ĐẶT VẤN ĐỀ Tài nguyên thú ở Việt Nam khá đa dạng với 322 loài, 155 giống, 43 họ và 15 bộ thú (Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh, 2009). Tuy nhiên các hoạt động thiếu ý thức của con ngƣời đã làm cho nguồn tài nguyên này ngày càng suy giảm nghiêm trọng về số lƣợng loài và kích thƣớc quần thể của các loài. Theo thống kê trong Sách đỏ Việt Nam (2007), hiện có 90 loài thú đang đứng trƣớc nguy cơ bị tuyệt chủng và nghiêm trọng hơn trong số đó có rất nhiều loài đặc hữu nhƣ: Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea), Vọoc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Vọoc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus). đang trở thành mối quan tâm của toàn cầu về sự mất mát loài.
Các loài thú, đặc biệt là các loài thú có giá trị thƣờng là đối tƣợng chính của thợ săn vì chúng phục vụ các nhu cầu về thực phẩm, dƣợc liệu hoặc để thƣơng mại. Thú càng lớn càng là đối tƣợng săn bắn chủ yếu hoặc sinh cảnh sống bị thu hẹp do con ngƣời tàn phá. Do vậy, trong 4 lớp động vật có xƣơng sống thì lớp thú có số loài có tên trong Sách đỏ nhiều nhất (29,2% tổng số loài thú). Không những vậy, số lƣợng các loài động vật rừng nói chung và các loài thú nói riêng ngày càng giảm mạnh trong những năm gần đây nên số lƣợng các loài có nguy cơ tuyệt chủng còn có thể cao hơn nếu Sách đỏ Việt Nam đƣợc cập nhật.
Nhận thức đƣợc giá trị to lớn trong việc bảo tồn tài nguyên quốc gia, đặc biệt là các loài đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, Chính phủ Việt Nam và cơ quan chức năng đã có nhiều biện pháp nhằm bảo tồn các loài động vật hoang dã nhƣ bảo tồn nội vi, ngoại vi, hay bằng pháp chế. Mặc dù vậy, các loài thú vẫn đang phải đối mặt với các mối đe dọa nhƣ: săn bắn trái phép để cung cấp nguồn thực phẩm, buôn bán; mất môi trƣờng sống do ngƣời dân khai thác gỗ, củi, lâm sản, phá rừng, lấn chiếm đất rừng. Các mối đe dọa này gây suy giảm số lƣợng các loài thú hoặc thu hẹp vùng sống của chúng. Vì vậy, việc thành lập các khu rừng đặc dụng nhằm hạn chế tác động của con ngƣời đến tài nguyên rừng có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo tồn loài.
1 Vƣờn Quốc Gia (VQG) Pù Mát đƣợc thành lập vào ngày 21 tháng 5 năm 1997 theo Quyết định số 2150/QĐ-UB của UBND Tỉnh Nghệ An và thuộc sự quản lí của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Nghệ An. VQG Pù Mát đƣợc thành lập nhằm bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học và các giá trị văn hoá, lịch sử, cảnh quan trong phạm vi của Vƣờn. Theo nguồn thông tin của Phòng Khoa học và Hợp tác Quốc tế - VQG Pù Mát (2015) đã ghi nhận sự đa dạng cao về nguồn tài nguyên thú ở VQG Pù Mát với 132 loài (42 loài thú lớn, 39 loài dơi và 51 loài thú nhỏ), thuộc 11 bộ và 30 họ. Trong số đó có 24 loài thú đang bị đe dọa tuyệt chủng toàn cầu và 40 loài thú có nguy cơ bị tuyệt chủng cao ở Việt Nam.
Các loài thú quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng cao ở VQG Pù Mát tiêu biểu là các loài: Voi (Elephas maximus), Hổ (Panthera tigris), Sao la (Pseudoryx nghetinhensis), Vƣợn đen má trắng (Nomascus leucogenys), Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus nemaeus), Khỉ đuôi lợn (Macaca nemestrina), Mang trƣờng sơn (Muntiacus truongsonensis), Chó sói lửa (Cuon alpinus) (Vƣờn Quốc gia Pù Mát, 2015). Xuất phát từ thực tiễn trên, tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình trạng và phân bố của một số loài thú quý hiếm tại Vườn Quốc Gia Pù Mát, Tỉnh Nghệ An”. Đề tài đƣợc thực hiện nhằm cung cấp các thông tin hữu ích trong việc bảo tồn các loài thú quý hiếm nói riêng và tài nguyên động vật rừng nói chung tại VQG Pù Mát. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Đặc điểm lớp thú Theo tài liệu của Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy (1998), Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009), đặc điểm chung của các loài thú đƣợc miêu tả nhƣ sau: Lớp thú (Mamalia) là nhóm động vật có tổ chức cao nhất trong động vật Có xƣơng sống. Cơ thể phủ lông mao (một số ít loài không có lông). Da có nhiều loại tuyến, nhƣng nổi bật là có tuyến sữa. Bộ xƣơng có sự tiến hoá cao nhƣ: sọ có 2 lồi cầu chẩm, xƣơng màng nhĩ và xƣơng xoăn mũi do có liên quan đến sự phát triển của thính giác và khứu giác mà phân hoá phức tạp, cổ có 7 đốt, chi có cấu tạo 5 ngón điển hình nhƣng có biến đổi để thích nghi với các lối vận chuyển khác nhau.
Có cơ hoành đặc trƣng, ngăn cách và hình thành xoang ngực và xoang bụng. Răng phân hoá, mọc trên xƣơng hàm. Hệ thần kinh phát triển rất cao, bán cầu não trƣớc có vỏ não lớn và hình thành vòm não mới, có nhiều khe rãnh trên bán cầu não, tiểu não hình thành bán cầu tiểu não. Có đủ 12 đôi dây thần kinh não - giác quan phát triển mạnh.
Tim có 4 ngăn, chỉ có chủ động mạch trái, hồng cầu không nhân - lõm 2 mặt - hổi có buồng thanh, nhiều phế nang, khả năng trao đổi khí với cƣờng độ cao. Là động vật đẳng nhiệt, khả năng điều hoà thân nhiệt cao. Hậu thận, ống dẫn niệu mở vào bóng đái, ống dẫn niệu - sinh dục và ống tiêu hoá đổ vào hai lỗ khác nhau - có cơ quan giao phối, dịch hoàn nằm lọt xuống bìu ngoài xoang bụng - Có 02 buồng trứng, 02 ống dẫn và 01 tử cung, 01 âm đạo. Trứng nhỏ, thụ tinh trong và phát triển trong tử cung.
Đối với thú cao thì phôi có liên hệ mật thiết với cơ thể mẹ qua màng phôi là màng ối, màng đệm, túi niệu tạo thành nhau thai. Nuôi con bằng sữa. Lớp thú có ba dạng chính do thích nghi với môi trƣờng sống: 3 Dạng có đầu, mình, cổ, và đuôi phân biệt rõ ràng: dạng này chiếm đa số các loài trong lớp thú, các loài này chủ yếu là sống trên cạn. Ví dụ: Mèo, Thỏ, Hổ, Trâu.
Dạng có cánh: dạng này thích nghi với môi trƣờng sống không khí, có khả năng bay lƣợn. Giữa các ngón của chi có lớp da – giống y nhƣ cánh của các loài chim, hoặc màng da nối chi trƣớc với cổ, chi sau. Ví dụ: Dơi, Chồn bay, Sóc bay. Dạng thích nghi bơi lội: cơ thể có các chi biến đổi thành các vây.
Lớp da trở nên trơn và bóng hơn. Thành phần loài thú ở Việt Nam Thành phần các loài thú ở Việt Nam thay đổi theo thời gian và khác nhau giữa các tác giả (bảng 2. Chẳng hạn, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1994) đã thống kê ở Việt Nam có 223 loài thú thuộc 12 bộ, 37 họ (không thống kê các loài thú biển). Đến năm 2000, Lê Vũ Khôi đã thống kê 252 loài (289 loài và phân loài) thú thuộc 13 bộ, 37 họ (không thống kê các loài thú biển).
Năm 2006, Kyznetsov đã thống kê ở Việt Nam 310 loài thú thuộc 44 họ và 14 bộ (kể cả loài thú biển) đây là danh lục loài thú Việt Nam đầu tiên có thống kê các loài thú biển đã biết ở vùng biển Việt Nam. Từ năm 2008 đến nay, Các công trình nghiên cứu các nhóm thú đƣợc tiến hành ở nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc, điển hình nhƣ “Danh lục các loài thú Việt Nam” của Đặng Ngọc Quân và cộng sự năm (2008) thống kê 295 loài thú (298 loài và phân loài) thuộc 37 họ và 13 bộ ở Việt Nam (không kể thú biển). Các kết quả nghiên cứu này cùng với các nghiên cứu tại nhiều địa phƣơng trong cả nƣớc là cơ sở cho Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) đƣa ra danh lục các loài thú ở Việt Nam. Nhƣng nhìn chung, số lƣợng các loài thú ở Việt Nam không có nhiều biến động kể từ năm 1994 đến nay.1: Tổng kết về phân loại thú ở Việt Nam theo thời gian Năm Bộ Họ Loài Nguồn thông tin 1994 12 37 223 Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (1994) 2000 13 37 252 Lê Vũ Khôi (2000) 2006 14 44 310 Kyznetsov (2006) 2008 13 37 295 Đặng Ngọc Quân và cộng sự (2008) 2009 15 43 322 Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009) Nhưng nhìn chung, số lượng các loài thú ở Việt Nam không có nhiều biến động kể từ năm 1994 đến nay.
Trong nghiên cứu này, đề tài sử dụng tên khoa học, tên phổ thông và hệ thống phân loại của Nguyễn Xuân Đặng và Lê Xuân Cảnh (2009), vì đây là tài liệu cập nhật và chi tiết hơn cả. Các nghiên cứu về phân bố của cá loài thú Theo Lê Vũ Khôi (2005) Việt nam là một bộ phận của phân miền địa lí – động vật Đông Dƣơng (Indochinese subregion) thuộc miền địa lí động vật Phƣơng Đông (Oriental Region hay còn gọi miền địa lí – động vật Indomalai (Indomalayan Region). Phân miền Đông Dƣơng (bao gồm: Mianma, Vân Nam và Tứ Xuyên của Trung Quốc; Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia, Đảo Hải Nam, Đài Loan, quần đảo Ryukyu). Theo Đào Văn Tiến (1987) và Lê Vũ Khôi (2008) Việt Nam nằm trên luồng di cƣ của hai luồng động vật từ Himalia qua Vân Nam xuống và từ Malaysia, có một khu hệ thú nói chung phong phú, đa dạng.
Tính chất này thể hiện ở mối quan hệ của khu hệ thú Việt Nam với các khu hệ thú lân cận. khu hệ thú Việt Nam đƣợc cấu thành bởi 4 nhóm yếu tố động vật học: Nhóm yếu tố Ấn Độ: Himalia (gọi tắt là Himalia) có ở Miền Đông Bắc Ấn Độ, Neepan, Mianma, Tây Bắc Vân Nam – Tứ Xuyên (Trung Quốc). Nhóm này mang tính chất ôn đới núi cao. 5 Nhóm yếu tố Trung Hoa (chủ yếu là Hoa Nam,Trung Quốc) mang tính chất cận nhiệt đới và có ở khu Đông Nam Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến).
Nhóm yếu tố đặc hữu của Việt Nam (có thể có cả của Lào hoặc Campuchia) có tính chất hỗn hợp về tính chất địa động vật học của vùng Bắc Trung Bộ. Căn cứ vào các yếu tố địa hình, địa mạo, khí hậu, môi trƣờng sống, sự phân bố của thảm thực vật và của các lớp động vật, Lê Vũ Khôi (2005) đã chia vùng địa lý động vật khu hệ Việt Nam thành 5 vùng đặc trƣng nhƣ sau: Khu Đông Bắc: khu Đông Bắc thuộc đơn vị địa – sinh học Bắc trung tâm Đông Dƣơng (theo Mckinon, trong BAP, 1994). Ranh giới giữa khu Đông Bắc và khu Tây Bắc – Hoàng Liên Sơn là dãy Hoàng Liên Sơn.