ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng có hai chức nang chính phục vụ lợi ích con người là thoả mãn như cấu lâm sản cho xã hội và phòng hộ môi trường sinh thái. Những năm gin day, ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát uiển khác, rùng tự nhiên đang bị thu hẹp một cách nhanh chóng. Tài liệu mới nhất của đại hội Lâm nghiệp tai Thổ Nhĩ Kỳ tháng 10 năm 1997 cho biết FAO đã thống kê được sự suy giảm diện tích rừng trong 5 năm qua là hết sức lớn so với các năm trước. Vu cháy rừng khủng khiếp ở Indonexia là một vi dụ điển hình về sự tổn thất tài nguyên rừng của các nước Đông Nam A trong năm 1998.
Trong giai đoạn. 1990- 1995, khi châu Âu và Bắc Mỹ trồng được , 5 triệu hecta rừng thì các ‘chau lục khác bị mất 64,9 triệu hecta rig, (31). Mất rừng đã dẫn đến những, thảm hoạ sinh thai như: lỗ thing tÄđ§:ôzôn, hiệu ứng nhà kính, hiện tượng Elnino v.han bán, lũ lụt, xói mòn đất đã xây ra ở nhiễu nơi trên toàn cầu, Tam cho chất lượng cuộc sống của con người bị giảm sút. Để đáp ứng nhu cầu lâm ân và bảo vệ môi trường sinh thai chỉ còn một con đường lựa chọn là : bảo vệ rừng tự ahi n và đầy tiạnh tốc độ trồng rừng.
Dự án trồng mới 5 triệu hecta rừng giai đoạn 1998 - 2010 theo nghị quyết ngày 05/12/1997 của kỳ họp thứ hai, quốc hội khoá X thực sự là một quyết sách lớn, có ý nghĩa chiến lược quan trọng. Trong đó việc cung cấp giống cho. các chương trìnÌ) (ad sừng đang được đặt ra một cách khẩn trương. Vì vậy vấn để cơ cấy c1) 5/Óg vẫn sẽ còn đòi hỏi có sự đầu tư nghiên cứu thực nghiệm một cách nghiêm túc mới có thể có định hướng rõ ring, cụ thể cho từng loài cay, cho từng ving trồng bởi vì sin xuất Nông - Lâm nghiệp thực chất là quá trình gi quyết mâu (huẫn giữa cây trồng và môi trường sống Điều n tự nhiên, khí hậu có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và năng suất ring trồng, đặc biệt là rừng trồng kinh tế.
Cây thích nghỉ ở vùng cao (Po mu, ‘Thong ba lá,.) khó có thể đưa vé trồng tập trung ở vùng thấp và ngược lại Nói một cách khác, trong một giai đoạn nhất định, ở một nơi nào đó. cây sinh trưởng tốt nhất chính là chúng đang được sống trong môi trường thai thích hợp. Hoàn cảnh đã đáp ứng được yêu cầu sinh thái của loài cả có ảnh hưởng tốt tới sinh trưởng và phát triển của loài cây. Con người tìm hiểu đặc tính sinh thái của loài cây để gây trồng, chăm sóc, nuôi dưỡng và sử dụng chúng đúng lúc, đúng chỗ đồng thời lợi dụng các đặc tính ấy để cải tạo tự nhiên.
Khi chọn loài cây trồng, bên cạnh mục tiêu kinh tế thì nguyên ti Đất rào, khí liệu nào - cây dy" ay "Tuy nơi mà tim giống, trỳ giding mà tìm nơi" vẫn là một trong những cơ sở khoa học của công tác giống trong sản xuất Nong - Lam nghiệp. Không thể có năng Sũất rừng trồng cao từ vật liệu di truyền không lương xứng với hoàn cảnh của nd. Cho nên, trong cuộc cách mạng sinh học, công tác giống được coi lễ hột mũi nhọn đảm bảo trồng rùng, thành công và hiệu quả. Khẳng định val trồ của công tác giống, năm 1993 Bộ Lâm nghiệp (ci) đã có quyết định: ban hành : Quy phạm kỹ thuật xây dựng từng giống, vườn giống (QPN 15-93) và quy phạm kỹ thuật xây dựng rừng, giống chuyển hoá (QPN 16:93), trong đó quy định rõ các tiêu chuẩn chọn lọc xuất xứ và cây giống.
Một chương trình cải thiện giống thường bao gồm các bước : khảo nghiệm loài, khảo nghiệm xuất xứ, chọn lọc cây trội để xây dựng vườn giống. rừng giếng nhằm cung cấp vật iệu giống cho trồng rừng quy mô lớn. Khảo nghiệm xuất xử là bước tiếp theo khảo nghiệm loài và rất quan trọng. Khi trồng cayở lập địa phi hợp, rong vùng phân bé tự nhiên ia loài cây thường dễ (b¿8h cong, đưa xa vùng phân bố của nó không phi nào cũng thành công.
Ngay trong cùng một loài cây có phân bố rộng, nếu trồng không đúng lập địa cũng không đạt được năng suất và chất lượng sản phẩm như mong muốn, đặc biệt là cây lấy quả. Nhiễu nghiên cứu cho thấy : sự sai khác vé sinh trưởng thể tích giữa các xuất xứ có thể từ 2 - 3 lần. Vì vậy khi nhập giống vào trồng ở một vùng mới, khảo nghiệm xuất xứ là một việc làm góp phần dim bảo cho việc dẫn giống thành công, tăng năng suất rừng trồng. và hạn chế những yếu tố bất lợi do sau bệnh hay thời tiết gây ra Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới nên hệ sinh thái rừng tự nhiên có tổ thành loài cây rất phong phú, với nhiều lâm đặc sin quý giá.
Những loài cay có giá trị nhiều mat được mang tên cây đa mục đích (Multipurpose) chính là những loài cây bản địa như : Quế, Hồi, Thông nhựa, Trầm. Trong công, tác cải thiện giống ở nước ta, những nghiên cứu về khảo nghiệm xuất xứ mới chỉ được tiến hành ở một số loài cây ngoại lai như : Keo (Keo tai tượng, Keo 1 liêm, Keo lá trầm) ; Bach din (Bach din Camal, Bach đàn Urô, Bach dan ‘Teré), Thông (Thông Caribê, Thông Ba lá .) mà chưa dé cập nhiều đến các loài cay bản địa. Mặc di Trim trắng là loài cây có phân bố rộng trong nhiều vùng sinh thái trên toàn quốc, nhưng với một đất nước trải dài rên nhiều độ vĩ như nước ta thì khí hậu. ở ba miễn Bắc - Trung - Nán,cũng có sự khác biệt đáng kể.
Những kết quả trồng thử nghiệm Tram trắng ở nhiều nơi như Lạc Thuỷ (Hoà Bình), Hữu Long (Lang Sơn), KonHàNừng ỆTay.cũng chưa đưa ra được một kết luận. cụ thể về khả nâng sít4rưởng của loài này [2]. Ngoài ra còn một vấn để cần chủ ý đối với Tr6m (rắng Tà trồng để cung cấp gỗ bóc, vì vậy khi đưa Trầm trắng từ sinh cấo{ŸÄ0s tự nhiên hỗn loài, có độ tàn che lúc nhỏ vẻ trồng với phương thức thuận Foa!, mat độ tập trung thường hay bị sâu đục thân phá hoại. Đây là một tổn tại đồi hỏi chúng ta phải mu tiên giải quyết những vấn để có liên quan là: Ving mồng ? Phương thức trắng ? Giống chọn lọc (xuất xứ) ? Với mong muốn gép phần tìm hướng giải quyết cho một trong những vấn dé tên, bước đầu đánh giá mô hình nghiên cứu (hực nghiệm kết hợp với làm rừng 1g của xí nghiệp Giống Lâm nghiệp Phú Thọ.
Chúng tôi tiến hành để tài "Bước đấu khảo nghiệm một số xuất xứ Trém trắng (Canarium album Raeusch) tại xí nghiệp Giống Lâm nghiệp Phú Thọ" hy vọng sẽ đưa ra được một số dẫn liệu cụ thể, góp phần làm cơ sở ban đầu cho việc lựa chọn xuất xứ ‘Trém trắng phù hợp với nơi khảo nghiệm và những nơi có điểu kiện tự nhiên tương tự, nhằm đưa hiệu quả trồng rừng lên cao, đáp ứng yêu cẩu sinh thái va kinh doanh của dự én trồng rừng. CHƯƠNGL ‘TONG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CÚU 1. Lịch sử vấn dé nghiên cứu. Trên thế giới.
Những thí nghiệm khảo nghiệm | fa xuất xứ đầu tiên đã được tiến hành ngay từ những năm đầu của thế kỷ XVII, ngày càng được các quốc gia tiến hành với quy mô khác nhau và thu được rất nhiễu thành tựu © châu Âu : Các kt nghiệm xuất xứ:đẩu tiên đã được Vilmorin thực hiện ở Pháp vào năm 1823. Tiếp theo đó, khảo nghiệm xuất xứ đã được ‘Turskii tiến hành ở Nga từ năm 1877 - 1891, Năm 1938 khảo nghiệm Van sam đã được tiến hành ở một loạt các nước Bắc Âu. [14] © châu Phi : Khảo nghiệm loài và xuất xứ cho Bach đàn Urophylla đã được tiến hành tại các nước như Công Gô, Camorun, Madagascar và Tân Caleđôni. Khảo nghiệm được Đố trí tiên các vùng có độ cao khác nhau, hoặc vùng ẩm và vùng khô để đẩnh giá khả năng thích ứng và sức sinh trưởng của loài và các xuất xứ, 'Ở Nam Mỹ : Achentina khảo nghiệm xuất xứ Bach đàn Urophylla trên.
vùng đất chua và ấu -Sau 5 năm tuổi đã lựa chọn được xuất xứ Dili, Timor có. sinh tưởng chiếu exo {st thất Ở châu A : Năm 1981 Indonexia đã khảo nghiệm 21 xuất xứ Bạch đàn E.urophylla & Managama và Matio. Sau 28 tháng tuổi các xuất xứ có sinh trưởng chiều cao nhanh nhất là các xuất xứ ở Flores (độ cao 560 m và 500 m), ‘Alor (650 m) và. [40] Ở Trung Quốc năm 1985 đã thiết lập khảo nghiệm cho 16 xuất xứ Bach dan E, urophytia ở Đông Môn, Quảng Tây.
Sau 4 năm cho thấy 2 xuất xứ Z. urophylla tốt nhất là Ulanu (Alor) và Mt Egon (Flores) có ty lệ sống 73,4% và 78,1%. Thể tích cây đứng đạt 79,1 m/ha và 74,4 mÌ/ha. Ở Thái Lan : Tại Huay Sompoi đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của Tếch và lựa chọn được 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là : = Xuất xứ Huay Sompoi (lọa độ địa lý 18°40" vĩ độ Bắc, 99°55! kinh độ Đông).
- Xuất xứ Phayao (tọa độ địa lý 19° 035ỐẾ đọ Bắc, 99°59°kinh độ Đông). ~> Sau năm 1975, chúng ta đã sigh hành khảo nghiệm loài và xuất xứ cho một số loài cây trồng từng chủ yếu, đến nay đã xác định được một số xuất xử có triển vọng của các loài cây chủ yếu như:. ~ - Cie loài Keo (Acacia) Các loài Keo vùng đổi là những loài được khảo nghiệm nhiều nhất ở các vùng sinh thái khác dllau. Sau 4- 6 năm khảo nghiệm tại Ba Vì (Hà Tây) và Mang Yang (Gia Lai) đã chọn được ba loài có triển vọng nhất là Keo lá liểm (A.crassiarpa) výf@fệ`xuất xứ Gubam Village (Papua New Guinea - PNG), Deri deti (PNG), Keo tai tượng (A.mangium) với các xuất xứ Pongaki (PNG), Iron Range (Queensland- Qld) và Keo lá trầm (A.auriculiformis) với các xuất xứ Coen River (Qld), Manton River (NottheniTertitoria - NT).
Đây là những. loài và xuất xứ đang được dùng chủ yếu trong các chương trình trồng rừng ở nude (a. Các loài Keo chịu hạn được khảo nghiệm trên lập địa đất cát ở Tuy Phong (Bình Thuận), đã chọn được một số loài có tỷ lệ sống cao nhất và sinh trường nhanh nhất là A.tumida, Các loài Keo vùng cao là những loài có khả năng chịu rết cao, nhưng lại chịu nóng và chịu hạn kém. Kết quả khảo nghiệm tại Đà Lạt (cao1600 m) và lựa chọn được một loài là Keo den (A.micarnsii) vọng nhất là Bodala (New South wales „ NSW), Berima (NSW) và Blackhill (victoria).
[16] - Các loài Phi lao : Phi lao(Casuarina equisetifolia) là loài cây chit yếu được trồng ở vùng, cát ven biển.