Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Khảo nghiệm một số dòng Keo lai (Acacia hybrid) tại huyện Đoan Hùng Tỉnh Phú Thọ" của sinh viên Đinh Xuân Đức (ngành Quản lí tài nguyên rừng, Khoa Lâm nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2015) tập trung vào bài toán nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng sản xuất tại vùng trung du miền núi Bắc Bộ.

Huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ có tổng diện tích đất tự nhiên là 30.244,47 ha (302,4 km²), trong đó diện tích đất lâm nghiệp chiếm 13.174,3 ha (tương đương 53,23% diện tích tự nhiên, với hơn 90% là rừng sản xuất). Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, địa hình đồi núi thấp, nằm gần các nhà máy chế biến giấy lớn như Bãi Bằng và An Hòa, Đoan Hùng có tiềm năng lớn về phát triển vùng nguyên liệu gỗ. Trước đây, cơ cấu cây trồng lâm nghiệp tại địa phương chủ yếu là các loài bạch đàn (Bạch đàn trắng, Bạch đàn Úc, Bạch đàn Urô). Tuy nhiên, sau 2 đến 3 chu kỳ kinh doanh, đất trồng rừng bị thoái hóa rõ rệt, dẫn đến suy giảm năng suất.

Chính quyền và các đơn vị nghiên cứu đã vận động người dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang các loài keo. Dù vậy, việc trồng rừng bằng cây gieo từ hạt bộc lộ nhiều hạn chế: chu kỳ kinh doanh kéo dài ảnh hưởng tới dòng vốn của người dân nghèo; chất lượng hạt giống không đồng đều và xuất hiện hiện tượng phân ly các đặc tính ưu trội của cây bố mẹ. Năng suất bình quân của Keo tai tượng gieo hạt chỉ đạt 12 - 14 m³/ha/năm (sau 5 năm đạt 60 - 70 m³/ha; nếu chu kỳ kéo dài trên 10 năm có thể đạt 150 - 200 m³/ha nhưng người dân thường phải khai thác non do thiếu vốn đầu tư). Đánh giá sơ bộ của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ cho thấy lượng tăng trưởng rừng trồng sản xuất hàng năm toàn tỉnh chỉ đạt khoảng 16 - 18 m³/ha/năm, chưa đáp ứng đủ nhu cầu gỗ nguyên liệu tại chỗ. Việc tuyển chọn các dòng Keo lai vô tính có năng suất vượt trội, thích ứng tốt với điều kiện lập địa cụ thể tại Đoan Hùng là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể:

  1. Về lý luận: Nghiên cứu khảo nghiệm chọn được một số dòng Keo lai sinh trưởng tốt cho khu vực Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
  2. Về thực tiễn: Đề xuất được một số dòng Keo lai sinh trưởng tốt cho khu vực Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ nhằm cung cấp cơ sở phục vụ công tác phát triển rừng sản xuất.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu gồm:
    • 12 dòng Keo lai phục vụ khảo nghiệm dòng: BV10, BV16, BV32, BV33, BV71, BV73, BV75, KL2, KL20, AH7, TB1, TB11.
    • 8 dòng Keo lai trong mô hình trồng mở rộng: AH7, KL20, KL2, TB1, BV10, BV71, BV33, BV16.
    • 3 dòng Keo lai vi nhân giống (cây mô): BVM10, BVM16, BVM33.
    • 3 dòng Keo lai giâm hom tương ứng để so sánh: BV10, BV16, BV33.
    • Loài đối chứng: Keo tai tượng (KTT) gieo từ hạt.
    • 5 dòng Keo lai thí nghiệm kỹ thuật nhân giống giâm hom: AH7, TB1, TB11, KL2, KL20.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khu vực khảo nghiệm thực địa tại Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ, thuộc địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ. Thời gian thu thập số liệu đánh giá sinh trưởng cây rừng sau 13 tháng trồng thực địa (đo đếm vào tháng 4 năm 2015; thí nghiệm giâm hom thực hiện từ tháng 10 năm 2014).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở khoa học

Keo lai (Acacia hybrid) là giống lai tự nhiên giữa hai loài Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) và Keo tai tượng (Acacia mangium). Giống lai tự nhiên này được ghi nhận lần đầu tiên vào năm 1972 tại Sabah, Malaysia. Tại Việt Nam, Keo lai tự nhiên được phát hiện năm 1992 tại Ba Vì và vùng Đông Nam Bộ bởi các nhà khoa học Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam. Các nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự chỉ ra rằng Keo lai thế hệ F1 có ưu thế lai rõ rệt về tốc độ sinh trưởng (nhanh hơn Keo tai tượng 1,2 - 1,6 lần về chiều cao, 1,3 - 1,8 lần về đường kính và gấp 2 lần về thể tích thân cây ở giai đoạn 4,5 năm tuổi tại Ba Vì). Tuy nhiên, sang thế hệ F2 gieo từ hạt, cây bị phân ly di truyền và thoái hóa nghiêm trọng, sinh trưởng không đều và kém hơn cây mẹ. Do đó, việc gây trồng Keo lai bắt buộc phải áp dụng phương pháp nhân giống vô tính (giâm hom hoặc nuôi cấy mô tế bào) nhằm duy trì nguyên vẹn đặc tính di truyền ưu tú.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng các phương pháp lâm sinh thực nghiệm kết hợp điều tra nội nghiệp và ngoại nghiệp:

  1. Phương pháp nhân giống giâm hom:
  • Thí nghiệm thực hiện trên 5 dòng: AH7, TB1, TB11, KL2, KL20 với dung lượng 90 hom cho mỗi dòng vào tháng 10 năm 2014.
  • Lấy hom cành bánh tẻ, chồi dương từ vườn cây mẹ đầu dòng của Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ. Hom cắt dài 10 - 15 cm, ngâm khử trùng 15 - 20 phút, chấm chất kích thích ra rễ Indole-3-butyric acid (IBA) dạng bột nồng độ 0,75% (chế phẩm của Viện Nghiên cứu Giống và Công nghệ sinh học Lâm nghiệp) và cấy trực tiếp vào túi bầu.
  • Sử dụng vòm che phủ nilon và lưới đen cản quang, kết hợp hệ thống tưới phun sương giữ ẩm. Đánh giá tỷ lệ ra rễ, số lượng rễ, chiều dài rễ và phân loại chất lượng hom sau 3 tháng.
  1. Phương pháp bố trí thí nghiệm hiện trường:
  • Áp dụng Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 147 - 2006 do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành.
  • Thí nghiệm khảo nghiệm dòng: Bố trí theo khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) với 4 lần lặp lại trên diện tích 0,4 ha. Mỗi lần lặp bố trí đủ 16 công thức (12 dòng hom, 3 dòng mô và 1 công thức đối chứng Keo tai tượng), mỗi công thức 10 cây (tổng số 40 cây/dòng). Mật độ trồng 3,0 m × 2,0 m (1.666 cây/ha), kích thước hố đào 40 × 40 × 40 cm, bón lót 200 g phân NPK/hố.
  • Thí nghiệm mô hình trồng mở rộng: Bố trí tập trung thành đám cho 8 dòng triển vọng trên diện tích 1,6 ha, quy mô 330 cây/dòng, cự ly 3,0 m × 2,0 m, bón lót 200 g NPK/hố.
  1. Phương pháp thu thập và đo đếm chỉ tiêu lâm học:
  • Tỷ lệ sống (%): Kiểm kê toàn bộ số cây sống trên các ô tiêu chuẩn.
  • Đường kính gốc ($D_0$): Đo tại vị trí lóng thứ 5 của cây bằng thước kẹp kính độ chính xác 0,1 cm.
  • Chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$): Đo bằng thước Laser kết hợp sào đo cao chuyên dụng.
  • Đánh giá chất lượng thân cây: Cho điểm cảm quan theo thang điểm từ 1 đến 5 và phân 3 cấp chất lượng A (tốt), B (trung bình), C (xấu) theo phương pháp của Nguyễn Anh Dũng (2011).
  1. Phương pháp phân tích đất và xử lý số liệu:
  • Lấy mẫu đất tại 2 tầng phát sinh (0 - 20 cm và 30 - 50 cm) với 6 mẫu lặp lại cho mỗi tầng ở cả 2 khu vực thí nghiệm, phân tích các chỉ tiêu: pH_KCl, hàm lượng mùn hữu cơ tổng số, đạm tổng số ($N_{ts}$), lân dễ tiêu ($P_2O_{5,dt}$), kali dễ tiêu ($K_2O_{dt}$) và thành phần cơ giới đất.
  • Số liệu đo đếm sinh trưởng được tính toán các tham số thống kê cơ bản: giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số biến động ($S_{D_0}%$, $S_{H_{vn}}%$).
  • Kiểm định sai khác thống kê bằng phân tích phương sai một nhân tố (One-way ANOVA) với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ trên phần mềm SPSS và Microsoft Excel; so sánh bắt cặp phân hạng bằng tiêu chuẩn Duncan và Bonferroni.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu nguyên liệu gỗ thực tế tại Phú Thọ, phân tích thực trạng thoái hóa đất sau các chu kỳ trồng bạch đàn, sự hạn chế của giống keo gieo hạt và việc chưa có các nghiên cứu khảo nghiệm bài bản giống Keo lai vô tính tại địa bàn huyện Đoan Hùng. Tác giả xác định rõ mục tiêu lý luận, mục tiêu thực tiễn, cùng ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên rừng và phát triển lâm nghiệp bền vững.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương tổng hợp lịch sử nghiên cứu chọn tạo giống Keo lai trên thế giới (Malaysia, Australia, Papua New Guinea, Thái Lan) và tại Việt Nam. Văn bản nhấn mạnh các thành tựu của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam trong việc công nhận giống quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật (các dòng BV, KL, TB). Đồng thời, chương trình bày chi tiết điều kiện tự nhiên của huyện Đoan Hùng: địa hình đồi núi thấp và đồng bằng phù sa sông Chảy, sông Lô; nền địa chất đá phiến thạch mica, phiến thạch sét và gnai tạo đất feralit đỏ vàng tầng dày; khí hậu nhiệt đới gió mùa lượng mưa trung bình 1.878 mm/năm, nhiệt độ trung bình 23,1°C. Về kinh tế - xã hội, địa bàn có 107.754 nhân khẩu, lực lượng lao động nông lâm nghiệp chiếm 75,2%, có 143 cơ sở chế biến lâm sản nhưng công nghệ còn đơn sơ, chế biến thô là chủ yếu.

Phần 3: Đối tượng, phạm vi, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Tác giả thuyết minh chi tiết danh mục 12 dòng Keo lai khảo nghiệm, mô hình thử nghiệm mở rộng 8 dòng, các dòng cây mô đối chiếu cây hom, nguồn gốc vật liệu từ vườn giống đầu dòng của Trung tâm Khoa học Lâm nghiệp vùng Trung tâm Bắc Bộ. Quy trình xử lý hóa chất IBA 0,75%, quy cách đào hố, bón lót phân NPK, thiết kế sơ đồ bố trí ô thí nghiệm ngẫu nhiên 4 lần lặp theo Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 147 - 2006, thang phân cấp chất lượng thân cây và các công thức toán xác suất thống kê ứng dụng trong SPSS được quy định đồng bộ.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương tập trung phân tích toàn bộ số liệu thu thập từ các thí nghiệm nhân giống và khảo nghiệm hiện trường:

  1. Kết quả giâm hom 5 dòng Keo lai sau 3 tháng: Cả 5 dòng đều đạt tỷ lệ ra rễ cao trên 81%. Dòng AH7 dẫn đầu về tỷ lệ ra rễ đạt 96% (86/90 hom), trong khi dòng TB1 đạt 81% (73/90 hom). Về chất lượng bộ rễ, dòng KL20 và AH7 đạt số lượng rễ trung bình cao nhất (4,5 rễ/hom), chiều dài rễ trung bình của KL20 và TB11 đạt cực đại 35 mm. Dòng KL20 có tỷ lệ hom đạt chất lượng tốt cao nhất (95%).
Dòng Số hom thí nghiệm Số hom ra rễ Tỷ lệ ra rễ (%) Số rễ TB/hom Chiều dài rễ TB (mm) Hom loại tốt (%) Hom trung bình (%) Hom xấu (%)
AH7 90 86 96 4,5 34 90 9 1
KL20 90 83 92 4,5 35 95 4 1
KL2 90 81 90 4,4 33 90 7 3
TB11 90 79 88 3,8 35 90 8 2
TB1 90 73 81 3,8 31 90 6 4
  1. Hiện trạng khu vực khảo nghiệm và phân tích tính chất đất: Khu khảo nghiệm dòng có diện tích 0,4 ha nằm ở độ cao tuyệt đối 100 m; khu trồng mở rộng rộng 1,6 ha ở độ cao 120 m. Cả hai khu vực thuộc dạng đồi bát úp, đất feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét ($F_s$), tầng dày trên 100 cm, thực bì chủ yếu là cây tiên phong (Ba gạc, Đom đóm, Ba soi, Cỏ lào, Lau) cao 0,6 - 0,8 m. Kết quả phân tích 26 mẫu đất cho thấy đất chua, tầng mặt (0 - 20 cm) có hàm lượng mùn hữu cơ và đạm tổng số ở mức khá, các tầng sâu hơn đều suy giảm dinh dưỡng.
Khu vực thí nghiệm Tầng đất (cm) $pH_{KCl}$ Mùn hữu cơ (%) $N_{ts}$ (%) $P_2O_{5,dt}$ (mg/kg) $K_2O_{dt}$ (mg/kg) Cấp hạt 2,0-0,02 mm (%) Cấp hạt 0,02-0,002 mm (%) Cấp hạt <0,002 mm (%)
Khảo nghiệm dòng 0 - 20 3,57 4,16 0,190 32,73 20,31 46,94 18,37 34,69
30 - 50 3,79 1,42 0,078 7,18 8,45 41,00 14,24 44,76
Trồng mở rộng 0 - 20 3,53 3,47 0,179 21,79 29,36 38,71 12,26 49,03
30 - 50 3,73 2,30 0,101 11,29 6,02 30,61 26,53 42,86
  1. Kết quả khảo nghiệm 12 dòng Keo lai tại hiện trường sau 13 tháng: Tỷ lệ sống của các dòng Keo lai biến động từ 90,0% đến 100,0%, đều cao hơn đối chứng Keo tai tượng (85,0%). Dòng TB1 đạt tỷ lệ sống tuyệt đối 100,0%. Dòng BV75 đạt điểm chất lượng thân cây cao nhất (4,89 điểm), kế đến là KL2 (4,74 điểm), trong khi dòng BV16 đạt điểm thấp nhất (4,03 điểm).

Về sinh trưởng kích thước, dòng KL2 dẫn đầu về cả đường kính gốc ($D_0 = 2,36\text{ cm}$) và chiều cao vút ngọn ($H_{vn} = 2,31\text{ m}$), xếp ngay sau là dòng BV75 ($D_0 = 2,29\text{ cm}$; $H_{vn} = 2,27\text{ m}$). Cả hai dòng này đều vượt trội hơn đối chứng Keo tai tượng ($D_0 = 2,18\text{ cm}$; $H_{vn} = 2,26\text{ m}$). Dòng AH7 và BV16 sinh trưởng kém nhất trong tập đoàn khảo nghiệm (AH7 đạt $D_0 = 1,53\text{ cm}$, $H_{vn} = 1,57\text{ m}$; BV16 đạt $D_0 = 1,59\text{ cm}$, $H_{vn} = 1,54\text{ m}$). Phân tích phương sai One-way ANOVA khẳng định sự khác biệt về sinh trưởng đường kính, chiều cao và phẩm chất thân giữa các dòng có ý nghĩa thống kê rõ rệt ($p = 0,000 < 0,05$).

STT Dòng Tỷ lệ sống (%) Điểm thân cây $D_0$ trung bình (cm) Hệ số biến động $S_{D_0}$ (%) $H_{vn}$ trung bình (m) Hệ số biến động $S_{H_{vn}}$ (%)
1 BV71 97,5 4,26 1,89 27,26 1,89 18,04
2 BV10 97,5 4,36 1,75 24,29 1,77 23,12
3 BV33 95,0 4,61 1,95 21,88 1,96 21,56
4 BV32 95,0 4,68 2,10 24,41 2,23 18,40
5 KL2 95,0 4,74 2,36 18,26 2,31 14,36
6 BV16 97,5 4,03 1,59 25,77 1,54 24,99
7 TB11 92,5 4,51 1,91 27,38 1,88 23,15
8 AH7 95,0 4,32 1,53 21,47 1,57 15,01
9 KL20 92,5 4,68 2,16 18,15 2,24 18,71
10 TB1 100,0 4,60 1,92 23,38 1,96 23,16
11 BV75 95,0 4,89 2,29 15,43 2,27 15,00
12 BV73 90,0 4,47 2,17 13,52 1,95 22,05
13 KTT (Đ/c) 85,0 4,71 2,18 19,07 2,26 19,33
  1. Kết quả mô hình trồng mở rộng 8 dòng Keo lai sau 13 tháng: Trên quy mô diện tích 1,6 ha, tỷ lệ sống của 8 dòng duy trì ở mức cao từ 91,5% đến 95,7% (dòng TB1 đạt cao nhất 95,7%, dòng BV10 thấp nhất đạt 91,5%). Về phẩm chất thân, hai dòng KL20 và BV33 đạt điểm cao nhất (4,74 điểm), kế tiếp là KL2 (4,70 điểm). Dòng BV33 và KL2 thể hiện ưu thế sinh trưởng nổi trội nhất mô hình: BV33 đạt $D_0 = 2,10\text{ cm}$, $H_{vn} = 2,00\text{ m}$; KL2 đạt $D_0 = 2,06\text{ cm}$, $H_{vn} = 1,96\text{ m}$. Dòng AH7 tiếp tục có mức sinh trưởng thấp nhất với $D_0 = 1,43\text{ cm}$ và $H_{vn} = 1,38\text{ m}$.
STT Dòng Tỷ lệ sống (%) Điểm thân cây $D_0$ trung bình (cm) Hệ số biến động $S_{D_0}$ (%) $H_{vn}$ trung bình (m) Hệ số biến động $S_{H_{vn}}$ (%)
1 KL2 95,4 4,70 2,06 14,08 1,96 14,59
2 KL20 93,0 4,74 1,91 11,11 1,80 13,99
3 BV16 95,3 4,42 1,63 13,62 1,63 13,70
4 BV10 91,5 4,46 1,69 15,87 1,73 12,52
5 BV71 93,0 4,30 1,47 9,09 1,44 10,29
6 TB1 95,7 4,56 1,90 10,94 1,74 13,80
7 BV33 93,5 4,74 2,10 14,43 2,00 11,62
8 AH7 92,5 4,04 1,43 11,06 1,38 10,76

Phần 5: Kết luận, tồn tại và kiến nghị

Chương tổng kết các phát hiện kỹ thuật chính, xác nhận các dòng Keo lai thích ứng tốt nhất trên lập địa Đoan Hùng, chỉ ra các tồn tại về mặt thời gian khảo nghiệm và đề xuất giải pháp ứng dụng giống phục vụ sản xuất lâm nghiệp địa phương.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Về kỹ thuật nhân giống giâm hom: Đã hoàn thiện việc áp dụng chất điều hòa sinh trưởng IBA nồng độ 0,75% trên 5 dòng Keo lai (AH7, KL20, KL2, TB11, TB1). Sau 3 tháng nuôi cấy trong vườn ươm, tỷ lệ ra rễ đạt từ 81% đến 96%, số lượng rễ bình quân đạt 3,8 - 4,5 rễ/hom, chiều dài rễ trung bình 31 - 35 mm, tỷ lệ cây hom đạt phẩm chất tốt trên 90% (cao nhất là dòng KL20 đạt 95%).
  • Về tỷ lệ sống và độ thích ứng lập địa: Tại hiện trường Đoan Hùng sau 13 tháng trồng, toàn bộ 12 dòng Keo lai khảo nghiệm đạt tỷ lệ sống từ 90,0% đến 100,0%, vượt trội hơn hẳn so với Keo tai tượng gieo hạt (85,0%).
  • Về sinh trưởng và chất lượng thân cây: Khảo nghiệm đã xác định được sự phân hóa sinh trưởng rõ rệt giữa các dòng vô tính. Dòng KL2 ($D_0 = 2,36\text{ cm}$; $H_{vn} = 2,31\text{ m}$) và dòng BV75 ($D_0 = 2,29\text{ cm}$; $H_{vn} = 2,27\text{ m}$; điểm chất lượng thân đạt 4,89) là hai dòng sinh trưởng tốt nhất trong thí nghiệm khảo nghiệm diện tích 0,4 ha. Tại mô hình trồng mở rộng 1,6 ha, hai dòng BV33 ($D_0 = 2,10\text{ cm}$; $H_{vn} = 2,00\text{ m}$) và KL2 ($D_0 = 2,06\text{ cm}$; $H_{vn} = 1,96\text{ m}$) thể hiện khả năng tăng trưởng và chất lượng thân vượt trội. Hai dòng AH7 và BV16 sinh trưởng kém nhất ở cả hai mô hình.

Đề xuất và kiến nghị của tác giả

  • Tác giả đề xuất đưa các dòng Keo lai KL2, BV75 và BV33 vào cơ cấu cây trồng chính phục vụ trồng rừng sản xuất tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
  • Khuyến nghị hạn chế hoặc không đưa các dòng AH7 và BV16 vào trồng đại trà tại khu vực này do khả năng sinh trưởng đường kính và chiều cao thấp hơn rõ rệt so với các dòng khác và kém hơn cả Keo tai tượng đối chứng.

Đóng góp so với các nghiên cứu trước

Các giống Keo lai tiến bộ kỹ thuật (BV, KL, TB) trước đây chủ yếu được công nhận qua khảo nghiệm tại một số vùng sinh thái nhất định (như Ba Vì, Đông Nam Bộ) và mỗi dòng thường chỉ thích nghi trong phạm vi hẹp từ 1 đến 2 vùng sinh thái. Khóa luận cung cấp chuỗi số liệu thực nghiệm gốc đầu tiên về tỷ lệ sống, tốc độ tăng trưởng đường kính gốc, chiều cao vút ngọn và đặc điểm hình thái thân của 12 dòng Keo lai trên dạng lập địa đồi núi thấp feralit phát triển trên phiến thạch sét tại huyện Đoan Hùng. Dữ liệu này trực tiếp lấp khoảng trống thông tin khảo nghiệm giống cây rừng tại địa phương, đóng góp dẫn liệu thực tế giúp Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Phú Thọ định hướng cơ cấu giống cây trồng lâm nghiệp thay thế dần diện tích bạch đàn thoái hóa và rừng keo hạt năng suất thấp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về thời gian nghiên cứu: Số liệu sinh trưởng rừng trồng trong đề tài mới chỉ được thu thập và đánh giá ở thời điểm 13 tháng tuổi (giai đoạn rừng non mới khép tán). Kết quả này phản ánh khả năng bén rễ và sinh trưởng ban đầu, chưa phản ánh đầy đủ năng suất trữ lượng gỗ, chất lượng gỗ thành thục và độ bền cơ lý của thân cây khi đến tuổi khai thác luân kỳ (5 - 10 năm).
  • Hạn chế về mùa vụ giâm hom: Thí nghiệm giâm hom được tiến hành vào tháng 10 năm 2014, là thời điểm cuối vụ giâm hom của miền Bắc khi nhiệt độ không khí bắt đầu giảm thấp, đòi hỏi kỹ thuật che chắn nhiệt nghiêm ngặt hơn so với chính vụ hè thu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục duy trì bảo vệ và theo dõi định kỳ các chỉ tiêu sinh trưởng đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), độ thuôn thân cây và sản lượng tầng cây đứng ở các tuổi 3, 5 và giai đoạn khai thác chính.
    • Mở rộng theo dõi khả năng chống chịu của các dòng đối với các điều kiện thời tiết bất lợi thường xuất hiện tại Đoan Hùng như lốc xoáy, mưa đá, gió hại và diễn biến một số loài sâu bệnh hại lá, mối hại rễ hoặc nấm hồng hại thân keo.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Lâm sinh và Giống cây rừng.
    • Cán bộ kỹ thuật tại các ban quản lý rừng phòng hộ, công ty lâm nghiệp, các vườn ươm giống cây lâm nghiệp và cán bộ khuyến lâm địa phương.
    • Các hộ gia đình, trang trại sản xuất lâm nghiệp có nhu cầu chuyển đổi cơ cấu cây trồng sang rừng gỗ nguyên liệu tại tỉnh Phú Thọ và vùng Trung du Bắc Bộ.
  • Các nội dung có giá trị tham khảo cao:
    • Quy trình thực nghiệm nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom Keo lai với chất điều hòa sinh trưởng IBA nồng độ 0,75% trong điều kiện nhà giàn che phủ nilon và lưới đen.
    • Thiết kế sơ đồ bố trí khảo nghiệm giống cây rừng theo khối ngẫu nhiên (RCBD) tuân thủ Tiêu chuẩn ngành 04 TCN 147 - 2006.
    • Phương pháp phân cấp và chấm điểm chất lượng thân cây rừng trồng theo thang 5 điểm của Nguyễn Anh Dũng (2011).
    • Tập số liệu phân tích lý hóa tính đất đồi feralit phát triển trên phiến thạch sét tại Cầu Hai, huyện Đoan Hùng.

Câu hỏi thường gặp

1. Dòng Keo lai nào đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất và chất lượng hom tốt nhất trong thí nghiệm giâm hom?

Trong 5 dòng giâm hom thí nghiệm, dòng AH7 đạt tỷ lệ ra rễ cao nhất với 96% (86/90 hom), có số rễ trung bình 4,5 rễ/hom và chiều dài rễ 34 mm. Tuy nhiên, xét về chất lượng tổng thể của hom giâm sau 3 tháng, dòng KL20 đạt tỷ lệ hom loại tốt cao nhất với 95% (hom loại trung bình 4%, hom xấu 1%), đồng thời đạt chiều dài rễ trung bình lớn nhất (35 mm) cùng số rễ trung bình 4,5 rễ/hom.

2. Dòng Keo lai nào thể hiện sinh trưởng tốt nhất sau 13 tháng trồng khảo nghiệm tại hiện trường Đoan Hùng?

Tại thí nghiệm khảo nghiệm dòng (diện tích 0,4 ha), dòng KL2 đạt sinh trưởng tốt nhất với đường kính gốc $D_0 = 2,36\text{ cm}$ và chiều cao $H_{vn} = 2,31\text{ m}$. Xếp ngay sau là dòng BV75 với $D_0 = 2,29\text{ cm}$ và $H_{vn} = 2,27\text{ m}$. Cả hai dòng này đều sinh trưởng vượt trội so với dòng Keo tai tượng gieo hạt làm đối chứng ($D_0 = 2,18\text{ cm}$; $H_{vn} = 2,26\text{ m}$). Tại mô hình trồng mở rộng (1,6 ha), dòng BV33 đạt sinh trưởng cao nhất ($D_0 = 2,10\text{ cm}$; $H_{vn} = 2,00\text{ m}$), theo sau là KL2 ($D_0 = 2,06\text{ cm}$; $H_{vn} = 1,96\text{ m}$).

3. Dòng khảo nghiệm nào có phẩm chất hình thái thân cây đạt điểm cao nhất và thấp nhất?

Theo phương pháp đánh giá mục trắc cho điểm từ 1 đến 5, trong 12 dòng khảo nghiệm, dòng BV75 đạt điểm chất lượng thân cây cao nhất là 4,89 điểm, tiếp đến là KL2 (4,74 điểm). Dòng có phẩm chất thân kém nhất là BV16 với 4,03 điểm. Trong mô hình trồng mở rộng, hai dòng KL20 và BV33 đồng dẫn đầu về chất lượng thân với 4,74 điểm, trong khi AH7 thấp nhất với 4,04 điểm.

4. Tại sao tác giả và các công trình lâm sinh trích dẫn khuyến cáo không sử dụng hạt thu hái từ rừng Keo lai để gieo ươm cây con?

Theo các nghiên cứu của Lê Đình Khả (1997) được tác giả trích dẫn, Keo lai tự nhiên đời F1 mang kiểu hình trung gian đồng nhất và thể hiện rõ ưu thế lai vượt trội về sinh trưởng so với bố mẹ. Tuy nhiên, hạt thu từ cây lai đời F1 khi đem gieo sẽ tạo ra thế hệ F2 bị phân ly di truyền và thoái hóa rõ rệt; cây con F2 sinh trưởng kém, không đồng đều và có hệ số biến động hình thái rất lớn, làm suy giảm năng suất và phẩm chất rừng trồng. Do đó, việc nhân giống Keo lai bắt buộc phải thực hiện bằng phương pháp vô tính (giâm hom hoặc nuôi cấy mô).

5. Đặc điểm lý hóa tính của tầng đất mặt (0 - 20 cm) tại khu vực nghiên cứu có tính chất như thế nào?

Kết quả phân tích 6 mẫu đất tầng mặt (0 - 20 cm) tại khu vực khảo nghiệm dòng cho thấy: đất chua với chỉ số $pH_{KCl} = 3,57$; hàm lượng mùn hữu cơ tổng số ở mức khá đạt 4,16%; đạm tổng số ($N_{ts}$) đạt mức khá với 0,190%; lân dễ tiêu ($P_2O_{5,dt}$) đạt 32,73 mg/kg; kali dễ tiêu ($K_2O_{dt}$) ở mức trung bình đạt 20,31 mg/kg. Thành phần cơ giới đất thuộc nhóm đất thịt nhẹ với tỷ lệ cấp hạt 2,0 - 0,02 mm chiếm 46,94%, cấp hạt 0,02 - 0,002 mm chiếm 18,37% và cấp hạt < 0,002 mm chiếm 34,69%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Xuân Đức đã khảo nghiệm thực nghiệm thành công 12 dòng Keo lai vô tính trên lập địa đồi bát úp đất feralit đỏ vàng tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ sau 13 tháng gây trồng. Nghiên cứu khẳng định kỹ thuật giâm hom bằng chất kích thích IBA 0,75% cho tỷ lệ ra rễ cao trên 81% ở cả 5 dòng thử nghiệm và xác định toàn bộ các dòng vô tính khảo nghiệm đều đạt tỷ lệ sống vượt trội (90,0% - 100,0%) so với Keo tai tượng gieo hạt (85,0%). Trên cơ sở phân tích phương sai và so sánh đa biến về các chỉ tiêu sinh trưởng và phẩm chất thân cây, tác giả đề xuất đưa các dòng KL2, BV75 và BV33 vào cơ cấu giống cây trồng chính cho lâm nghiệp địa phương, đồng thời khuyến cáo không phát triển các dòng sinh trưởng kém như AH7 và BV16.