Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về cây đậu phộng Cây đậu phộng (Arachis hypogaea L.) thuộc họ Fabacaea, chi Arachis, loài hypogaea, có nguồn gốc ở Nam Mỹ, sau đó được trồng phô biến ở châu Au, tới vùng bờ biển châu Phi, châu A (Trung Quốc, Indonesia, An Độ) và có thé đã được du nhập vào Việt Nam từ Trung Quốc khoảng thế ky XVII, XVIII (Lê Song Dự và Nguyễn Thế Côn, 1979). Theo Nguyễn Minh Hiếu (2010), đậu phộng là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới nên thích hợp với khí hậu nóng ẩm và nhiều ánh sáng. Nhiệt độ trung bình thích hợp cho đậu phộng trong suốt thời kỳ sinh trưởng từ 25 — 30°C. Cây đậu phộng phát triển tốt nhất ở đất độ pH 6,0 — 6,5 nhưng cây có thé phát triển được trong khoảng từ 5,5 — 7,0.
Dat nhiễm mặn không thích hợp trồng vì đậu phộng có khả năng chịu mặn rất thấp (Weiss, 1983). Cây đậu phộng yêu cầu lượng nước tối thiểu phải đạt là 500 mm nhưng tốt nhất là 1. Độ am đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây đậu phông, mức độ âm thích hợp cho cây đậu phộng là 80%. Ở thời kỳ nảy mầm yêu cầu độ âm đất thích hợp 70 — 75%; thời kỳ cây con và thời kỳ chín 65%; thời kỳ ra hoa, kết quả cần độ âm dat cao hơn, từ 75 — 80% (Nguyễn Minh Hiếu, 2010).
Rễ cây đậu phộng gồm rễ cái và rễ con. Rễ cái có thé ăn sâu từ 1,0 — 1,3 m nhưng trung bình khoảng 40 — 50 em và có nhiều rễ con. Trên các rễ con, nhiều nốt san xuất hiện sau khoảng 2 — 3 tuần từ khi hạt nảy mam. Những nốt san này có các vi khuân cô định đạm, có khả năng hấp thụ đạm từ khí trời và sống cộng sinh với cây đậu phộng, 40 — 50% lượng nốt san hữu hiệu nằm ở lớp đất 0 — 25 cm.
Lượng nốt san tăng dan trong quá trình sinh trưởng của đậu phộng và đạt cực đại vào thời kỳ hình thành quả va hạt, lượng NHa cô định cũng đạt cực đại và 90% lượng đạm có định được cung cấp cho cây vào thời kỳ này. Nguồn đạm cô định có thé đáp ứng được 50 — 70% nhu cầu đạm của cây, lượng đạm cô định của cây đậu phộng có thể đạt 70 — 110 kg/ha/vụ (Nguyễn Minh Hiếu, 2010). Thân cây đậu phộng là thân thảo, cao từ 19 — 80 em tùy thuộc giống và điều kiện sống, trên thân có nhiều lông trắng (Đường Hồng Dat, 2007). Cành cấp 1 mọc từ nách lá thân chính, những cành cấp 1 mọc càng gần mặt đất càng dé trở thành cành hữu hiệu.
Lá cây đậu phộng là lá chét (thường có 4 lá chét), cuống lá dài từ 4 - 9 em, có khoảng 50 — 60 lá thật trên cây (Đường Hồng Dat, 2007). Hoa đậu phộng màu vàng, không có cuống, gồm 5 bộ phận: lá bắc, đài hoa, tràng hoa, nhị đực và nhụy cái. Bộ nhị đực gồm 10 nhị, bộ nhụy cái gồm bầu noãn và vòi nhụy dai, bên trong bầu noãn có chứa một hay nhiều tiêu noãn, bầu noãn sẽ phát triển thành quả, tiểu noãn phát triển thành hạt. Đậu phộng là cây có hoa trên không trung nhưng kết quả ngầm dưới đất nên cần chú ý nhiệt độ đất và nhiệt độ không khí khi trồng (Trần Văn Lợt, 2013).
Quả đậu phộng có dạng hình kén, dai 1 — 8 cm, rộng 0,5 — 2 cm, một đầu đính với tia. Trong 1 quả có thé có 1 — 4 hạt. Vỏ chiếm 20 — 35% trọng lượng qua (Đường Hồng Dật, 2007). Hạt có nhiều hình dang, cau tao gom 3 bộ phan vỏ lua, lá mam va mộng.
Khối lượng 100 hat phan thành 5 nhóm: hạt nhỏ có khối lượng từ 35 — 39 g, trung bình 40 — 54 g, hạt lớn 55 — 69 g, hat rất lớn 70 — 89 g, hạt không 16 trên 90 g (Lê Quang Hưng, 2010).2 Tình hình sản xuất cây đậu phộng trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình sản xuất cây đậu phộng trên thế giới Theo số liệu của FAOSTAT (2023), tình hình sản xuất của cây đậu phộng trên thé giới trong giai đoạn 2017 — 2021 được thé hiện ở Bang 1.1 cho thấy diện tích trồng của cây đậu phộng của thé giới biến động từ 29,30 — 32,72 triệu ha, đạt diện tích cao nhất vào năm 2021 là 32,72 triệu ha tăng 3,42 triệu ha (tương đương 11,67%) so với năm 2017. Tương tự, sản lượng cây đậu phộng biến động từ 48,44 — 53,93 triệu tan, cao nhất vào năm 2021 là 53,93 triệu tấn tăng 5,49 triệu tấn (tương đương 11,33%) so với năm 2017. Trong giai đoạn từ năm 2017 — 2021, diện tích trồng và sản lượng của cây đậu phộng trên thế giới có xu hướng tăng, đạt cao nhất vào năm 2021 và thấp nhất vào năm 2017. Diện tích và sản lượng đều tăng trưởng ở mức hơn 11%.
Trong khi, năng suất của cây đậu phộng trong giai đoạn này không có biến động nhiều, năng suất quả khô trung bình đạt 1,69 tan/ha.1 Tình hình sản xuất đậu phộng trên thé giới trong giai đoạn 2017 — 2021 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (triệu tan) 2017 29,30 1,65 48,44 2018 29,75 1,73 51,46 2019 29,72 1,64 48,76 2020 30,44 LT.2 cho thay trong năm 2021 diện tích trồng cây đậu phộng của các châu lục lần lượt là Châu Phi đạt 18,47 triệu ha (chiếm 56,45%), Châu Á đạt 12,78 triệu ha (chiếm 39,06%), Châu Mỹ đạt 1,46 triệu ha (chiếm 4,46%), Châu Úc là 0,01 triệu ha (chiếm 0,03%). Sản lượng cây đậu phộng ở các châu lục trên thế giới giai đoạn 2019 - 2021 không biến đổi nhiêu.2 Diện tích và sản lượng của cây đậu phộng ở các châu lục trên thé giới giai đoạn 2019 - 2021 Diện tích (triệu ha) Sản lượng (triệu tan) Châu lục 2019 2020 2021 2019 2020 2021 Châu Á 11,32 11,46 12,78 27,68 31,43 32,16 Chau Phi 17,05 17,55 18,47 16,30 17,02 16,37 Chau My 1,33 1,42 1,46 4,76 5,14 5,39 Chau Uc 0,01 0,01 0,01 0,02 0,02 0,02 (Nguồn: FAOSTAT, 2023) Năm 2021, Châu Phi có diện tích trồng đậu phộng chiếm 56,45% tổng diện tích trồng đậu phộng thế giới nhưng sản lượng chỉ đạt 16,37 triệu tan chiếm 30,35% tong sản lượng thé giới. Trong khi đó, châu A xếp thứ 2 về diện tích trồng nhưng lại dẫn đầu về sản lượng dat 32,16 triệu tan chiếm 59,62% tông sản lượng đậu phộng thé giới. Châu Mỹ và châu Úc có điện tích trồng và sản lượng không đáng kể.2 Tình hình sản xuất cây đậu phộng tại Việt Nam Theo số liệu thống kê, Việt Nam trong năm 2021 là quốc gia có diện tích sản xuất đậu phộng đứng thứ 28 nước có diện tích sản xuất đậu phộng lớn trên thé giới, năng suất quả khô đứng thứ 25 và sản lượng đứng thứ 17 trên thế giới (FAOSTAT, 2023).
Cây đậu phộng tại Việt Nam được trồng khắp trên 7 vùng sinh thái. Một số vùng trồng đậu phộng trọng điểm đó là Bắc Trung Bộ, trung du miền núi phía Bắc, vùng duyên hải miền Trung, Đông Nam bộ và Tây Nam bộ.3 Tình hình sản xuất đậu phộng của Việt Nam trong giai đoạn 2017 — 2021 Năm Diện tích (nghinha) Năng suất (tấn/ha) Sản lượng (nghìn tấn) 2017 195,6 2335 459,6 2018 185,7 2,46 453,3 2019 176,8 2,50 442,6 2020 169,7 251 425,5 2021 165,2 2,60 430,4 (Nguon: Tong Cuc thong ké, 2023) Qua Bang 1.3 cho thấy giai đoạn từ năm 2017 — 2021, diện tích đậu phộng trên cả nước biến động trong khoảng từ 165,2 — 195,6 nghìn ha, cao nhất vào năm 2017 là 195,6 nghìn ha sau đó có xu hướng giảm dan. Năm 2021, tong diện tích trồng đậu phộng ở nước ta giảm 30,4 nghìn ha (tương đương 15,5%) so với năm 2017. Sản lượng biến động từ 425,5 — 459,6 nghìn tấn, đạt cao nhất vào năm 2017 là 459,6 nghìn tấn và có xu hướng giảm do diện tích trồng bị thu hẹp trong giai đoạn này.
Tuy nhiên, năng suất quả khô cây đậu phộng trong giai đoạn này tăng liên tục biến động từ 2,35 — 2,60 tan/ha. Dién tich trong dau phộng ở Việt Nam chiếm khoảng 0,50 — 0,67% của thế giới và sản lượng đậu phộng chiếm 0,79 — 0,95% của thế giới do năng suất quả khô đậu phộng ở Việt Nam nhìn chung cao hơn năng suất quả khô đậu phộng trung bình của thé giới từ 0,71 — 0,83 tắn/ha.3 Tình hình sản xuất cây đậu phộng tại tỉnh Tây Ninh Bảng 1.4 Tình hình sản xuất đậu phộng của tỉnh Tây Ninh trong giai đoạn 2017 — 2021 Năm Diện tích (nghinha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (nghìn tấn) 2017 6,21 3,76 23,37 2018 5,53 3,73 20,60 2019 4,78 3,70 17,66 2020 3,78 3,84 14,50 2021 3,59 3,86 13,85 (Nguôn: Cục thông kê tinh Tây Ninh, 2022) Nhìn chung, trong giai đoạn từ năm 2017 — 2021 tình hình sản xuất đậu phộng của tỉnh Tây Ninh không ôn định. Trong đó, diện tích và sản lượng có xu hướng giảm từ năm 2017 — 2021 từ 6,21 nghìn ha xuống còn 3,59 nghìn ha (năm 2021), giảm 42,19% so với năm 2017; sản lượng giảm từ 23,37 nghìn tan năm 2017 xuống còn 13,85 nghìn ha năm 2021, giảm 40,75%. Mặc dù, diện tích và sản lượng giảm nhưng năng suất quả khô đậu phộng tinh Tây Ninh vẫn duy trì trong khoảng từ 3,70 tan/ha đến 3,86 tan/ha, năng suất quả khô trung bình của tinh cao hơn năng suất quả khô trung bình của cả nước là 1,29 tắn/ha.
Về nguyên nhân diện tích cây đậu phộng giảm tại tinh Tây Ninh là do chi phí đầu vào cao (nhân công, giá cả khâu gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch) và giá cả không 6n định nên người nông dân đã chuyền đổi dần dan sang các loại cây trồng khác (Nguyễn Phi Trường, 2017).3 Tình hình nghiên cứu về giống cây đậu phộng 1.1 Các nghiên cứu về giống đậu phộng trên thế giới Hiện nay, các giống đậu phộng trên thế giới được tuyên chọn chủ yếu tại một số cơ sở nghiên cứu như: Viện Quốc tế Nghiên cứu cây trồng vùng Nhiệt đới Bán khô hạn (ICRISAT), Trung tâm Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (CIAT), Viện Quốc tế Nông nghiệp Nhiệt đới (IITA), Trung tâm nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Uc (ACIAR), Mạng lưới Đậu đỗ và Ngũ cốc châu Á (CLAN) và tại một số Viện, trường Đại học ở Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu tập trung về giống đậu phộng chủ yếu theo hướng chọn các giống có năng suất và hàm lượng dầu cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chín sớm, có khả năng kháng bệnh và chịu hạn cao (Nguyễn Danh Đông, 1984).