CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NGÔN NGỮ HỌC VÀ VĂN HÓA HỌC 1. Từ và ngữ Từ và các phương thức cấu tạo từ: Trong các đơn vị ngôn ngữ, từ là một trong số những đơn vị cơ bản nhất dùng để gọi tên các sự vật và thuộc tính của chúng, các hiện tượng, các quan hệ của thực tiễn, là một tổng thể các dấu hiệu ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng cho từng ngôn ngữ. Từ ở vị trí trung tâm của hệ thống ngôn ngữ, là cơ sở để con người tiến hành hoạt động nhận thức và tạo ra các đơn vị ngôn ngữ khác(cụm từ, câu, đoạn văn, văn bản) phục vụ cho nhu cầu giao tiếp.
Với vai trò quan trọng ấy nên từ đã, đang và có thể sẽ vẫn là đối tượng lâu dài, trung tâm của Ngôn ngữ học. Các dấu hiệu đặc trưng của từ là: tính hoàn chỉnh, tính có thể phân chia thành các bộ phận và khả năng tái hiện lại dễ dàng trong lời nói. Từ có thể phân chia thành các cấu trúc: cấu trúc ngữ âm của từ (là toàn bộ các hiện tượng âm thanh tạo nên vỏ âm thanh của từ); cấu trúc hình thái của từ (là toàn bộ các hình vị tạo nên từ); cấu trúc ngữ nghĩa của từ (là toàn bộ các nghĩa khác nhau của từ). Cho đến nay, trong Ngôn ngữ học, có không ít công trình đề cập đến định nghĩa từ, đã có tới trên 300 định nghĩa về từ.
Tuy nhiên đây vẫn là đề tài còn nhiều tranh luận. Với mỗi mục đích nghiên cứu khác nhau, mỗi nhà nghiên cứu lại nhấn mạnh tới một phương diện của từ. Có thể nêu ra một vài định nghĩa tiêu biểu về từ như sau: Tác giả Hoàng Phê đưa ra quan điểm trong cuốn Từ điển tiếng Việt như sau: “Từ là đơn vị ngôn ngữ mà bắt đầu từ nó ngôn ngữ mới thực hiện chức 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng giao tiếp và chức năng tư duy. Từ là một đơn vị hai mặt: mặt hình thức và mặt ý nghĩa.
Mặt hình thức theo chúng tôi, là một hợp thể của một số thành phần: thành phần ngữ âm (còn gọi là ngoại biểu), thành phần cấu tạo (còn gọi là cấu trúc của từ) và thành phần ngữ pháp” [44, tr. Nhóm tác giả Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến đưa ra định nghĩa như sau: “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu” [18, tr. Hoặc là những ý kiến về từ trong tiếng Việt: Theo Đỗ Hữu Châu thì: “Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong những kiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa nhất định, lớn nhất trong tiếng Việt và nhỏ nhất để tạo câu” [12, tr. Nguyễn Thiện Giáp lại quan niệm: “Từ tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ý nghĩa dùng để tạo câu nói; nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền” [23, tr.
Có thể nhận thấy ít nhiều có sự khác nhau trong các định nghĩa từ của các nhà ngôn ngữ học. Người thì nhấn mạnh vào hình thức ngữ âm “nó có hình thức của một âm tiết, một khối viết liền”, người lại chú ý đến “chức năng gọi tên”, có người lại tập trung vào mối quan hệ thống nhất giữa “hình thức, ý nghĩa, ngữ pháp” của từ. Điều này cũng còn do trên thực tế trong các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập âm tiết tính như tiếng Tày, tiếng Nùng, tiếng Dao, tiếng Hán, tiếng Việt…. , khó có sự phân biệt rạch ròi giữa từ và ngữ, đặc biệt giữa đơn vị được gọi là “từ ghép” và “cụm từ”.
Rõ ràng thật khó có thể đưa ra một định nghĩa về từ khiến cho tất cả mọi người đều thoả mãn. Qua những ý kiến của các nhà ngôn ngữ học đi trước, có thể thấy từ là một thực thể, tồn tại trong mỗi hệ thống ngôn ngữ với những đặc 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm hình thức, cấu trúc nội tại và có thể có cách biểu thị nội dung (ý nghĩa) khác nhau, được người bản ngữ tri giác (hiện thực về mặt tâm lí). Qua các định nghĩa, có thể nhận thấy từ có những đặc điểm cơ bản giúp phân biệt nó với các đơn vị khác trong hệ thống ngôn ngữ như sau: - Là một khối thống nhất, hoàn chỉnh của hình thức và nội dung hay nói cách khác, từ bao gồm hai mặt: âm thanh và ý nghĩa. Tính hoàn chỉnh và thống nhất giữa hai mặt này giúp cho từ có khả năng hoạt động độc lập để tạo câu theo những quy tắc kết hợp nhất định.
- Mang tính sẵn có, tồn tại độc lập: Chúng có thể tách ra khỏi câu mà vẫn có ý nghĩa như vậy, chúng có thể được dùng để đặt câu khác - Về mặt nội dung (mặt được biểu thị), từ là đơn vị có ý nghĩa biểu thị các sự vật, hiện tượng…nhất định - Có cấu trúc cố định - bắt buộc: Từ không thể chia nhỏ ra nữa mà vẫn giữ nguyên ý nghĩa cũ. Hay nói cách khác, từ là đơn vị có cấu trúc nội tại tương đối vững chắc, ổn định, có nghĩa mà không thể phân tách thành đơn vị nhỏ hơn. - Là đơn vị nhỏ nhất trực tiếp tạo câu, tạo lời nói. Trong luận văn này, xin chấp nhận quan niệm về từ được nhiều nhà nghiên cứu về các ngôn ngữ phương Đông xác định, là: Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, được sử dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo nên câu.
Cách hiểu về từ như trên sẽ là cơ sở để tiến hành khảo sát, thống kê và phân loại những ngữ liệu về từ và ngữ có liên quan đến bệnh tật và các phương thuốc dân gian trong tiếng Nùng. Các phương thức cấu tạo từ: Theo quan niệm phổ biến hiện nay, có ba phương thức: + Từ hoá hình vị là phương thức tác động vào bản thân một hình vị, làm cho nó có những đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ, biến hình vị thành từ mà không thêm bớt gì cả vào hình thức của nó. Hay nói cách khác, dùng một hình vị tạo thành một từ thực chất là cấp cho hình vị cái tư cách đầy đủ của một từ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Ghép là phương thức tác động vào 2 hoặc hơn 2 hình vị có nghĩa, kết hợp chúng với nhau để sản sinh ra một từ mới (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa như một từ).
Biểu đồ của phương thức ghép là: Hình vị: A, B - Ghép - từ A+B hoặc B+A + Láy là phương thức tác động vào một hình vị cơ sở làm xuất hiện một hình vị láy giống nó toàn bộ hay bộ phận về âm thanh. Các hình vị cơ sở và hình vị láy tạo thành một từ (mang đặc điểm ngữ pháp và ý nghĩa của từ). Ví dụ: Phương thức láy tác động vào hình vị kheo (xanh) cho ta hình vị láy kheo (xanh). Hình vị láy và hình vị cơ sở làm thành từ kheo kheo (xanh xanh).
Tác động vào hình vị: nọi (ít) cho ta hình vị láy: nòi. Từ đó, ta có các từ nòi nọi (in ít). Biểu đồ của phương thức này là: Hình vị A – láy - từ AA hoặc AA’ hoặc A’A Theo Nguyễn Tài Cẩn [9] khi kết hợp thành tố với thành tố để tạo thành một tổ hợp tự do, có thể kết hợp theo ba mối quan hệ chính sau đây: kết hợp theo quan hệ đẳng lập; kết hợp theo quan hệ tường thuật; kết hợp theo quan hệ chính phụ. Với ba loại quan hệ khác nhau đó, chúng ta sẽ có 3 loại tổ hợp tự do khác nhau: loại tổ hợp gồm nhiều trung tâm nối liền với nhau bằng quan hệ đẳng lập gọi là liên hợp, loại tổ hợp gồm 2 trung tâm nối liền với nhau bằng quan hệ tường thuật gọi là mệnh đề và loại tổ hợp gồm một trung tâm nối liền với các thành tố phụ bằng quan hệ chính phụ gọi là đoản ngữ (hoặc ngữ).
Ngữ: Ngoài đơn vị “từ”, một đơn vị nữa cũng cùng chức năng nhưng khác cấu tạo với “từ” là “ngữ” (hay còn được gọi là cụm từ, từ tổ). Khi nói đến “ngữ” cần chú ý mấy điểm để phân biệt với “từ” như sau: Ngữ là sự kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học của Nguyễn Như Ý: “Ngữ là sự kết hợp hai hoặc nhiều thực từ (không hoặc có cùng với các hư từ có quan hệ với chúng gắn bó về ý nghĩa và ngữ pháp), diễn đạt một khái niệm thống nhất, và là tên gọi phức tạp biểu thị các hiện tượng của thực tại khách quan” [58, tr. Về cấu tạo, ngữ là một kết cấu cú pháp được tạo thành bởi hai hoặc nhiều thực từ trên cơ sở quan hệ đẳng lập, quan hệ tường thuật và quan hệ chính phụ.
Trong một số ngữ có từ đóng vai trò chủ yếu về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, gọi là thành tố chính, các từ phụ thuộc vào thành tố chính gọi là các thành tố phụ. Thành tố chính của ngữ có thể là danh từ (tạo nên ngữ danh từ), động từ (tạo nên ngữ động từ), tính từ (tạo nên ngữ tính từ). Về chức năng và đặc điểm: Cũng giống như từ, ngữ cũng là phương tiện định danh, biểu thị sự vật, hiện tượng quá trình, phẩm chất. Ý nghĩa ngữ pháp của ngữ được tạo nên bằng quan hệ nảy sinh giữa các thực từ kết hợp lại trên cơ sở của một kiểu liên hệ nào đó giữa chúng.
Về phân loại, ngữ thường được chia thành hai kiểu: ngữ tự do (cụm từ tự do) và ngữ không tự do (ngữ/cụm từ cố định) + Ngữ tự do/ Cụm từ tự do: gồm những thực từ có tính độc lập. Mối liên hệ cú pháp của các yếu tố trong ngữ tự do là mối liên hệ linh loạt và có sức sản sinh.