợt có thể tạo thành một đường bao quanh lỗ môn vị.
Thường có kèm theo hồng ban tại chỗ. Gặp nhiều ở hang vị hoặc toàn thể dạ dày [16], [17], [32]. -Viêm trợt nổi: được chẩn đoán khi vết trợt nổi là trội hơn, tạo thành dãy hoặc tổn thương riêng biệt, ổ viêm trợt gồ cao, trên đỉnh lõm. Phân chia mức độ dựa vào số lượng thương tổn [16], [17], [32].
Mức độ nhẹ: có một hoặc vài nốt trợt. Mức độ vừa: có nhiều hạt. Mức độ nặng: có rất nhiều hạt. -Viêm teo niêm mạc dạ dày: niêm mạc mỏng, nhẵn, màu vàng, các nếp niêm mạc thưa thớt, nhìn thấy mạch máu rõ.
Kèm theo dạng phẳng hoặc không phì đại là phổ biến. Chuyển sản niêm mạc ruột có thể thấy những đốm xám có nhung mao ở trên. Theo nội soi được chẩn đoán là viêm teo nặng khi mạch máu được nhìn thấy rõ với dạ dày chỉ cần bơm hơi căng. Được chia làm ba độ [16], [17], [32].
7 Mức độ nhẹ: nhìn thấy mạch máu nhỏ. Mức độ vừa: nhìn thấy mạng lưới mạch máu. Mức độ nặng: mạng lưới mạch máu nổi rõ, cong queo. -Viêm dạ dày xuất huyết: theo nội soi là những đốm hoặc mảng xuất huyết trong thành dạ dày.
Có thể kèm theo chảy máu thật sự trong lòng dạ dày, có thể thấy những mảng màu nâu hồng hoặc những cái vệt đen sẫm. Số lượng chấm xuất huyết xác định mức độ nặng, nhẹ, trung bình [16], [17], [32]. -Viêm phì đại niêm mạc dạ dày: theo nội soi được chẩn đoán khi phì đại niêm mạc dạ dày là chính. Trong viêm dạ dày tăng tiết phì đại có nếp niêm mạc dày không màu, thô, nằm chồng lên nhau, mất bóng láng và vết lốm đốm của dịch tiết dính, trên đỉnh các nếp niêm mạc có vết trợt nông [16], [17], [32].
Mức độ nhẹ: nếp niêm mạc dày 2 mm. Mức độ trung bình: nếp niêm mạc dày 5-10 mm. Mức độ nặng: nếp niêm mạc dày > 10 mm. -Viêm dạ dày do trào ngược mật trong dạ dày: có hồng ban, phù nề, phì đại và trào ngược mật trong dạ dày.
Đặc biệt, nếp phì đại gần lỗ môn vị có thể rất phù nề và đỏ như thịt bò. Hay gặp trên bệnh nhân đã cắt dạ dày [16], [17], [32]. Các hình ảnh nội soi viêm dạ dày: Hình1.1:Viêm sung huyết hang vị Hình 1.2:Viêm trợt phẳng hang vị (Nguồn Journal of Gastroenterology and Hepatology, 6, pp.3:Viêm trợt nổi Hình 1.4: Chuyển sản ruột (Nguồn Journal of Gastroenterology and Hepatology, 6, pp.5:Viêm teo niêm mạc hang vị.6: Viêm xuất huyết thân vị (Nguồn Journal of Gastroenterology and Hepatology, 6, pp.7: Viêm phì đại niêm mạc Hình 1.8:Viêm do trào ngược dịch mật (Nguồn Journal of Gastroenterology and Hepatology, 6, pp.3 Đặc điểm lâm sàng 1.1 Tiêu hóa - Đau vùng thượng vị: đau dữ dội, hoặc chỉ là cảm giác khó chịu, âm ỉ thường xuyên và tăng lên sau khi ăn. - Nóng rát vùng thượng vị: xuất hiện sau hoặc trong khi ăn, đặc biệt rõ sau ăn uống một số thứ như: bia, rượu, gia vị cay, chua hoặc ngọt.
- Buồn nôn và nôn, có thể nôn ngay sau ăn, nôn xong có cảm giác giảm đau. - Giảm cảm giác ngon miệng, chán ăn, cảm giác đắng miệng vào buổi sáng. - Rối loạn tiêu hóa: cảm giác đầy bụng, trướng hơi, đau quặn bụng, táo bón hay tiêu chảy [1], [2], [9].2 Toàn thân -Triệu chứng toàn thân ít thay đổi hoặc gầy sút ít. -Tính tình cáu gắt.
Kém chịu lạnh hay ra mồ hôi tay chân. Suy nhược thần kinh [2], [9].3 Khám -Lưỡi bẩn trắng hay màu vàng-trắng. Bụng mềm, sờ thượng vị đau khu trú. Nếu viêm xuất huyết sẽ thiếu máu ứng với tình trạng mất máu [9].4 Chẩn đoán viêm dạ dày Chẩn đoán viêm dạ dày cấp dựa vào lâm sàng và hình ảnh nội soi.
Chẩn đoán viêm dạ dày mạn cần có xác định của mô bệnh học [7], [12]. Chẩn đoán nhiễm Hp: các xét nghiệm chẩn đoán Hp gồm có 2 nhóm: xét nghiệm xâm lấm và xét nghiệm không xâm lấn [5], [6].1 Nhóm xét nghiệm xâm lấn tìm Hp Độ Độ đặc Xét nghiệm Nguyên tắc nhạy(%) hiệu(%) Gián tiếp: phát hiện men Xét nghiệm Urease Urease thay đổi màu chất nhanh dựa trên mẫu 80-95 95-100 chỉ thị pH vàng sang hồng sinh thiết. Giải phẫu bệnh. 80-90 >95 Gián tiếp: dựa vào hình ảnh.2 Nhóm xét nghiệm không xâm lấn tìm Hp Độ nhạy Độ đặc Xét nghiệm Nguyên tắc (%) hiệu (%) Huyết thanh chẩn Gián tiếp: tìm kháng thể >80 >90 đoán (IgG).
Gián tiếp: Phát hiện men Xét nghiệm hơi thở. Xét nghiệm tìm Gián tiếp: phát hiện men kháng nguyên trong >90 >90 Urease.5 Các công trình nghiên cứu về viêm dạ dày Cho đến hiện tại ở Việt Nam đã có khá nhiều nghiên cứu các vấn đề về viêm dạ dày.