Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Tài nguyên thú tại Việt Nam sở hữu tính đa dạng sinh học cao với 322 loài, 155 giống, 43 họ và 15 bộ (theo Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Tuy nhiên, các tác động tiêu cực từ hoạt động nhân sinh đã và đang khiến nguồn tài nguyên này suy giảm nghiêm trọng về số lượng loài cũng như quy mô quần thể. Theo Sách đỏ Việt Nam (2007), có 90 loài thú đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, chiếm tới 29,2% tổng số loài thú của cả nước, bao gồm nhiều loài đặc hữu có giá trị bảo tồn toàn cầu như Voọc mũi hếch, Chà vá chân xám, Voọc đầu trắng. Trong các lớp động vật có xương sống, lớp thú chịu áp lực săn bắt lớn nhất để phục vụ nhu cầu thực phẩm, dược liệu và buôn bán thương mại, đồng thời sinh cảnh sống tự nhiên ngày càng bị chia cắt và thu hẹp.
Vườn Quốc gia (VQG) Pù Mát được thành lập ngày 21 tháng 5 năm 1997 theo Quyết định số 2150/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, trực thuộc sự quản lý của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An. Khu vực có diện tích vùng lõi 94.804,4 ha và vùng đệm khoảng 86.000 ha trải dài trên địa bàn 16 xã thuộc 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông và Tương Dương. Số liệu thống kê của Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế VQG Pù Mát (2015) ghi nhận khu hệ thú tại đây có 132 loài (42 loài thú lớn, 39 loài dơi, 51 loài thú nhỏ) thuộc 11 bộ và 30 họ. Trong đó, có 24 loài bị đe dọa tuyệt chủng toàn cầu và 40 loài có nguy cơ tuyệt chủng cấp quốc gia, điển hình như Voi (Elephas maximus), Hổ (Panthera tigris), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys), Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus nemaeus). Mặc dù đã có nhiều chương trình điều tra trước đây, các dữ liệu về hiện trạng và phân bố chi tiết của các loài thú quý hiếm tại Pù Mát vẫn cần được cập nhật liên tục để phục vụ công tác quản lý thực tế. Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lò Văn Thánh (Trường Đại học Lâm nghiệp, 2016) được thực hiện nhằm giải quyết yêu cầu thực tiễn này.
Mục tiêu chung của đề tài là bảo tồn tài nguyên thú, đặc biệt là các loài thú quý hiếm tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An. Đề tài xác định 5 mục tiêu cụ thể:
- Lập được danh lục các loài thú quý hiếm tại VQG Pù Mát;
- Xác định được tình trạng của các loài thú quý hiếm tại khu vực nghiên cứu;
- Xác định được vùng phân bố của các loài thú quý hiếm tại VQG Pù Mát;
- Xác định được các tác động tiêu cực của người dân địa phương đến các loài thú quý hiếm trong khu vực;
- Đưa ra được các giải pháp quản lý và bảo tồn các loài thú quý hiếm phù hợp với điều kiện thực tiễn tại VQG Pù Mát.
Đối tượng nghiên cứu là các loài thú quý hiếm hiện diện tại VQG Pù Mát. Về phạm vi không gian, nghiên cứu được triển khai tại VQG Pù Mát trên địa bàn 5 xã gồm Phúc Sơn, Tam Quang, Tam Đình, Châu Khê và Chi Khê. Về phạm vi thời gian, đề tài thực hiện trong 4 tháng (từ tháng 02/2016 đến tháng 05/2016), trong đó giai đoạn điều tra thu thập số liệu thực địa diễn ra từ ngày 05/04/2016 đến ngày 25/04/2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận sử dụng hệ thống danh lục, tên khoa học, tên phổ thông và khung phân loại học lớp thú của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009). Căn cứ xác định các loài thú quý hiếm và mức độ bảo tồn dựa trên 4 tài liệu pháp lý và khoa học:
- Sách đỏ Việt Nam (2007);
- Danh lục Đỏ của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế - IUCN (2015);
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (nhóm IB và IIB);
- Phụ lục Công ước quốc tế về buôn bán các loài động thực vật hoang dã nguy cấp - CITES (2015).
Phương pháp đánh giá các mối đe dọa tác động lên khu hệ thú được thực hiện theo khung lý thuyết của Margoluis và Salafsky (2001). Theo đó, mỗi mối đe dọa được đánh giá và xếp hạng cho điểm dựa trên 3 tiêu chí định lượng: diện tích ảnh hưởng (tỷ lệ không gian bị tác động), cường độ ảnh hưởng (mức độ tàn phá sinh cảnh) và tính cấp thiết (mức độ nguy hại ở hiện tại hoặc tương lai). Vùng phân bố của các loài thú quý hiếm được tổng hợp và số hóa bản đồ chuyên đề thông qua phần mềm MapInfo 10.5.
Khóa luận sử dụng kết hợp 3 phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:
- Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập và phân tích luận chứng kinh tế kỹ thuật thành lập VQG Pù Mát, các báo cáo nghiên cứu đa dạng sinh học trước đây (dự án SFNC, tổ chức FFI), số liệu điều tra bẫy ảnh (1998-2002), báo cáo quản lý lâm phận, bản đồ hiện trạng rừng và bản đồ địa hình.
- Phương pháp phỏng vấn: Tiến hành phỏng vấn sâu 2 nhóm đối tượng gồm 05 cán bộ quản lý VQG (thu thập thông tin vùng phân bố, đặc điểm hình thái, tiếng kêu của thú) và 25 người dân địa phương sinh sống ven rừng thường xuyên đi săn bắt hoặc khai thác lâm sản (thu thập thông tin về loài bắt gặp, địa điểm, số lượng và các hành vi tác động).
- Phương pháp điều tra theo tuyến: Thiết lập 06 tuyến điều tra ngoài thực địa (ký hiệu từ T1 đến T6) tại sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ và tre nứa. Tọa độ điểm đầu của các tuyến đều xuất phát tại tọa độ mốc kiểm soát (500512 - 2083450) và tỏa đi các điểm cuối khác nhau. Mỗi tuyến được điều tra lặp lại 3 lần. Người điều tra di chuyển với vận tốc 1,5 - 2,5 km/h, quan sát dải bề rộng 50 m mỗi bên bằng mắt thường và ống nhòm (dừng quan sát 5 - 10 phút tại các điểm thoáng, dông núi). Sử dụng máy định vị vệ tinh GPS để ghi nhận tọa độ các điểm bắt gặp cá thể hoặc dấu vết gián tiếp (dấu chân, phân, vết cào bới, cây bị gãy đổ do ăn cỏ/lá), chụp ảnh và đo đếm chi tiết vào biểu mẫu điều tra ngoại nghiệp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết cơ sở lý luận về đặc điểm sinh học lớp thú (Mammalia), hệ thống hóa sự biến đổi về kết quả phân loại thú Việt Nam qua các thời kỳ: từ 223 loài thuộc 12 bộ (Đặng Huy Huỳnh và cs., 1994), 252 loài thuộc 13 bộ (Lê Vũ Khôi, 2000), 310 loài thuộc 14 bộ tính cả thú biển (Kyznetsov, 2006), 295 loài (Đặng Ngọc Quân và cs., 2008) đến 322 loài thuộc 15 bộ (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Tác giả phân tích tính chất phân vùng địa lý động vật học của Việt Nam thành 5 vùng đặc trưng (Đông Bắc, Tây Bắc - Hoàng Liên Sơn, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ - Tây Nguyên, Nam Bộ), khẳng định khu hệ thú Pù Mát thuộc vùng Bắc Trung Bộ mang đậm tính hỗn hợp và chứa đựng nhiều yếu tố đặc hữu. Chương 1 cũng điểm lại các chính sách bảo tồn (Sách đỏ Việt Nam 2007 ghi nhận 4 loài thú tuyệt chủng hoàn toàn EX, 1 loài tuyệt chủng ngoài tự nhiên EW; Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Công ước CITES 2015), đồng thời tổng thuật các công trình nghiên cứu đã triển khai tại Pù Mát như điều tra khu hệ của Phạm Nhật (1992), dự án SFNC/FFI (1998-1999 thu thập 70 mẫu thú nhỏ, 3600 mẫu dơi, 42 thú lớn), sổ tay nhận diện thú của Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng (2001), các nghiên cứu bảo tồn Hổ (2001), bảo tồn Gấu (2002) và bảo tồn Sao la (2004).
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, phạm vi nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết mục tiêu nghiên cứu, xác định đối tượng là thú quý hiếm, cụ thể hóa phạm vi tại 5 xã thuộc 3 huyện vùng đệm và thời gian thực hiện 4 tháng năm 2016. Tác giả diễn giải 5 nội dung nghiên cứu tương ứng với hệ thống mục tiêu. Phần phương pháp mô tả quy trình thực hiện kế thừa tài liệu; kỹ thuật thiết kế bảng hỏi và danh sách phỏng vấn 30 người (5 cán bộ, 25 người dân); thông số kỹ thuật của 06 tuyến điều tra thực địa (tọa độ GPS điểm đầu, điểm cuối, chiều dài, sinh cảnh hỗn giao tre nứa); quy cách đo vẽ dấu vết; tiêu chí cho điểm các mối đe dọa theo Margoluis và Salafsky (2001); cũng như các biểu mẫu thống kê danh lục và ứng dụng phần mềm MapInfo 10.5.
Chương 3: Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Chương 3 khái quát điều kiện tự nhiên VQG Pù Mát (tọa độ 18°46’ – 19°12’ vĩ độ Bắc; 104°24’ – 104°56’ kinh độ Đông, có 61 km đường biên giới giáp Lào). Vùng lõi có diện tích 94.804,4 ha, địa hình chia cắt mạnh hiểm trở với các đỉnh núi dốc cao từ 800 - 1500 m. Khu vực có 3 nhóm đất chính: đất feralit mùn trên núi trung bình (34.000 ha), đất feralit đỏ vàng đồi và núi thấp (15.107 ha, chiếm 77,6% diện tích) và đất dốc tụ phù sa (9.140 ha). Khí hậu mang tính nhiệt đới gió mùa phân hóa sâu sắc do hiệu ứng phơn tây nam khô nóng kéo dài từ tháng 4 đến tháng 7 (nhiệt độ tối cao đạt 42°C tại Con Cuông, Tương Dương; độ ẩm nhiều ngày dưới 30%), mùa mưa tập trung vào tháng 9-10 sinh lũ lụt. Thảm thực vật ghi nhận 1.297 loài thuộc 607 chi, 160 họ; khu hệ động vật có 938 loài (trong đó có 131 loài thú).
Về kinh tế - xã hội, địa bàn 16 xã có dân số đông, đa thành phần dân tộc (Thái chiếm 66,89%, Mường, Khơ Mú, Kinh, Đan Lai, Ơ Đu). Mật độ dân cư phân bố không đồng đều (xã Tam Hợp chỉ 7 người/km² trong khi Đỉnh Sơn đạt 495 người/km²). Hoạt động kinh tế chủ yếu là trồng trọt lúa, hoa màu năng suất thấp (23% số hộ thiếu lương thực lúc giáp hạt) và chăn nuôi thả rông đại gia súc vào rừng. Tỷ lệ mù chữ tại các vùng sâu còn cao (khoảng 30% người Đan Lai mù chữ). Khóa luận liệt kê các hoạt động xâm hại tài nguyên rừng bao gồm: khai thác gỗ/củi, săn bắt động vật hoang dã, đánh bắt thủy sản bằng chất độc/kích điện, thả rông gia súc dưới tán rừng và thu hái lâm sản ngoài gỗ (trầm hương, măng, dược liệu).
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh kết quả xử lý từ các nguồn số liệu thực địa, phỏng vấn và kế thừa tài liệu:
- Thành phần và taxon: Ghi nhận 129 loài thú thuộc 30 họ và 11 bộ hiện diện tại Pù Mát, trong đó xác định được 49 loài thú quý hiếm thuộc 18 họ và 7 bộ. Phân tích đa dạng taxon chỉ ra bộ Ăn thịt (Carnivora) chiếm ưu thế vượt trội với 6 họ (33,34%) và 24 loài (48,98%), tiếp theo là bộ Linh trưởng (Primates) với 3 họ, 8 loài (16,33%) và bộ Guốc chẵn (Artiodactyla) với 3 họ, 8 loài (16,33%).
- Hiện trạng 5 loài thú tiêu biểu:
- Voi (Elephas maximus): 100% người được phỏng vấn xác nhận sự xuất hiện của voi tại Cao Vều và Khe Kèm với quy mô 5-8 cá thể (80% khẳng định có 8 cá thể). Vùng Cao Vều có 7 cá thể, Khe Kèm có 1 cá thể cái đơn độc. Đàn voi di chuyển kiếm ăn trên phạm vi diện tích khoảng 50 km² qua các khu vực Làng Yên, Khe Rễ, Khe Rung, Khe Mai, Khe Xúc. Dấu vết thực địa tại Khe Xúc cho thấy chuối rừng bị bẻ gãy, quật đổ kiếm ăn cách thời điểm điều tra 2-3 tháng. Đàn voi Cao Vều có tính xung đột cao, từng làm chết 3 người dân địa phương và phá hoại hoa màu; chính quyền đang phải xây hào chắn ngăn voi.
- Vượn đen má trắng (Nomascus leucogenys): Pù Mát chiếm 2/3 số lượng loài của cả nước. Dù không gặp trực tiếp trên tuyến, kết quả phỏng vấn ghi nhận loài xuất hiện tại vực Vằng Ca và khu vực hiểm trở giáp biên giới Việt - Lào.
- Voọc chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus nemaeus): Số lượng suy giảm mạnh so với 10 năm trước do săn bắt, hiện chỉ còn ghi nhận thông tin phân bố tại vùng núi cao vực Vằng Ca và giáp biên giới.
- Sao la (Pseudoryx nghetinhensis): Phát hiện đầu tiên năm 1992, loài đặc hữu phân bố hẹp quanh khu vực cột mốc biên giới 134 và 135; đợt điều tra ghi nhận dấu vết thực địa.
- Khỉ mặt đỏ (Macaca arctoides): Quần thể suy giảm nhanh chóng do áp lực bẫy bắt cung cấp cho các nhà hàng đặc sản; sinh cảnh bị đẩy lùi vào vùng lõi rừng già giáp biên giới.
- Phân bố theo sinh cảnh: Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình chiếm 85-90% diện tích VQG, ít bị tác động, là nơi cư trú chính của phần lớn thú quý hiếm (Nhím, Vượn đen má trắng, Voọc chà vá chân nâu, Khỉ mặt đỏ, Lợn rừng). Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên núi đá thường xanh nghèo ở cửa rừng chịu tác động phá rừng và chăn thả mạnh, ghi nhận Sóc bụng đỏ, Cầy móc cua, Voi. Sinh cảnh rừng phục hồi sau nương rẫy và trảng cỏ cây bụi ít dấu vết thú, song là nơi voi hay xuống tìm kiếm thức ăn vào tháng 7-8 và dịp đầu năm mới.
- Mối đe dọa và giải pháp: Nhận diện các nguy cơ chính gồm săn bắt trái phép, khai thác gỗ lậu, chăn thả gia súc, lấn chiếm đất rừng và khai thác lâm sản ngoài gỗ. Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp: xây dựng chương trình điều tra giám sát định kỳ; giảm thiểu đe dọa (hào ngăn voi, tháo gỡ bẫy); nâng cao nhận thức cộng đồng; tăng cường kiểm tra bảo vệ rừng; và hỗ trợ phát triển kinh tế vùng đệm nhằm giảm phụ thuộc vào rừng.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đã lập danh lục và phân tích cấu trúc của 49 loài thú quý hiếm thuộc 18 họ và 7 bộ tại VQG Pù Mát. Số loài thú quý hiếm chiếm 38,0% tổng số loài, 56,7% tổng số họ và 63,6% tổng số bộ thú của toàn Vườn Quốc gia, đồng thời đại diện cho 46,7% tổng số bộ thú của cả nước.
| STT |
Bộ thú |
Tên khoa học |
Số họ |
Tỷ lệ họ (%) |
Số loài |
Tỷ lệ loài (%) |
| 1 |
Bộ Nhiều răng |
Scandentia |
1 |
5,56 |
1 |
2,04 |
| 2 |
Bộ Cánh da |
Dermoptera |
1 |
5,56 |
1 |
2,04 |
| 3 |
Bộ Linh trưởng |
Primates |
3 |
16,66 |
8 |
16,33 |
| 4 |
Bộ Ăn thịt |
Carnivora |
6 |
33,34 |
24 |
48,98 |
| 5 |
Bộ Có vòi |
Proboscidea |
1 |
5,56 |
1 |
2,04 |
| 6 |
Bộ Guốc chẵn |
Artiodactyla |
3 |
16,66 |
8 |
16,33 |
| 7 |
Bộ Gặm nhấm |
Rodentia |
3 |
16,66 |
6 |
12,24 |
| Tổng |
7 Bộ |
|
18 |
100,0 |
49 |
100,0 |
Về giá trị bảo tồn, trong 49 loài thú quý hiếm:
- Cấp quốc gia: Có 29 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam (2007), gồm 02 loài Cực kỳ nguy cấp (CR) là Voi (Elephas maximus) và Báo hoa mai (Panthera pardus); 13 loài Nguy cấp (EN) như Gấu ngựa, Gấu chó, Sói đỏ, Chồn dơi, Voọc chà vá chân nâu, Vượn đen má trắng, Mèo lửa, Mèo cá, Bò tót, Sơn dương, Sao la; 14 loài Sắp nguy cấp (VU). Có 31 loài được bảo vệ theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP (21 loài thuộc nhóm IB cấm khai thác thương mại, 10 loài thuộc nhóm IIB hạn chế khai thác).
- Nguồn dẫn liệu ghi nhận 49 loài: Có 03 loài ghi nhận qua quan sát và dấu vết thực địa (chiếm 6,12% gồm Voi, Sao la và Cầy móc cua); 30 loài ghi nhận qua phỏng vấn có đối chiếu thực địa (chiếm 61,23%); và 16 loài ghi nhận thuần túy qua kế thừa tài liệu khoa học trước đó (chiếm 32,65%).
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cập nhật số liệu thực tế về ranh giới di chuyển và xung đột sinh thái của quần thể voi Pù Mát (khoảng 8 con, vùng di chuyển 50 km², xung đột làm chết người và giải pháp làm hào chắn), xác định các điểm nóng phân bố của các loài linh trưởng nguy cấp (Vực Vằng Ca, biên giới Việt - Lào), đồng thời phân loại rõ rệt áp lực của từng mối đe dọa sinh cảnh làm căn cứ cho công tác tuần tra bảo vệ rừng của VQG.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế do điều kiện thực hiện:
- Thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (khoảng 20 ngày trong tháng 4 năm 2016), nguồn nhân lực mỏng và phạm vi khảo sát mới bao quát được một phần diện tích VQG (chủ yếu trên địa bàn 5 xã).
- Chưa phát hiện thêm loài thú mới cho khu hệ VQG Pù Mát; tỷ lệ loài ghi nhận trực tiếp qua dấu vết trên tuyến còn rất thấp (chỉ 3/49 loài, chiếm 6,12%), đa số dữ liệu dựa trên phỏng vấn hồi cứu từ người dân địa phương (61,23%) và kế thừa tài liệu cũ (32,65%).
- Các đợt điều tra thực địa chưa tiếp cận sâu được các vùng lõi giáp ranh biên giới Việt - Lào do địa hình chia cắt hiểm trở.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản đề cập là cần tổ chức các chương trình điều tra, giám sát chuyên sâu định kỳ; mở rộng hệ thống tuyến tuần tra vào sâu vùng lõi; và tăng cường ứng dụng phương pháp bẫy ảnh tự động dài ngày để kiểm chứng chuẩn xác kích thước quần thể của các loài thú lớn, thú ăn thịt và linh trưởng quý hiếm.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là nguồn tư liệu chuyên khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu thuộc các ngành Quản lý tài nguyên rừng, Lâm học, Bảo tồn đa dạng sinh học và Sinh thái học động vật:
- Phần phương pháp nghiên cứu cung cấp mẫu thiết kế tuyến điều tra theo dõi dấu vết thú trong sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ - tre nứa, bảng phỏng vấn cộng đồng và thang đánh giá mối đe dọa sinh cảnh theo Margoluis và Salafsky (2001).
- Bảng danh mục chi tiết 49 loài thú quý hiếm (kèm đối chiếu tên khoa học, họ bộ, phân hạng Sách đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2015, Nghị định 32/2006/NĐ-CP và CITES 2015) là tài liệu tra cứu trực tiếp phục vụ các đề tài đánh giá đa dạng sinh học khu hệ thú miền Bắc Trung Bộ.
- Dữ liệu thực địa về tập tính di chuyển, phạm vi kiếm ăn và tình trạng xung đột của đàn voi rừng tại xã Cao Vều có giá trị tham khảo thiết thực cho Ban quản lý VQG Pù Mát và kiểm lâm địa bàn trong việc triển khai giải pháp hào ngăn voi và bảo vệ an toàn cho cộng đồng dân cư vùng đệm.
Câu hỏi thường gặp
1. Quần thể Voi châu Á (Elephas maximus) tại VQG Pù Mát được khóa luận xác định có bao nhiêu cá thể và phân bố ở những khu vực nào?
Kết quả phỏng vấn 25 người dân địa phương ghi nhận 100% ý kiến xác nhận có voi xuất hiện, trong đó 80% khẳng định đàn voi có 8 cá thể (dao động từ 5 - 8 cá thể). Voi phân bố tập trung ở hai khu vực: đàn 7 cá thể tại xã Cao Vều (di chuyển qua Khe Xúc, Khe Rung, Khe Mai, Khe Rễ) và 01 cá thể cái sống độc lập tại khu vực Khe Kèm. Vùng hoạt động kiếm ăn của đàn voi rộng khoảng 50 km² từ Làng Yên sang Khe Rễ, Khe Rung, Khe Mai và Khe Xúc.
2. Bộ thú nào chiếm tỷ lệ đa dạng cao nhất trong danh lục các loài thú quý hiếm tại VQG Pù Mát?
Bộ Ăn thịt (Carnivora) chiếm ưu thế tuyệt đối về độ đa dạng với 6 họ (chiếm 33,34% tổng số họ thú quý hiếm) và 24 loài (chiếm 48,98% tổng số loài thú quý hiếm ghi nhận). Sự vượt trội này phản ánh tính chất sinh cảnh rừng Pù Mát còn cung cấp nguồn thức ăn và nơi ẩn náu thích hợp cho các nhóm thú ăn thịt nhỏ và trung bình.
3. Tỷ lệ ghi nhận 49 loài thú quý hiếm từ các nguồn dẫn liệu khác nhau được phân bổ như thế nào?
Khóa luận xác định: có 03 loài được ghi nhận trực tiếp qua dấu vết thực địa trên tuyến (chiếm 6,12%, gồm Voi, Sao la, Cầy móc cua); 30 loài được ghi nhận qua phỏng vấn nhân dân và cán bộ kiểm lâm đã được kiểm chứng (chiếm 61,23%); và 16 loài thuần túy kế thừa từ các tài liệu, công trình nghiên cứu đã công bố trước đây (chiếm 32,65%).
4. Dạng sinh cảnh nào tại VQG Pù Mát là nơi cư trú chủ yếu của các loài thú quý hiếm?
Sinh cảnh rừng gỗ tự nhiên núi đất lá rộng thường xanh trung bình là nơi phân bố chủ yếu của các loài thú quý hiếm. Dạng sinh cảnh này chiếm 85% - 90% diện tích VQG, có địa hình chia cắt mạnh, xa khu dân cư, ít bị con người tác động, thảm thực vật phong phú, là nơi sinh sống của Nhím, Vượn đen má trắng, Voọc chà vá chân nâu, Khỉ mặt đỏ, Lợn rừng.
5. Vì sao chính quyền địa phương phải xây dựng hệ thống hào chắn voi tại khu vực Cao Vều?
Đàn voi khoảng 7 cá thể tại bản Cao Vều thường xuyên xuống bản tìm kiếm thức ăn vào mùa đông, đầu xuân (khi rừng khan hiếm thức ăn) hoặc tháng 7-8 hàng năm. Đàn voi này có tính hung dữ, phá hoại nhiều diện tích hoa màu, cây lâm nghiệp và đã làm chết 3 người dân địa phương. Do đó, hệ thống hào chắn được xây dựng dọc từ Khe Rễ đến Khe Xúc và Khe Mai để ngăn voi tràn vào khu vực canh tác và khu dân cư.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lò Văn Thánh đã tổng hợp và xác định được danh lục 49 loài thú quý hiếm thuộc 18 họ và 7 bộ tại Vườn Quốc gia Pù Mát, trong đó bộ Ăn thịt chiếm tỷ lệ ưu thế cao nhất. Dữ liệu thực địa và phỏng vấn đã làm rõ tình trạng phân bố, đặc điểm sinh cảnh cư trú và các xung đột nhân sinh tiêu biểu của các loài nguy cấp như Voi châu Á, Sao la và các loài linh trưởng. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực tế để Ban quản lý VQG Pù Mát và Chi cục Kiểm lâm Nghệ An xây dựng các phương án tuần tra, ngăn chặn săn bắt trái phép và triển khai giải pháp hào chắn bảo tồn đàn voi rừng.