Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH VỀ BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM 1. Khái quát lịch sử pháp luật hình sự về Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm 1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước khi có BLHS năm 1985 Ngay sau khi nước Việt nam dân chủ cộng hòa được thành lập, ý thức được việc cần quản lý nhà nước bằng pháp luật, nên Nhà nước ta đã sớm ban hành Hiến pháp 1946 làm nền tảng cho việc xây dựng các văn bản pháp luật chuyên ngành. Giai đoạn này Nhà nước tập trung quan tâm đến việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, nhằm ổn định tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân.
Việc đấu tranh phòng chống các loại tội phạm tuy được Nhà nước quan tâm, nhưng chủ yếu đối với các loại tội phạm xâm hại về an ninh chính trị và các loại tội đặc biệt nghiêm trọng khác như: Giết người, cướp của, hiếp dâm… ví dụ như: Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 về các tội phá hoại công sản; Thông tư số 1303 BCN/VN ngày 28/6/1946 của liên bộ Bộ Nội vụ - Bộ Canh nông, điều chỉnh những hành vi xâm hại đến rừng: “… Ai vi phạm các lệnh chặt, phá cây rừng sẽ bị phạt tù, phạt tiền theo thể lệ đã được ấn định trước…”; Sắc lệnh số 142/SL ngày 21/12/1949 qui định về việc lập biên bản các hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ rừng; Nghị định số 39/CP ngày 5/4/1963 của Hội đồng Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về săn bắn, bắt chim, thú rừng; Ngày 11/9/1972, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Bảo vệ rừng, trong đó tại Điều 9 quy định: “Việc săn, bắt chim, muông, thú rừng với bất kỳ mục đích gì phải tuân theo luật lệ của Nhà nước về săn, bắt chim, muông, thú rừng và phải được cơ quan lâm nghiệp từ cấp tỉnh trở lên cho phép”; Điều 10 quy định “Hội đồng Chính phủ quy định những loại thực vật, động vật quý và hiếm trong rừng cần phải đặc biệt bảo vệ và chế độ bảo vệ các loại đó”; Điều 22 quy định “Kẻ nào vi phạm một trong những điều ghi ở Chương II của Pháp lệnh này hoặc tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép lâm sản, gây thiệt 5 hại lớn đến tài nguyên rừng hoặc đã bị xử phạt mà còn vi phạm thì sẽ bị truy tố trước Toà án nhân dân và có thể bị phạt tù từ ba tháng đến 2 năm và phạt tiền từ 200 đồng đến 2.000 đồng, hoặc một trong hai hình phạt đó”. Như vậy, từ năm 1972, pháp luật hình sự đã có những ghi nhận mới về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Những hành vi vi phạm quy định về bảo vệ động vật quý, hiếm gây thiệt hại lớn, hoặc đã bị xử phạt mà còn tái phạm thì sẽ bị truy cứu TNHS và có thể phải chịu hình phạt tù từ ba tháng đến 2 năm; phạt tiền từ 200 đồng đến 2.000 đồng hoặc phải chịu cả hai loại hình phạt này. Giai đoạn từ năm 1975 đến trước năm 1985: Sau ngày miền Nam được giải phóng, nước nhà đã hoàn toàn thống nhất, Nhà nước ta tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh.
Bên cạnh đó, yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong cũng có nhiều thay đổi, PLHS cần được áp dụng thống nhất trong cả nước. Thời kỳ này các văn bản PLHS nước ta thường là văn bản pháp quy đơn giản, riêng lẻ, gây khó khăn việc áp dụng vào thực tiễn. Việc ban hành BLHS giai đoạn này có ý nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, là cơ sở để Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế XNCN. Xuất phát từ tầm quan trọng đó, ngày 27/06/1985 BLHS năm 1985 đã được Quốc hội thông qua, có hiệu lực ngày 01/01/1986, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta.
Lần đầu tiên các quy phạm pháp luật hình sự về nhiều lĩnh vực khác nhau được pháp điển hóa trong cùng một bộ luật, trong đó nội dung bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm được quy định tại Điều 181 - Tội vi phạm các quy định về quản lý và bảo vệ rừng: “1- Người nào khai thác trái phép cây rừng, săn bắt trái phép chim, thú hoặc có những hành vi khác vi phạm các quy định của Nhà nước về quản lý và bảo vệ rừng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm” [31, tr. Đây là lần đầu tiên, nội dung bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm được ghi nhận một cách ngắn gọn trong BLHS và được xếp vào nhóm hành vi liên quan đến 6 quản lý và bảo vệ rừng thuộc Chương VII – Các Tội phạm về kinh tế, trong đó nghiêm cấm những hành vi săn, bắt trái phép chim, thú rừng. Tuy nhiên, Điều luật cũng mới chỉ quy định mang tính nguyên tắc, theo đó, tội phạm hoàn thành khi hành vi săn, bắt chim, thú rừng “gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc đã bị xử lý hành chính mà còn vi phạm. Hậu quả nghiêm trọng ở đây là làm mất giống chim, thú rừng đang cần được bảo vệ, nếu không chứng minh được hậu quả nghiêm trọng thì người có hành vi săn, bắt nói trên phải có dấu hiệu bắt buộc là "đã bị xử lý hành chính" thì mới được coi là tội phạm.
Về hình phạt đối với hành vi săn, bắt trái phép chim, thú rừng được quy định khá nhẹ, khung cơ bản tại khoản 1 Điều 181 BLHS năm 1985 là “cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm”; khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 181 BLHS năm 1985 là phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến mười năm. Bước đầu, BLHS năm 1985 đã đáp ứng được yêu cầu và đòi hỏi của xã hội trong công cuộc tái thiết đất nước. Tuy nhiên với việc quy định hành vi “săn, bắt trái phép chim, thú” một cách đơn giản và với mức hình phạt nhẹ như vậy chưa đủ sức răn đe và phòng ngừa đối với những người đã thực hiện và có ý định thực hiện tội phạm này. Giai đoạn từ năm 1985 đến năm 1999 Trong thời gian từ năm 1985 đến năm 1999, đây là giai đoạn xóa bỏ cơ chế quản lý kinh tế tập trung, bao cấp, chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế - xã hội nước ta có nhiều biến chuyển tích cực, đời sống nhân dân ngày một nâng cao.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, tình hình vi phạm pháp luật cũng gia tăng và có chiều hướng ngày càng phức tạp và tinh vi hơn. Ngày 15/01/1994, Việt Nam chính thức là thành viên thứ 121 tham gia Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, viết tắt là Công ước CITES. Để thực thi Công ước này, ngày 29/5/1996, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 359/TTg về những biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển các loài động vật hoang dã; Cũng trong giai đoạn này, Nhà nước ta ban hành một số đạo luật có liên quan như Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991; Pháp lệnh Bảo vệ nguồn lợi thủy sản; Nghị định số 18/HĐBT ngày 17/01/1992 của Hội 7 đồng Bộ trưởng về việc ban hành danh mục động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm; Luật Bảo vệ môi trường năm 1993; Quá trình áp dụng BLHS năm 1985 để đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng gặp nhiều vướng mắc, bất cập. Qua 4 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997 nhưng nội dung quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm vẫn được giữ nguyên.
Giai đoạn từ năm 1999 đến trước năm 2015 Để đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế, BLHS năm 1999 đã được Quốc hội khóa X thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999 có hiệu lực từ ngày 01-7-2000, thay thế BLHS năm 1985. Trong đó nội dung bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm được quy định tại điều 190 - Tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm với những dấu hiệu cụ thể, đó là: “1. Người nào săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của động vật đó, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến ba năm” [31, tr. So với Điều 181 BLHS năm 1985, Điều 190 BLHS năm 1999 đã quy định cụ thể, liệt kê những hành vi vi phạm như: Săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của động vật đó là căn cứ để truy cứu TNHS.
Khoản 1 Điều 190 BLHS năm 1999 mặc dù không quy định dấu hiệu “gây hậu quả nghiêm trọng” thuộc cấu thành cơ bản nhưng khoản 2 Điều 190 BLHS năm 1999 quy định tình tiết tăng nặng định khung “Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”, như vậy theo thứ tự từ nhẹ đến nặng thì người có hành vi săn bắt, giết, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm bị cấm theo quy định của Chính phủ hoặc vận chuyển, buôn bán trái phép sản phẩm của động vật đó phải gây hậu quả nghiêm trọng thì mới đủ yếu tố CTTP. Ngoài ra, khoản 2 Điều 190 BLHS năm 1999 còn quy định cụ thể một số dấu hiệu thuộc cấu thành tăng nặng định khung khác như: Có tổ chức; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Sử dụng công cụ hoặc phương tiện săn bắt bị cấm; Săn bắt trong khu vực bị cấm 8 hoặc vào thời gian bị cấm. Về hình phạt chính, Điều 190 BLHS năm 1999 đã quy định thêm hình phạt chính là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng; tăng thời gian cải tạo không giam giữ lên hai năm và tăng mức khởi điểm của phạt tù có thời hạn là từ sáu tháng đến hai năm.