Chương I. Một số vấn đề xung quanh từ láy 1. Trước hết, khi nói đến vấn đề khái niệm về từ láy thì hiện vẫn còn rất nhiều cách định nghĩa khác nhau của các nhà ngôn ngữ học. Đầu tiên là định nghĩa của Đỗ Hữu Châu:“ từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo hai nhóm gồm nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa.
Từ vựng học tiếng việt. 41] Nguyễn Thái Hòa định nghĩa: “từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách lặp lại âm tiết gốc theo quy tắc trùng điệp (toàn phần hay bộ phận), theo sự luân phiên âm tố chính, hài hòa về âm và nghĩa, tạo ra những tín hiệu đặc biệt trong kho tàng từ ngữ”. Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học. Hoàng Tuệ định nghĩa: “từ láy là những từ đa tiết mà giữa các yếu tố tương ứng của các âm tiết có sự hoà phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa, có giá trị biểu trưng hoá”.
Về những từ gọi là từ láy trong tiếng Việt. 21-24] Định nghĩa về từ láy của Nguyễn Thiện Giáp: “từ láy là những cụm từ cố định được hình thành do sự lặp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của từ đã có. Chúng vừa có sự hài hòa về ngữ âm, vừa có giá trị biểu cảm, gợi tả”. [Nguyễn Thiện Giáp.
Từ vựng học tiếng Việt. Xuất phát từ quan điểm coi từ láy là một cơ chế, một phương thức cấu tạo từ ở đó diễn ra sự hoạt động của một hệ những quy tắc chi phối việc tạo ra những từ đa tiết mà các tiếng của chúng nằm trong thể vừa điệp vừa đối, Hoàng Văn Hành định nghĩa: “từ láy là từ được tạo ra bằng phép trượt để nhân đôi từ tố gốc dưới sự chi phối của quy tắc đối và điệp thể hiện ở quá trình biến đổi ngữ âm hoặc kết hợp khuôn vần trong từ tố láy”. Về hiện tượng láy trong tiếng Việt. Diệp Quang Ban đưa ra định nghĩa trên cơ sở ngữ pháp học: “từ láy là một kiểu từ phức (từ đa tiết) được tạo ra bằng phương thức hoà phối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa” [Diệp Quang Ban.
Ngữ pháp tiếng Việt. Đinh Trọng Lạc định nghĩa: “từ láy là những từ được cấu tạo bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp, vừa đối hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giá trị tượng trưng hóa”. [Đinh Trọng Lạc. 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt.
Trần Thị Kim Loan Trang 11 Khóa Luận Tốt Nghiệp Tìm hiểu về từ láy trong một số TN của NNT Tuy có rất nhiều quan điểm khác nhau nhưng tựu chung lại có thể hiểu một cách cơ bản và đầy đủ như sau: từ láy có hai yếu tố cơ bản, thứ nhất được cấu tạo từ hai tiếng trở lên và có sự hài hòa về âm về nghĩa; Thứ hai đây là một lớp từ đặc sắc mang màu sắc tu từ cao trong tiếng Việt. Và chúng tôi xét thấy rằng quan điểm của Đỗ Hữu Châu về vấn đề này là hợp lý hơn cả ở tính chất rõ ràng, dễ hiểu, đảm bảo được các đặc điểm cần có của một từ láy nên chúng tôi thống nhất trong đề tài này chọn khái niệm của ông làm cơ sở lí luận trong quá trình nghiên cứu. Do sự hài hòa về âm và nghĩa nên từ láy có giá trị tu từ rất cao khi được sử dụng, nó có tác dụng diễn đạt được một cách cụ thể tối đa những gì mà người sử dụng muốn đạt được tùy theo những màu sắc biểu hiện khác nhau. Nói cách khác nó giúp đạt được mục đích một cách dễ dàng và mang lại hiệu quả tốt nhất.
Chính vì lý do đó mà từ láy được sử dụng rất phổ biến trong những phong cách đòi hỏi sự cụ thể hoá hình tượng ở mức độ cao, mà điển hình là phong cách ngôn ngữ nghệ thuật và phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Mỗi từ láy đều có những ý nghĩa cụ thể, riêng biệt tạo điều kiện dễ dàng cho người sử dụng trong việc lựa chọn từ thích hợp để sử dụng theo ngữ cảnh. Từ láy là một lớp từ có số lượng vô cùng phong phú và không ngừng được sản sinh trong những điều kiện khác nhau. Dựa vào phương thức láy, chỉ cần một từ tố cơ sở là đủ để sản sinh ra rất nhiều từ láy khác nhau, mỗi từ đều mang một sắc thái ý nghĩa riêng.
Vd: từ từ tố cơ sở nhỏ nhỏ nhắn, nhỏ nhẹ, nhỏ nhẻ, nho nhỏ,… Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang (Nguyễn Du) Sạch sạch sành sanh “Sạch sành sanh vét cho đầy túi tham (Nguyễn Du) Nhớn nhác nhớn nha nhớn nhác 4.Vì rằng là lớp từ biểu thi trạng thái, cảm xúc, tình huống …một cách đa dạng cho nên vấn đề sử dụng từ láy đúng với ngữ cảnh và đối tượng cũng vô cùng khó khăn. Cùng nói về cách đánh giá vẻ đẹp có tới ba từ xinh xắn, xinh xẻo, xinh xinh và các từ này có mức độ tương đương nên việc dùng sao cho phù hợp với từng đối tượng thật không mấy dễ dàng. Thế mới thấy được sự linh hoạt và tinh tế của từ láy. Ví dụ: từ tố cơ sở xấu được dùng với rất nhiều phạm vi sự vật khác nhau nhưng khi nhận xét về hình thức của con người ta không thể dùng từ láy xấu xa vì từ này chỉ chuyên dùng để nói về cái xấu bên trong, thuộc về bản chất như “tâm địa xấu xa”, còn nếu muốn nói về hình thức ta có từ xấu xí trong câu“cô gái có gương mặt xấu xí”.
Phân loại từ láy Không chỉ có những ý kiến khác nhau về khái niệm mà ngay cả đến vấn đề phân loại cũng tồn tại không ít ý kiến khác nhau do xuất phát từ quan điểm và các tiêu chí khác nhau. Trần Thị Kim Loan Trang 12 Khóa Luận Tốt Nghiệp Tìm hiểu về từ láy trong một số TN của NNT 1. Nguyễn Thái Hòa dựa theo cách phân chia truyền thống đã chia từ láy ra thành hai loại: Từ tượng thanh: là những từ mô phỏng âm thanh tự nhiên của sự vật, sự việc, con người…ví dụ: tiếng suối chảy róc rách, tiếng mèo kêu meo meo,… Từ tượng hình: là những từ mô phỏng hình dáng, tư thế của sự vật, sự việc, con người… ví dụ dốc núi khúc khuỷu, dáng người lom khom. “Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” (Quang Dũng) “Lom khom dưới núi tiều vài chú” (Huyện Thanh Quan) 2.
Theo Đỗ Hữu Châu thì các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau từ lớn đến nhỏ, cần chú ý đến tính đồng loạt cao của tiêu chí phân loại và thứ tự vận dụng các tiêu chí đó. Ông chấp nhận cách phân loại như sau: Số lần tác động của phương thức láy: phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽ cho các từ láy đôi hay từ láy hai âm tiết. Ví dụ: Phương thức láy Bực bực bội Lo lo lắng Dắt dắt díu Tiếp đó phương thức láy tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi để cho ta các từ láy bốn âm tiết. Phương thức láy 1 Khểnh khấp khểnh khấp kha khấp khểnh Nham lam nham lam nham lở nhở Lẩn lẩn thẩn lẩn tha lẩn thẩn Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một hình vị âm tiết cho ta một từ láy ba âm tiết.
Sát sát sàn sạt Dưng dửng dừng dưng Phương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một đơn vị hai âm tiết cho ra các từ láy tư. Nhưng các từ láy tư này khác các từ láy tư nói trên ở chỗ nó chỉ chịu tác động láy một lần. Nhà cửa nhà nhà cửa cửa Ngày tháng ngày ngày tháng tháng Để phân chia các từ láy đôi trước hết dựa vào cái được giữ lại của hình vị cơ sở: nếu toàn bộ âm tiết được giữ nguyên thì ta có từ láy toàn bộ. Trần Thị Kim Loan Trang 13 Khóa Luận Tốt Nghiệp Tìm hiểu về từ láy trong một số TN của NNT Trắng trắng trắng Xanh xanh xanh Tím tím tím Nếu bộ phận âm tiết được giữ lại thì ta có từ láy bộ phận.
Từ láy bộ phận có thể là từ láy âm tức là láy mà phụ âm đầu được giữ lại, còn vần thì khác. Rung rung rinh Vỗ vỗ về Từ láy bộ phận có thể là láy vần, nếu vần được giữ lại, còn phụ âm thì khác. Lầu lầu bầu Vặt lặt vặt Như vậy, tóm lại theo cách phân lọai của Đỗ Hữu Châu thì từ láy có ba loại là láy đôi, láy ba và láy tư. Trong đó láy đôi bao gồm: Láy đôi Láy toàn bộ Láy bộ phận Láy âm Láy vần Trần Thị Kim Loan Trang 14 Khóa Luận Tốt Nghiệp Tìm hiểu về từ láy trong một số TN của NNT Cách phân loại này đã được đa số các nhà ngôn ngữ học chấp nhận và Nguyễn Thị Thanh Hà [Nguyễn Thị Thanh Hà.
Tạp chí ngôn ngữ. 6-14] đã dựa vào cách phân loại trên chia thêm các nhóm nhỏ trong từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận. Từ láy Láy hoàn toàn Láy bộ phận Giống hoàn giống nhau Giống nhau toàn P. đầu và đầu, thanh P. cuối thanh điệu điệu ,P. cuối Láy âm Láy vần cuối biến đổi biến đổi Sau đây chúng ta sẽ đi vào từng loại từ láy một cách cụ thể để hiểu sâu hơn đặc điểm của chúng. Như vậy, để tạo được sự thống nhất nên trong đề tài này chúng tôi quyết định lựa chọn cách phân loại từ láy của Đỗ Hữu Châu thành ba loại từ láy đó là láy đôi, láy ba và láy tư.
Láy đôi: có từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận. Từ láy hoàn toàn Đó là những từ láy có sự đồng nhất, tương ứng hoàn toàn giữa các thành phần cấu tạo của hai thành tố như: đăm đăm, nao nao, đùng đùng, dàu dàu….Tuy nhiên, cần lưu ý rằng láy không phải là sự lặp lại âm thanh nguyên vẹn, mà là sự lặp lại âm thanh có biến đổi theo những quy tắc hòa phối ngữ âm chặt chẽ và có tác dụng tạo nghĩa. Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống nhau về thành phần cấu tạo, chỉ khác nhau về trọng âm, thể hiện ở độ nhấn và độ kéo dài trong phát âm đối với mỗi thành tố. Trọng âm thường ở sau và rơi vào từ tố gốc.