Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khái niệm thời gian là một trong những phạm trù nhận thức nền tảng của con người, không chỉ giới hạn trong phạm vi nghiên cứu của triết học và vật lý học mà còn giữ vị trí trung tâm trong ngôn ngữ học. Ngôn ngữ, với chức năng phản ánh hiện thực khách quan và thông báo các sự tình của thế giới xung quanh, luôn mang đậm dấu ấn về thời gian. Mọi hoạt động, trạng thái và tính chất của sự vật, hiện tượng đều diễn tiến và biến đổi liên tục trong hệ quy chiếu không gian – thời gian nhất định.
Tại Việt Nam, việc tìm hiểu và khám phá các cách thức biểu hiện thời gian trong ngôn ngữ đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm nhưng nhìn chung số lượng công trình còn khiêm tốn và chưa bao quát trọn vẹn toàn bộ hệ thống. Cùng với sự phát triển của chuyên ngành ngữ dụng học, xu hướng nghiên cứu phạm trù thời gian trong mối liên hệ giữa cấu trúc ngôn ngữ và ngữ cảnh giao tiếp ngày càng được chú trọng hơn. Xuất phát từ bối cảnh học thuật đó, tác giả Nguyễn Thị Mai thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Ngữ văn tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (năm 1996) dưới sự hướng dẫn của PTS. Nguyễn Thị Hai, nhằm hệ thống hóa các phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Việt.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể như sau:
- Nắm vững hệ thống quan niệm lý thuyết và các phương thức diễn đạt thời gian trong tiếng Việt, đặc biệt là miền thời gian quá khứ, nhằm trang bị cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu và giảng dạy.
- Khảo sát, miêu tả và phân loại chi tiết các phương tiện từ vựng, phó từ, ngữ vị từ và cấu trúc cú pháp tham gia biểu hiện ý nghĩa thời gian.
- Đóng góp tư liệu và luận cứ khoa học vào việc nghiên cứu ngữ nghĩa thời gian trong tiếng Việt, đồng thời cung cấp cơ sở tham khảo cho việc cải tiến nội dung sách giáo khoa phổ thông và biên soạn giáo trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống các phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Việt trên bình diện từ vựng, ngữ pháp và ngữ dụng. Trọng tâm nghiên cứu được giới hạn vào các phương thức thể hiện miền thời gian quá khứ.
- Phạm vi tư liệu: Các phát ngôn trong giao tiếp khẩu ngữ đời thường và ngữ liệu trích dẫn từ các tác phẩm văn học tiêu biểu của Việt Nam (tác phẩm của các tác giả Nam Cao, Nguyễn Du, Ngô Tất Tố, Anh Đức, Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh và kho tàng ca dao, tục ngữ).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận kế thừa và vận dụng hệ thống khái niệm, mô hình lý thuyết từ các nhà ngôn ngữ học uy tín trong nước và quốc tế:
- Khái niệm phạm trù và phạm trù ngữ pháp: Dựa trên công trình Đại cương ngôn ngữ học của GS. Đỗ Hữu Châu, phạm trù ngữ pháp được xác định là sự thống nhất hữu cơ giữa ý nghĩa ngữ pháp và hình thức biểu hiện mang tính hệ thống của một loại đơn vị ngôn ngữ.
- Mô hình hóa thời gian: Khái niệm thời gian được biểu diễn trên trục phương ngang với các khái niệm thành phần gồm thời đoạn (khoảng thời gian có giới hạn hai đầu), thời điểm (mốc xác định trên trục thời gian, mở đầu hoặc kết thúc một thời đoạn), và tiêu điểm / thời điểm nói (mốc chuẩn để phân chia ba miền thời gian: quá khứ, hiện tại, tương lai).
- Phạm trù thời và thể: Tiếp thu quan điểm của GS. Cao Xuân Hạo và GS. Đỗ Hữu Châu về mối quan hệ giữa hoạt động do vị từ biểu thị so với thời điểm nói (thì/thời), cùng sự phân biệt giữa tiến trình có giới hạn (thể hoàn thành) và tiến trình không có giới hạn (thể chưa hoàn thành).
- Lý thuyết vị từ và cấu trúc diễn tố: Vận dụng tiêu chí phân loại vị từ hành động của Simon Dik và nghiên cứu của Nguyễn Thị Quy về vị từ
[+động] (biến cố, hành động, quá trình) và vị từ [-động] (trạng thái, tư thế, tình trạng); kết hợp phân tích số lượng diễn tố (một, hai, ba diễn tố) và các vai nghĩa (tác tử, đối tử, đích).
- Lý thuyết hành vi ngôn ngữ: Khảo sát nhóm vị từ ngữ vi (performative verbs) trong sự chi phối của cấu trúc phát ngôn và vai giao tiếp đối với việc định vị thời gian.
Phương pháp nghiên cứu được tác giả triển khai kết hợp giữa các phương pháp chung và phương pháp chuyên ngành ngôn ngữ học:
- Phương pháp chung: Quan sát, tham khảo tài liệu học thuật; phân tích, tổng hợp ngữ liệu; miêu tả ngôn ngữ học và lập mô hình hóa các trục thời gian.
- Phương pháp chuyên ngành:
- Phương pháp thống kê ngôn ngữ học: Thống kê, xác định danh mục các lớp từ vựng (danh từ, vị từ, phó từ, hư từ) và mô hình cú pháp chuyên biệt biểu đạt ý nghĩa thời gian quá khứ trong lời nói và văn bản viết.
- Phương pháp ngữ nghĩa học và ngữ pháp học hiện đại (phương pháp chủ đạo): Vận dụng đồng bộ trên ba bình diện: logic – ngữ nghĩa, ngữ nghĩa – ngữ dụng, và ngữ pháp – cú pháp để làm sáng tỏ cơ chế biểu hiện thời gian.
- Phương pháp so sánh đối chiếu: So sánh loại hình ngôn ngữ đơn lập tiếng Việt với các ngôn ngữ tổng hợp tính biến hình (tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp) để làm rõ tính chất của động từ tiếng Việt khi biểu thị ý nghĩa thời gian.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Những khái niệm cơ bản và vấn đề "phạm trù thời gian" trong tiếng Việt
Chương I tập trung làm rõ hệ thống thuật ngữ lý thuyết và phân tích cuộc tranh luận học thuật xoay quanh phạm trù thời gian trong ngữ pháp tiếng Việt.
Tác giả định nghĩa và phân biệt các khái niệm cốt lõi: phạm trù triết học, phạm trù ngữ pháp, trục thời gian, thời đoạn, thời điểm, tiêu điểm mốc. Trên cơ sở đối chiếu với thời điểm nói, tác giả phân lập 5 tiểu loại cụ thể của thời gian quá khứ:
- Quá khứ xa: Điểm khởi đầu và kết thúc của hành động đều nằm trước và cách rất xa thời điểm nói.
- Quá khứ kéo dài đến hiện tại: Khởi điểm nằm trước thời điểm nói nhưng kết thúc điểm nằm sau thời điểm nói.
- Quá khứ tiếp diễn: Hành động diễn ra liên tục tại một thời điểm hoặc thời đoạn trong quá khứ.
- Quá khứ gần: Khởi điểm và kết thúc điểm đều nằm trước thời điểm nói nhưng khoảng cách thời gian là không xa.
- Quá khứ hoàn thành: Điểm kết thúc của hành động bắt buộc phải diễn ra trước thời điểm nói.
Về vấn đề "Phạm trù ngữ pháp thời gian" trong tiếng Việt, chương này tổng thuật hai luồng quan điểm đối lập:
- Quan điểm khẳng định: Các tác giả như Nguyễn Văn Thành, Trịnh Xuân Thành, Nguyễn Kim Thản, Đào Thản, Nguyễn Minh Thuyết cho rằng tiếng Việt tồn tại phạm trù ngữ pháp thời gian nhờ hệ thống hư từ thời thể (
đã, đang, sẽ) kết hợp thường trực với động từ.
- Quan điểm phủ định: Bùi Đức Tịnh và Đỗ Hữu Châu lập luận rằng tiếng Việt thuộc loại hình đơn lập, động từ không biến đổi hình thái để biểu hiện thời gian như các ngôn ngữ biến hình Ấn - Âu.
Qua việc đối chiếu hình thức động từ tiếng Việt với tiếng Anh (go - went - will go), tiếng Nga và tiếng Pháp, tác giả chứng minh rằng động từ tiếng Việt (như học, đi, viết) hoàn toàn không thay đổi hình thức ngữ âm / chữ viết khi biểu thị các miền thời gian khác nhau. Sự thống nhất giữa ý nghĩa ngữ pháp và biến đổi hình thái không tồn tại ở cấp độ từ loại động từ; do đó, tiếng Việt không có phạm trù ngữ pháp thời gian theo cách hiểu của các ngôn ngữ biến hình tổng hợp tính.
Khảo sát chuyên sâu về ba từ đã, đang, sẽ mang lại các kết luận:
- Từ
đã khi đi với vị từ [+động] biểu thị quá khứ hoàn thành, nhưng khi đi với vị từ [-động] hoặc đứng trong câu có trạng ngữ chỉ thời gian thì đã có thể biểu đạt cả thời hiện tại hoặc tương lai nhằm nhấn mạnh ý nghĩa kết quả.
- Từ
đang nhấn mạnh tính hiện thực, diễn tiến của sự tình trong quá khứ, hiện tại, hoặc tương lai (khi có trạng ngữ tương lai đi kèm).
- Từ
sẽ không chỉ biểu đạt thời tương lai khái quát hay ý phỏng đoán mà còn xuất hiện trong văn cảnh hồi tưởng, trần thuật lịch sử để kể lại sự kiện đã qua.
Chương II: Các cách thức thể hiện thời gian quá khứ
Chương II là phần trọng tâm của khóa luận, khảo sát chi tiết hai phương thức chính: phương thức từ vựng – ngữ nghĩa và phương thức cấu trúc câu, đoạn văn.
1. Phương thức từ vựng – ngữ nghĩa:
- Phương thức danh từ và danh ngữ:
- Nhóm danh từ thời gian không xác định:
khi, lúc, hồi, dạo, thuở, thời, độ, đời, hạn, kỳ, chập, ban, buổi, chốc, lát, dịp, cữ, kiếp...
- Nhóm danh từ thời gian xác định:
giây, phút, khắc, giờ, tiếng, hôm, ngày, đêm, tuần, tháng, quý, mùa, năm, thập kỷ, thế kỷ...
- Nhóm danh từ chuyên biệt chỉ thời quá khứ:
hồi, dạo, thuở, thời.
- Các mô hình danh ngữ chỉ quá khứ:
[Danh từ thời gian + ấy / đấy / nọ], [Danh từ thời gian + qua] (hôm qua, tuần qua, năm qua), tổ hợp định hướng với từ, đến, và tổ hợp phương vị [Danh từ thời gian + trước], [trên / trước + số từ + Danh từ thời gian].
- Phương thức vị từ (động từ, tính từ): Phân loại vị từ theo đặc tính thời gian nội tại gồm:
- Vị từ biến cố thời điểm (
bật, nổ, rơi, sập, đứt, rùng mình, gạt tay...).
- Vị từ thời đoạn ngắn (
băm, khép, cười, liếc mắt, cất cánh...).
- Vị từ thời đoạn dài (
thái bình, thủng thẳng, khoan thai, nghiền ngẫm...).
- Vị từ phi thời gian (
bất diệt, bất tử, vĩnh cửu, trường tồn...).
- Vị từ không mở đầu nhưng có kết thúc (
thôi, dừng lại, ngừng, chết, hết...).
- Vị từ có mở đầu không có kết thúc (
lớn, già, trưởng thành, cũ, hiểu, biết...).
- Vị từ mang tính kết quả (
kết án, khen thưởng, hoàn thành, kết thúc...).
- Vị từ chỉ hành động/ý định quá khứ (
dám, định, dự định, dự tính, toan, suýt).
- Phương thức phó từ, hư từ: Khảo sát ý nghĩa, vị trí và khả năng kết hợp của các phó từ:
sắp, còn (hãy còn), mãi, hoài, vừa, mới, rồi, xong, từng, đã từng.
| Phó từ chỉ thời gian |
Vị trí so với vị từ |
Miền thời gian chính biểu thị |
Khả năng kết hợp và sắc thái ý nghĩa |
sắp / sắp sửa |
Đứng trước vị từ |
Tương lai gần; tương lai trong quá khứ |
Khẳng định việc sắp xảy ra; không đi với vị từ phi thời gian hoặc thời đoạn dài |
còn / hãy còn |
Đứng trước vị từ |
Quá khứ tiếp diễn; hiện tại |
Nhấn mạnh tính liên tục của hành động / trạng thái |
mãi / hoài |
Đứng sau vị từ |
Quá khứ / Hiện tại kéo dài |
Biểu thị sự tiếp diễn không dứt; hoài mang sắc thái khẩu ngữ |
vừa / mới |
Đứng trước vị từ |
Quá khứ gần |
Diễn tả hành động hoàn thành cách tiêu điểm hoặc mốc sự kiện không xa |
rồi |
Đứng sau vị từ |
Quá khứ hoàn thành |
Xác định sự tình đã chấm dứt; kết hợp được với danh từ thời gian (mấy hôm rồi) |
xong |
Đứng sau vị từ |
Quá khứ hoàn thành |
Nhấn mạnh điểm kết thúc của hành động; không kết hợp trực tiếp với danh từ thời gian |
từng / đã từng |
Đứng trước vị từ |
Quá khứ xa / trải nghiệm |
Biểu thị kinh nghiệm đã qua của chủ thể; không đi với vị từ có mở đầu không kết thúc |
2. Phương thức cấu trúc câu và cấu trúc đoạn:
- Cấu trúc câu đơn:
- Khung thời gian do trạng ngữ thời gian đứng đầu, giữa hoặc cuối câu quy định.
- Phân tích cấu trúc diễn tố: Vị từ một diễn tố cần sự hỗ trợ của phó từ (
cũng, cùng) để định hình quá khứ; vị từ hai diễn tố tạo tác (xây, làm, đóng, vẽ) và biến đổi trạng thái (rửa, đốt, phá) khi hoán đổi vai từ đối tử sang tác tử / chủ ngữ bị động (Cái bàn này được đóng xong, Bức tranh này do tôi vẽ) sẽ tự động xác lập ý nghĩa thời gian quá khứ hoàn thành mà không bắt buộc phải có phó từ đã.
- Vị từ ba diễn tố (cho, tặng, gửi, đặt, để) khi chuyển đối thể lên làm tác tử cũng xác lập ý nghĩa thời gian quá khứ rõ nét.
- Cấu trúc câu ghép: Ý nghĩa thời gian được quy định bởi các cặp quan hệ từ và trật tự mệnh đề:
- Cặp điều kiện – giả định
Nếu... thì, Giá mà... thì (xác lập tiền giả định về sự việc đã hoặc chưa xảy ra).
- Cặp nguyên nhân – kết quả
Do / Bởi / Vì... nên / mà (nguyên nhân thường nằm ở quá khứ).
- Cặp tương phản
Tuy... nhưng, Dù / Mặc dù... nhưng (đòi hỏi ít nhất một vế mang sự tình hiện thực trong quá khứ).
- Cặp tăng tiến
Không những... mà còn và tương hỗ Càng... càng, Bao nhiêu... bấy nhiêu (biểu thị quá khứ tiếp diễn hoặc đúc kết kinh nghiệm).
- Vị từ ngữ vi: Các vị từ như
chúc, khuyên, cấm, hứa, phê bình khi đi với cấu trúc ngôi thứ nhất – ngôi thứ hai ở câu đơn biểu thị hành động tại thời điểm nói (hiện tại); khi chuyển đổi ngôi thứ ba hoặc đặt trong câu ghép kể lại thì mang ý nghĩa thời gian quá khứ.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả nghiên cứu cụ thể dựa trên việc tổng hợp và phân tích ngữ liệu:
- Xác lập bức tranh toàn diện về các phương thức biểu hiện thời gian trong tiếng Việt, chứng minh tính phong phú và đa tầng của các phương tiện từ vựng – ngữ pháp thay thế cho hình thức biến đổi từ loại.
- Phân loại chi tiết và có hệ thống:
- Bảng danh mục danh từ thời gian xác định và không xác định, cùng các mô hình danh ngữ chuyên biệt chỉ thời quá khứ.
- 8 nhóm tiểu loại vị từ mang ý nghĩa thời gian tự thân dựa trên tiêu chí giới hạn điểm đầu, điểm cuối và tính chất quá trình.
- Ma trận đặc tính kết hợp và ngữ nghĩa của hệ thống phó từ thời thể.
- Chỉ ra quy luật cú pháp đặc thù: Sự hoán chuyển vai nghĩa giữa đối tử và tác tử (cấu trúc bị động hóa, kết quả hóa) có khả năng định vị thời gian quá khứ một cách độc lập mà không phụ thuộc hoàn toàn vào hư từ.
- Làm rõ tính đa nghĩa và chức năng tình thái của nhóm từ
đã, đang, sẽ, khắc phục quan niệm giản đơn coi đã là quá khứ thuần túy, đang là hiện tại và sẽ là tương lai.
Đóng góp về mặt ứng dụng và học thuật:
- Cung cấp luận cứ ngôn ngữ học hỗ trợ việc biên soạn, chỉnh lý kiến thức ngữ pháp về thời – thể và cấu trúc câu trong sách giáo khoa Ngữ văn bậc phổ thông.
- Làm tài liệu tham khảo cho việc thiết kế bài giảng, giáo trình giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, giúp người học nắm bắt cơ chế biểu hiện thời gian trong một ngôn ngữ không biến hình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra các hạn chế và đề xuất hướng mở rộng nghiên cứu:
- Hạn chế:
- Do giới hạn về nguồn tài liệu, thời gian và năng lực của một sinh viên bậc đại học, đề tài chưa thể bao quát toàn bộ ba miền thời gian mà chỉ tập trung khảo sát sâu miền thời gian quá khứ.
- Danh mục ngữ liệu khảo sát tuy đa dạng nhưng chưa thể bao quát hết toàn bộ vốn từ vựng và các biến thể khẩu ngữ phong phú trong đời sống thực tế.
- Một số bảng phân loại từ vựng và cấu trúc cú pháp mới dừng ở mức độ miêu tả, thống kê bước đầu, chưa đi sâu vào việc xây dựng mô hình hình thức hóa hoàn chỉnh.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các phương thức biểu hiện thời gian hiện tại và tương lai, hướng tới mô tả hoàn chỉnh bức tranh thời – thể trong tiếng Việt.
- Nghiên cứu sâu hơn về vai trò của ngữ cảnh, cấu trúc văn bản và ngữ dụng học đối với việc xác định ý nghĩa thời gian ở các cấp độ giao tiếp phức hợp.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Sinh viên và học viên ngành Ngữ văn, Ngôn ngữ học: Tham khảo phương pháp tiếp cận ngữ pháp chức năng, cách thức xử lý ngữ liệu và kỹ thuật phân tích vai nghĩa diễn tố kết hợp với bình diện ngữ nghĩa – ngữ dụng.
- Giáo viên phổ thông và giảng viên tiếng Việt: Sử dụng các bảng phân loại vị từ, phó từ và cấu trúc câu để giải thích trực quan cơ chế biểu đạt thời gian cho học sinh, sinh viên.
- Nhà biên soạn giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài: Tham khảo các phân tích đối chiếu ngôn ngữ đơn lập và ngôn ngữ biến hình, đặc biệt là phần làm rõ cơ chế biểu thị thời gian thông qua trật tự từ, trạng từ và vai nghĩa thay vì biến hình động từ.
- Phần nội dung có giá trị tham khảo cao nhất: Mục phân tích khả năng kết hợp đa dạng của
đã, đang, sẽ (Chương I) và phần phân tích sự tương tác giữa cấu trúc diễn tố của câu đơn với ý nghĩa thời gian quá khứ (Chương II).
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận kết luận như thế nào về vấn đề "phạm trù ngữ pháp thời gian" trong tiếng Việt?
Tác giả kết luận tiếng Việt không có phạm trù ngữ pháp thời gian theo cách hiểu của các ngôn ngữ tổng hợp tính biến hình (như tiếng Anh, Nga, Pháp). Bản chất tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, động từ không biến đổi hình thức ngữ pháp khi biểu hiện các miền thời gian khác nhau; thay vào đó, tiếng Việt biểu đạt thời gian thông qua các phương tiện từ vựng, phó từ, khung trạng ngữ, cấu trúc câu và trật tự ngữ cảnh.
2. Theo khảo sát trong khóa luận, từ "đã" có luôn luôn biểu thị thời gian quá khứ không?
Không. Từ đã không chỉ biểu đạt thời quá khứ. Khi kết hợp với vị từ [-động] hoặc đặt trong câu có trạng ngữ thời gian hiện tại/tương lai (ví dụ: Bây giờ Nhung đã lớn vọt lên, Ngày mai cả làng này đã biết), từ đã biểu thị ý nghĩa thời gian hiện tại hoặc tương lai với chức năng tình thái là nhấn mạnh tính kết quả của hành động hoặc trạng thái.
3. Sự chuyển đổi giữa "đối tử" và "tác tử" trong câu đơn tạo ra ý nghĩa thời gian quá khứ như thế nào?
Đối với các vị từ tạo tác (đóng, xây, vẽ) hoặc vị từ biến đổi trạng thái (rửa, đốt), khi đối tượng chịu tác động (đối tử) được đưa lên làm chủ ngữ (tác tử / bị thể) như trong câu Cái bàn này được đóng xong hoặc Mấy cái chén này được rửa rất sạch, trạng thái hiện hữu của sự vật tự nó khẳng định hành động tạo tác đã hoàn tất trong quá khứ mà không cần phụ thuộc vào phó từ đã.
4. Những danh từ nào được xác định là chuyên biệt biểu thị thời quá khứ?
Dựa trên việc phân chia hai nhóm danh từ thời gian xác định và không xác định, tác giả xác lập được nhóm 4 danh từ chuyên biệt biểu thị thời quá khứ gồm: hồi, dạo, thuở, thời. Các danh từ này kết hợp với từ chỉ định (ấy, nọ, này, nay) để biểu thị quá khứ hoàn thành hoặc quá khứ tiếp diễn.
5. Điểm khác biệt cơ bản giữa hai phó từ hoàn thành "rồi" và "xong" là gì?
Cả hai từ đều đứng sau vị từ để biểu thị sự kết thúc của hành động trong quá khứ. Tuy nhiên, từ rồi có khả năng kết hợp trực tiếp với danh từ thời gian để tạo tổ hợp chỉ quá khứ (như mấy hôm rồi, tháng rồi), trong khi từ xong hoàn toàn không kết hợp được với danh từ thời gian (không có tháng xong, năm xong) mà chỉ thuần túy nhấn mạnh ý nghĩa hoàn thành của vị từ đứng trước nó.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mai là công trình nghiên cứu ngôn ngữ học miêu tả và chức năng, giải quyết có hệ thống vấn đề biểu hiện thời gian quá khứ trong tiếng Việt. Bằng việc kết hợp chặt chẽ giữa cơ sở lý luận ngữ nghĩa – ngữ pháp hiện đại với ngữ liệu thực tế, tác giả đã chứng minh thuyết phục rằng tiếng Việt biểu đạt thời gian thông qua mạng lưới phối hợp linh hoạt giữa từ vựng, phó từ và cấu trúc cú pháp thay vì biến hình động từ. Công trình mang lại những đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt cũng như hoạt động giảng dạy ngôn ngữ trong nhà trường.