Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Đề tài khóa luận tốt nghiệp "Tìm hiểu về từ láy trong một số truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư" do tác giả Trần Thị Kim Loan thực hiện, thuộc ngành Ngữ văn / Ngôn ngữ học, chuyên ngành Việt ngữ học và Phong cách học ngôn ngữ.

1. Bối cảnh thực tiễn và lý do chọn đề tài Nguyễn Ngọc Tư là cây bút trẻ tiêu biểu của văn học Việt Nam và văn học vùng Đồng bằng sông Cửu Long, từng đạt nhiều giải thưởng như Giải nhất cuộc vận động sáng tác văn học Tuổi 20 lần II (tập truyện Ngọn đèn không tắt, năm 2000), Giải B Hội Nhà văn Việt Nam (2001), Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (tập truyện Cánh đồng bất tận, năm 2006). Khi tập truyện Cánh đồng bất tận ra đời, tác phẩm đã gây ra nhiều luồng ý kiến và tranh luận sôi nổi trên báo chí, diễn đàn văn học xoay quanh ba bình diện: tư tưởng, nội dung và hình thức nghệ thuật.

Trong khi đa số các ý kiến phê bình tập trung vào nội dung hiện thực hoặc tư tưởng tác phẩm, tác giả khóa luận nhận thấy tập truyện có mật độ sử dụng từ láy dày đặc với nhiều từ dùng mang đậm phong vị địa phương Nam Bộ độc đáo. Đứng trên góc độ ngôn ngữ học miêu tả và tu từ học, đề tài chọn khảo sát lớp từ láy để phân tích khả năng biểu đạt thực tế trong một tác phẩm văn xuôi hiện đại cụ thể, tách biệt khỏi các tranh luận mang tính chính kiến hoặc nội dung thuần túy.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài:

  • Khảo sát và làm rõ hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư.
  • Đánh giá vai trò của từ láy trong việc góp phần thể hiện nội dung và khắc họa bức tranh đời sống, tâm lý con người Nam Bộ.
  • Tìm hiểu sự đóng góp của các từ láy mới, từ láy sáng tạo đối với vốn ngôn ngữ dân tộc.
  • Đánh giá tài năng vận dụng ngôn ngữ và giá trị tu từ của lớp từ láy tiếng Việt qua một văn bản nghệ thuật cụ thể.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua 3 nhiệm vụ cụ thể:

  1. Thống kê và phân loại toàn bộ hệ thống từ láy xuất hiện trong phạm vi ngữ liệu.
  2. Phân tích giá trị biểu hiện (chức năng miêu tả, bộc lộ cảm xúc, khắc họa không gian/nhân vật) của các từ láy được sử dụng.
  3. Phân tích và làm rõ nghệ thuật sử dụng từ láy của Nguyễn Ngọc Tư (tần số xuất hiện, việc biến đổi ngữ âm, chuyển nghĩa ngữ cảnh và thủ pháp liệt kê liên kết).

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lớp từ láy tiếng Việt và các biến thể ngữ âm, ngữ nghĩa của chúng trong tác phẩm văn học.
  • Phạm vi khảo sát ngữ liệu: Toàn bộ 14 truyện ngắn trong tập truyện Cánh đồng bất tận (Nhà xuất bản Trẻ, 2005), bao gồm: Cải ơi!, Thương quá rau răm, Hiu hiu gió bấc, Huệ lấy chồng, Cái nhìn khắc khoải, Nhà cổ, Cuối mùa nhan sắc, Mối tình năm cũ, Biển người mênh mông, Nhớ sông, Dòng nhớ, Duyên phận so le, Một trái tim khô, và Cánh đồng bất tận.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1. Khung lý thuyết và khái niệm Khóa luận tổng thuật quan điểm về bản chất và định nghĩa từ láy của nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tiếng Việt:

  • Quan điểm của Đỗ Hữu Châu (Từ vựng học tiếng Việt): Từ láy được cấu tạo theo phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (với sự phối hợp thanh điệu theo hai nhóm cao và thấp) của một hình vị hay đơn vị có nghĩa. Khóa luận chọn định nghĩa của Đỗ Hữu Châu làm cơ sở lý luận chính.
  • Khóa luận đối chiếu thêm định nghĩa của Nguyễn Thái Hòa (Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học), Hoàng Tuệ (Về những từ gọi là từ láy trong tiếng Việt), Nguyễn Thiện Giáp (Từ vựng học tiếng Việt), Hoàng Văn Hành (Về hiện tượng láy trong tiếng Việt), Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt), và Đinh Trọng Lạc (99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt).

Về phân loại từ láy: Tác giả vận dụng mô hình phân loại dựa trên số lần tác động của phương thức láy và cấu trúc ngữ âm:

  • Láy đôi: Gồm láy toàn bộ (giữ nguyên âm tiết, có hiện tượng biến thanh, biến vần) và láy bộ phận (láy âm đầu hoặc láy vần).
  • Láy ba: Cấu trúc ba âm tiết có sự hòa phối ngữ âm (ví dụ: cỏn còn con, tẻo tèo teo).
  • Láy tư: Cấu trúc bốn âm tiết mở rộng từ láy đôi hoặc lặp tổ hợp (ví dụ: lập cà lập cập, lóng nga lóng ngóng).
  • Khung lý thuyết về chức năng tu từ (miêu tả, bộc lộ, thay thế) và ý nghĩa của các khuôn vần láy đơn ([iêc], [âp], [uc], [ung], [ăn], [a], [i], [u]) cùng các khuôn vần láy kép ([u-i], [ung-inh], [ênh-ang]).
  • Tiêu chí phân biệt giữa từ láy chân chính, từ ghép đẳng lập, và các trường hợp trung gian (từ ghép đẳng lập láy hóa như mơ màng, nhanh nhẹn, đầm đìa, rực rỡ).

2. Phương pháp nghiên cứu Khóa luận phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ học:

  1. Phương pháp đọc sách và tài liệu: Thu thập văn bản tác phẩm và các công trình lý thuyết về từ vựng học, tu từ học tiếng Việt.
  2. Phương pháp thống kê: Đếm tần số xuất hiện của từ láy theo từng trang và theo từng tác phẩm trong tập truyện.
  3. Phương pháp phân tích ngôn ngữ: Phân tích cấu trúc ngữ âm, cấu tạo từ, ngữ nghĩa học và giá trị tu từ trong từng ngữ cảnh câu văn cụ thể.
  4. Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối chiếu các từ láy khảo sát được với ngữ liệu trong cuốn Từ điển từ láy Tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Trung tâm Khoa học Xã hội & Nhân văn Quốc gia, Nxb Khoa học Xã hội, 1998) nhằm phân loại từ chuẩn và từ biến thể/từ mới sáng tạo.
  5. Phương pháp thay thế: Thay thế từ láy bằng từ đơn hoặc từ ghép tương đương để làm nổi bật hiệu quả diễn đạt và giá trị thẩm mỹ mà từ láy mang lại.

3. Nguồn dữ liệu

  • Ngữ liệu phân tích thực tế: Tập truyện ngắn Cánh đồng bất tận (Nxb Trẻ, 2005) gồm 206 trang in.
  • Ngữ liệu đối chuẩn: Từ điển từ láy Tiếng Việt (1998, Viện Ngôn ngữ học).

Nội dung chính theo từng chương

Phần I. Dẫn luận

Phần này trình bày lý do chọn đề tài, mục đích, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu và tổng thuật lịch sử nghiên cứu tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư. Tác giả phân tích các luồng dư luận tiếp nhận tác phẩm Cánh đồng bất tận:

  • Đánh giá về mặt tư tưởng: Tranh luận giữa ý kiến phê bình gay gắt của ông Vưu Nghị Lực (nguyên Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Cà Mau) và các ý kiến bảo vệ tính nhân văn, quyền hư cấu của nhà văn từ ông Nguyễn Khắc Phê (Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế) cùng nhà nghiên cứu Phùng Hoài Ngọc (Đại học An Giang).
  • Đánh giá về mặt nội dung: Các nhận định từ GS. Nguyễn Văn Tuấn (Úc), nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên (Viện Văn học), các nhà văn Nguyễn Quang Sáng, Dạ Ngân, Hữu Thỉnh, Chu Lai về tính hiện thực, tính nhân bản và sự đổi mới của văn xuôi Nam Bộ.
  • Đánh giá về mặt hình thức: Khảo sát các nhận định của nhà nghiên cứu Huỳnh Công Tín về vốn từ ngữ địa phương, phong cách miêu tả tâm lý và hơi thở Nam Bộ. Từ đó, tác giả khẳng định khoảng trống nghiên cứu chuyên sâu về lớp từ láy dưới góc độ ngôn ngữ học, xác lập căn cứ triển khai đề tài.

Chương I. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương I xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết toàn diện về từ láy tiếng Việt:

  • Tổng hợp các định nghĩa học thuật, xác định cơ chế ngữ âm (sự luân phiên nguyên âm, quy luật phối bè trầm - bổng, biến đổi phụ âm cuối /p, t, k/ sang /m, n, ng/).
  • Trình bày hệ thống phân loại từ láy (láy đôi, láy ba, láy tư; phân lập láy âm và láy vần).
  • Phân tích cơ chế tạo nghĩa của từ láy: nghĩa tổng hợp khái quát, nghĩa sắc thái hóa (trạng thái hóa, kéo dài/dàn trải, hạn chế phạm vi sự vật) và tính biểu trưng ngữ âm của các khuôn vần.
  • Phân định ranh giới giữa từ láy và từ ghép: nhận diện từ đơn dạng láy (ba ba, chuồn chuồn), từ gốc Hán điệp âm (mộng mị, lanh lẹn), và các dạng từ ghép đẳng lập láy hóa (đất đai, chùa chiền, thờ ơ, lả lơi).
  • Khái quát đặc điểm văn phong và ngôn ngữ nghệ thuật Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư.

Chương II. Giá trị biểu hiện của một số từ láy trong truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư

Chương II tập trung phân tích giá trị của từ láy trong việc tái hiện hiện thực đời sống Nam Bộ:

  • Miêu tả cảnh quan thiên nhiên và không gian sinh hoạt sông nước: Phân tích cách sử dụng từ láy đặc tả không gian đồng bằng, kinh rạch, sông nước, sự biến chuyển của thời tiết, nắng hạn và mùa mưa bão.
  • Khắc họa ngoại hình, hành động và tính cách nhân vật: Sử dụng các từ láy tượng hình, tượng thanh để mô tả dáng dấp lam lũ, cử chỉ mộc mạc và phong thái chân chất của người nông dân miền Tây (dáng khật khừng, đi lững thững, ngồi chình ình, nói làu bàu).
  • Biểu đạt đời sống nội tâm và tâm lý: Phân tích các từ láy diễn tả những trạng thái tâm trạng tinh tế, phức tạp, những nỗi đau u uất, sự cô đơn hay tấm lòng thủy chung của con người trước nghịch cảnh (thắc thỏm, bẽ bàng, quắt queo, thảng thốt).

Chương III. Nghệ thuật sử dụng từ láy của Nguyễn Ngọc Tư

Chương III phân tích các nét đặc sắc về phong cách tu từ trong việc vận dụng từ láy của tác giả:

  • Sử dụng với tần số cao: Toàn bộ tập truyện 206 trang có mật độ trung bình trên 10 từ láy/trang, trang nào cũng có ít nhất từ 4 từ láy trở lên.
  • Sáng tạo chuỗi từ láy từ cùng một từ tố cơ sở: Điển hình là từ tố "nhỏ" được kết hợp linh hoạt thành hàng loạt từ láy với các sắc thái riêng biệt (nhỏ nhoi, nhỏ nhẻ, nhỏ nhặt, nhỏ nhen, nhỏ nhắn).
  • Tần suất lặp lại của các từ láy biểu cảm cao: Phân tích các từ láy được dùng lặp đi lặp lại nhiều lần trong các ngữ cảnh khác nhau như sung sướng, thắc thỏm, cằn nhằn, trợn trạo, thảng thốt, khật khừng, lặng lẽ, tần ngần, bẽ bàng, xao xác, lăng xăng, làu bàu, tao tác, tả tơi, xấp xãi.
  • Thủ pháp liệt kê chuỗi từ láy gần nghĩa: Kết hợp liên tiếp các từ láy đi liền nhau để tăng cường mức độ biểu đạt (hun hút mù mịt, hoang mang buồn bã rã rời, tần ngần day day, rờ rẫm săm soi, cồn cào oằn oại tơi tả).
  • Biến đổi ngữ âm tạo từ láy mới: Tác giả biến đổi âm đầu, vần hoặc thanh điệu dựa trên khẩu ngữ Nam Bộ để tạo ra các từ chưa có trong từ điển chuẩn như ngời ngời (từ cời cời), linh đinh (từ lênh đênh), xáo xác (từ xao xác), lựng bựng (từ lựng khựng), lủ khủ (từ lủ phủ), lầm lùi (từ lầm lũi/lầm lì), chẩng hẩng (từ chưng hửng).
  • Biến đổi ngữ nghĩa trong ngữ cảnh nghệ thuật: Mở rộng và chuyển đổi trường nghĩa của từ láy từ phạm trù này sang phạm trù khác, tạo hiệu quả thẩm mỹ độc đáo (cười héo hắt, cánh đồng ngoa ngoắt đổi thay, nhậu cườm cườm, hòn máu thoi thót, thắc thỏm mổ mỏ, nắng chênh vênh, mùa hạn hung hãn, lòng quắt queo tàn héo).

Kết quả và đóng góp của đề tài

1. Kết quả nghiên cứu chính

  • Khóa luận chỉ ra rằng tập truyện Cánh đồng bất tận có dung lượng 206 trang in, mật độ bình quân mỗi trang chứa 207 chữ, trong đó có hơn 10 từ láy được sử dụng trên một trang và không có trang nào xuất hiện dưới 4 từ láy.
  • Nhận diện và ghi nhận hàng loạt từ láy mới hoặc từ láy mang biến thể ngữ âm đặc thù phương ngữ Nam Bộ chưa được thu thập trong Từ điển từ láy Tiếng Việt (1998).
Dạng thức biến đổi Từ ngữ trong tác phẩm Từ đối chuẩn trong từ điển / Khẩu ngữ Giá trị biểu đạt trong ngữ cảnh
Biến đổi ngữ âm Khật khừng Chưa có trong từ điển Tư thế đi đứng chậm chạp, lưu luyến, bồi hồi
Xấp xãi Chưa có trong từ điển Ngoại hình xộc xếch; tư thế chạy vội vã, hốt hoảng
Lựng bựng Lựng khựng Trạng thái chần chừ, do dự, chưa biết xử trí ra sao
Lầm lùi Lầm lì / Lầm lũi Dáng đi lầm lũi lặng lẽ và tạo cảm giác xa dần
Chẩng hẩng Chưng hửng Cảm giác hẫng hụt, bất ngờ đến ngẩn người
Linh đinh Lênh đênh Sự trôi nổi vô định trên mặt nước sông rạch
Chuyển nghĩa ngữ cảnh Cười héo hắt Héo hắt (khô kiệt, héo tàn) Nụ cười gượng gạo, mất sinh khí, uất ức
Ngoa ngoắt đổi thay Ngoa ngoắt (lắm lời, quá quắt) Sự đổi thay nhanh chóng đến mức tàn nhẫn
Nhậu cườm cườm Cườm cườm (tương tự sương sương) Trạng thái uống rượu mức độ nhẹ, vừa mới bắt đầu
Mùa hạn hung hãn Hung hãn (tính cách hung dữ) Tính chất khốc liệt, gay gắt của thời tiết khô hạn
Lòng quắt queo Quắt queo (thực vật teo dúm) Tâm trạng đau đớn, héo mòn vì chờ đợi vô vọng

2. Đóng góp khoa học và thực tiễn

  • Về mặt từ vựng học: Cung cấp cứ liệu thực tế chứng minh quy luật vận động, tính mềm dẻo và khả năng sản sinh liên tục của phương thức láy trong tiếng Việt đương đại; bổ sung danh mục từ láy địa phương Nam Bộ vào kho tàng từ vựng.
  • Về mặt phong cách học: Làm sáng tỏ phong cách nghệ thuật cá nhân của Nguyễn Ngọc Tư qua nghệ thuật sử dụng từ láy có tần số cao, thủ pháp ghép cặp từ gần nghĩa và kỹ thuật chuyển nghĩa ngữ cảnh.
  • Về mặt ứng dụng sư phạm: Cung cấp tư liệu dẫn chứng sinh động, mang tính thời sự phục vụ công tác giảng dạy ngôn ngữ học, ngữ văn học và phong cách học trong nhà trường.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian và dung lượng của một khóa luận tốt nghiệp, phạm vi khảo sát ngữ liệu mới chỉ dừng lại ở 14 truyện ngắn trong một tập truyện duy nhất (Cánh đồng bất tận), chưa bao quát toàn bộ các tập truyện ngắn khác hay các thể loại phi hư cấu mà tác giả đã xuất bản.
  • Hướng phát triển: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các tập truyện ngắn khác (Ngọn đèn không tắt, Biển người mênh mông, Giao thừa) cũng như các thể loại văn học khác của Nguyễn Ngọc Tư (tạp văn, bút ký, truyện thiếu nhi) để có cái nhìn toàn diện hơn về hệ thống từ láy và phong cách ngôn ngữ của tác giả qua từng giai đoạn sáng tác.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Việt ngữ học, Lý luận văn học và Phong cách học tiếng Việt; người nghiên cứu về văn học Nam Bộ đương đại.
  • Nội dung giá trị nhất: Hệ thống ngữ liệu phân tích chi tiết về các biến thể ngữ âm địa phương của từ láy Nam Bộ (Chương III) và phương pháp tiếp cận tác phẩm văn xuôi hiện đại từ góc độ thống kê - tu từ học ngôn ngữ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả khóa luận sử dụng định nghĩa từ láy của nhà ngôn ngữ học nào làm cơ sở lý thuyết chính? Tác giả chọn định nghĩa của GS. Đỗ Hữu Châu trong công trình Từ vựng học tiếng Việt làm cơ sở lý luận nền tảng do tính rõ ràng, chuẩn xác và bao quát đầy đủ các đặc trưng cấu tạo ngữ âm và tạo nghĩa của từ láy.

2. Mật độ sử dụng từ láy trong tập truyện "Cánh đồng bất tận" được thống kê cụ thể là bao nhiêu? Trong tổng số 206 trang in (trung bình mỗi trang khoảng 207 chữ), tập truyện có mật độ bình quân hơn 10 từ láy/trang và tất cả các trang đều có tối thiểu từ 4 từ láy trở lên.

3. Khóa luận đã phát hiện những từ láy mới nào chưa có trong "Từ điển từ láy Tiếng Việt" (1998)? Khóa luận đã ghi nhận nhiều từ láy sáng tạo hoặc biến thể phương ngữ chưa có trong từ điển như: khật khừng, xấp xãi, lựng bựng, lầm lùi, chẩng hẩng, cườm cườm.

4. Từ tố cơ sở "nhỏ" được Nguyễn Ngọc Tư biến hóa thành những từ láy nào trong tác phẩm? Từ tố "nhỏ" được kết hợp thành các từ láy: nhỏ nhoi (chỉ thân phận, mơ ước, ánh đèn), nhỏ nhẻ (chỉ cách nói năng, ăn uống), nhỏ nhặt (chỉ tính cách xét nét), nhỏ nhen (chỉ sự so đo), và nhỏ nhắn (chỉ đồ vật).

5. Khóa luận sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể nào? Đề tài sử dụng phối hợp 5 phương pháp: đọc tài liệu, thống kê định lượng, phân tích ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa), so sánh đối chiếu (với từ điển chuẩn) và phương pháp thay thế từ.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Kim Loan đã khảo sát toàn diện hệ thống từ láy trong 14 truyện ngắn thuộc tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư trên cả hai bình diện định lượng và định tính. Bằng việc đối chiếu với Từ điển từ láy Tiếng Việt, công trình đã chỉ ra nghệ thuật sử dụng từ láy với tần số cao, thủ pháp liệt kê liên kết và các biến đổi ngữ âm, chuyển nghĩa mang đậm dấu ấn khẩu ngữ Nam Bộ. Đây là tài liệu nghiên cứu ngôn ngữ học có giá trị tham khảo tốt cho việc tìm hiểu thi pháp ngôn từ và phong cách văn xuôi Nam Bộ hiện đại.