Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ thuộc chuyên ngành Lý luận văn học (định hướng nghiên cứu văn học so sánh và thi pháp học liên văn bản), triển khai hướng nghiên cứu định tính thuần túy trong lĩnh vực khoa học nhân văn. Luận án nghiên cứu các bình diện liên văn bản trong tiểu thuyết của tác giả Mạc Ngôn thông qua việc tiếp cận hệ thống lý thuyết liên văn bản của phương Tây và Trung Quốc, từ đó giải mã cấu trúc tác phẩm văn học từ cả hai phương diện nội dung tư tưởng và kỹ thuật nghệ thuật.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu được tác giả luận án xác lập xuất phát từ hai lý do:
- Thứ nhất, lý thuyết liên văn bản (intertextuality) khởi phát từ trào lưu hậu cấu trúc luận phương Tây vào nửa cuối thế kỷ XX (với các luận điểm của Jacques Derrida, Julia Kristeva, Roland Barthes...) đã làm thay đổi quan niệm truyền thống về tính tự trị, khép kín của tác phẩm, xem văn bản như một mạng lưới đối thoại mở. Mặc dù lý thuyết này đã phát triển rộng rãi trên thế giới, nhưng tại Việt Nam, các công trình hệ thống hóa và vận dụng một cách bao quát lý thuyết liên văn bản vào một hiện tượng tác gia văn học cụ thể còn khiêm tốn.
- Thứ hai, Mạc Ngôn là nhà văn Trung Quốc đương đại đạt giải Nobel Văn học năm 2012 với phong cách kết hợp hiện thực huyền ảo, truyện kể dân gian, lịch sử và đời sống hiện đại. Các công trình nghiên cứu về Mạc Ngôn ở trong và ngoài nước trước đây chủ yếu tiếp cận từ góc độ thi pháp học, tự sự học, văn hóa học hoặc phản ánh hiện thực, trong khi phương diện liên văn bản của tác phẩm Mạc Ngôn vẫn còn nhiều khoảng trống chưa được giải quyết một cách toàn diện và có hệ thống.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về tính liên văn bản, chỉ ra các hướng tiếp cận, các mô hình phân loại và biểu hiện thi pháp của lý thuyết liên văn bản trên thế giới, Trung Quốc và Việt Nam.
- Phân tích cội nguồn làm nảy sinh tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn từ phương diện bối cảnh thời đại, ký ức quê hương vùng Đông Bắc Cao Mật và sự tương tác giữa truyền thống văn hóa dân tộc với văn hóa toàn cầu.
- Nhận diện và làm rõ các biểu hiện của tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn ở cấp độ nội dung: sự chuyển dịch của đề tài (quê hương, lịch sử), sự vận động của hệ thống nhân vật (nhân vật nữ, nhân vật anh hùng, nhân vật dị thường) và sự tái sinh của hệ thống biểu tượng nghệ thuật ("bầu vú", "giấc mơ", "cao lương").
- Khảo sát các hình thức liên văn bản ở cấp độ kỹ thuật biểu hiện nghệ thuật trong tiểu thuyết Mạc Ngôn: thủ pháp cận văn bản, lối viết huyền ảo, trò chơi phối kết diễn ngôn (giễu nhại, ám chỉ, lệch chuẩn) và sự tích hợp giữa các thể loại văn học, phi văn học và nghệ thuật điện ảnh.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các phương diện thể hiện tính liên văn bản trong tiểu thuyết của Mạc Ngôn.
- Phạm vi tư liệu khảo sát: Luận án giới hạn khảo sát trên 11 cuốn tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã được dịch sang tiếng Việt, gồm: Cao lương đỏ (2000), Báu vật của đời (2001), Cây tỏi nổi giận (2003), Rừng xanh lá đỏ (2003), Đàn hương hình (2003), Tửu quốc (2004), 41 chuyện tầm phào (2004), Sống đọa thác đày (2007), Tổ tiên có màng chân (2007), Thập tam bộ (2007), Ếch (2010).
- Phạm vi tư liệu bổ trợ: Các bài tự bạch, tiểu luận, phỏng vấn và mẩu đối thoại của Mạc Ngôn đã dịch và xuất bản tại Việt Nam như Mạc Ngôn và những lời tự bạch (2004), Chuyện văn chuyện đời (2004), Bức tường biết hát (dịch dưới tên Người tỉnh nói chuyện mộng du, 2008) cùng các bài phỏng vấn trên báo chí chuyên ngành.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành tổng thuật tư liệu theo bốn mảng nghiên cứu chính:
- Tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản trên thế giới và Trung Quốc:
- Trên thế giới: Bắt nguồn từ các công trình của nhóm Tel Quel tại Pháp vào thập niên 1960. Các công trình tiêu biểu được điểm lại gồm: Intertextuality in Faulkner (1985) do Michel Gresset và Noel Polk biên tập; Intertextuality: Theories and Practices (1990) của Michael Worton và Judith Still; Intertextuality (2000) của Graham Allen (được Nguyễn Văn Thuấn dịch năm 2015); Intertextuality: debates and contexts (2003) của Mary Orr; chuyên khảo Văn bản - Liên văn bản - Lý thuyết văn bản (2008) của G. Kosikov (Lã Nguyên dịch). Các công trình này xác lập nguồn gốc lý thuyết từ Ferdinand de Saussure, Mikhail Bakhtin, qua Julia Kristeva, Roland Barthes, Gérard Genette, Michael Riffaterre, Harold Bloom.
- Tại Trung Quốc: Tác giả dẫn phân loại của Lê Thị Dương chia quá trình tiếp nhận thành ba giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (cuối thập niên 1970 đến cuối thập niên 1980): Xuất hiện qua dịch thuật cấu trúc luận, như công trình Cấu trúc luận: Moscow - Prague - Paris (1980) của Jan Broekman (Lý Ấu Chung dịch), Trương Dần Đức dịch bài luận của Roland Barthes, bài giới thiệu của Trương Long Khê, bản dịch sách của Terry Eagleton (1987).
- Giai đoạn 2 (cuối thập niên 1990 đến đầu thế kỷ XXI): Các nghiên cứu lý luận trực tiếp của Ân Xí Bình (1994), Trình Tích Lân (1996), Hoàng Niệm Nhiên (1999), cùng bản dịch bài viết của W. Franke.
- Giai đoạn 3 (từ đầu thế kỷ XXI đến nay): Nghiên cứu chuyên biệt và phát triển hệ thống với chuyên khảo Liên văn bản (2005) của Vương Cẩn; hàng loạt luận án tiến sĩ của Lý Ngọc Bình (2003), Tiêu Á Đông (2006), Ngô Địch Long (2010).
- Tình hình nghiên cứu lý thuyết liên văn bản ở Việt Nam:
- Giai đoạn mở đầu: Khái niệm đối thoại và đa âm được giới thiệu qua Hoàng Trinh trong Từ kí hiệu học đến thi pháp học (1997), Trần Đình Sử khi nghiên cứu Bakhtin trong Những vấn đề thi pháp của Đôxtôiepxki (1998), Đỗ Đức Hiểu trong Thi pháp hiện đại (2000). Các bài viết tổng thuật sớm có Nguyễn Minh Quân (2001), Nguyễn Hưng Quốc (2007), các bản dịch công trình nghiên cứu của L. Rjanskaya (Ngân Xuyên dịch, 2007), G. Kosikov (Lã Nguyên dịch, 2008), Pierre-Marc de Biasi (Bửu Nam và Phạm Thị Anh Nga dịch, 2011).
- Nghiên cứu chuyển thể nghệ thuật theo hướng liên văn bản: Nguyễn Nam với các bài viết từ năm 2004 đến 2012, Phạm Ngọc Hiền, Lê Thị Dương (2015), Trần Công Đức (2016), Hoàng Hữu Phước (2017), Bùi Trần Quỳnh Ngọc (2017), Đào Lê Na (2017).
- Hệ thống hóa lý thuyết chuyên sâu: Các công trình của Nguyễn Văn Thuấn từ năm 2010 đến 2018, đặc biệt là công trình Giáo trình Lý thuyết liên văn bản (2018) gồm 12 chương, 430 trang chính văn, làm rõ hệ khái niệm từ Bakhtin, Kristeva, Barthes đến Genette, Juvan, Bloom, Eco.
- Ứng dụng phân tích tác phẩm: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Thuấn (2013, nghiên cứu Nguyễn Huy Thiệp); các luận văn thạc sĩ của Nguyễn Nhật Huy (2011), Nguyễn Văn Thành (2013), Nguyễn Thị Hồng Yến (2014), Phạm Thị Bích Phượng (2014); các bài báo nghiên cứu của Lê Huy Bắc, Phan Huy Dũng, Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Nguyễn Đào Nguyên, Nguyễn Thị Thanh Xuân, Lê Thị Xiêm, Lê Thanh Sơn, Lê Thị Hường, Nguyễn Thị Tịnh Thy.
- Tình hình nghiên cứu Mạc Ngôn trên thế giới:
- Nguồn tư liệu tự bạch: Cuốn Mạc Ngôn, nghiên cứu và tư liệu (2005) do Dương Dương biên soạn; tập phỏng vấn Ghi chép đối thoại (2003) của Vương Nghiêu và Lâm Kiến Phát.
- Ý kiến phê bình tại Trung Quốc: Chia thành hai chiều hướng rõ nét. Nhóm phê phán gồm Vương Cán, Hạ Thiệu Tuấn, Phan Khải Hùng, Vương Kim Thành, Lý Kiến Quân, Tiêu Ưng với nhận xét ngòi bút Mạc Ngôn sa vào tình dục, bạo lực, "phóng túng tùy tiện" (thiên mã hành không), cấu tạo nhân vật giả tạo. Ngược lại, nhóm đánh giá cao gồm Trần Hiểu Minh, Trương Thành, Chu Ân, Ta-chi-gang, Lý Hồng Chân, Trương Chí Trung, Trương Thanh Hoa, Trình Đức Bồi, Quý Hồng Trân, Gia Trọng Minh, Khương Tiểu Bân, Lưu Tái Phục, khẳng định Mạc Ngôn đưa lịch sử thành đối tượng thẩm mỹ dân gian.
- Ý kiến quốc tế và phương Tây: Wolfgang Kubin (nhà Hán học người Đức) phê bình Mạc Ngôn dùng hình thức cũ, viết dài, thiếu hài hước; trong khi Howard Goldblatt, Jonathan Spence, Richard Bernstein, Victoria Xiaoyang, Omid Akhavan Esmaeil Zohdi, Yinde Zhang, Jonathan Hall, Shelley W. Chan, M. Thomas Inge, Jim Leach, Jonathan Stalling, David Der-Wei Wang, Wang Xinyan, Angelica Duran, Yuhan Huang ghi nhận nghệ thuật trần thuật đa dạng, yếu tố hiện thực huyền ảo và văn hóa bản địa.
- Hướng nghiên cứu liên văn bản về Mạc Ngôn: Đáng chú ý có luận văn Chức năng liên văn bản và tự sự của tiểu thuyết Mạc Ngôn (2014) của Yang Wei (Dương Vỹ, Đại học Sư phạm Chiết Giang), bài báo so sánh của Ye Weiwei (Diệp Vỹ Vỹ) và Li Jun (Lý Quân, 2017) về Morrison và Mạc Ngôn, luận văn so sánh Mạc Ngôn với Faulkner của Xiuguo Huang (2006).
- Tình hình nghiên cứu Mạc Ngôn tại Việt Nam:
Các học giả và dịch giả trong nước đã tiếp cận Mạc Ngôn sớm: Lê Huy Tiêu với các bài viết (2003, 2008, 2012) và chuyên khảo (2011) về thi pháp tiểu thuyết thời cải cách mở cửa; Hồ Sỹ Hiệp (2001, 2003); Nguyễn Khắc Phê (2002); Trần Minh Sơn (2003); Phạm Tú Châu (2003); Nguyễn Thị Thại (dịch các sách tự bạch năm 2004); cùng các ý kiến trao đổi chuyên môn của dịch giả Trần Đình Hiến, Trần Trung Hỷ, nhà văn Trần Đăng Khoa.
Vị trí của luận án: Luận án kế thừa các kết quả nghiên cứu về lý thuyết liên văn bản của Nguyễn Văn Thuấn, Graham Allen, Gérard Genette và các đánh giá về thi pháp Mạc Ngôn của Lê Huy Tiêu, Yang Wei; qua đó lựa chọn giải quyết khoảng trống học thuật: khảo sát tập trung, có hệ thống và toàn diện toàn bộ 11 tiểu thuyết Mạc Ngôn được dịch tại Việt Nam dưới hệ hình thi pháp liên văn bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng từ hệ thống quan niệm của các nhà lý thuyết ký hiệu học, cấu trúc và hậu cấu trúc luận phương Tây, chủ yếu dựa trên sự đúc kết của Giáo trình Lý thuyết liên văn bản (Nguyễn Văn Thuấn, 2018):
- Jacques Derrida: Quan niệm "không có cái bên ngoài văn bản" và mọi phát ngôn đều ở trạng thái "trích dẫn" từ truyền thống ngôn ngữ.
- Julia Kristeva: Định nghĩa văn bản như "một bức khảm các trích dẫn", "sự hấp thụ và biến đổi các văn bản khác".
- Mikhail Bakhtin: Bản chất đối thoại và phức điệu của diễn ngôn ngôn ngữ.
- Roland Barthes: Khái niệm "cái chết của tác giả", xem văn bản như "tấm vải mới dệt từ những trích dẫn cũ", giải phóng quyền năng kiến tạo ý nghĩa cho người đọc.
- Michel Foucault: Luận điểm về biên giới bất định của sách và mạng lưới quan hệ giữa các diễn ngôn.
- Gérard Genette: Chuyên luận Palimpsests: Văn chương ở Độ Hai, thiết lập khái niệm xuyên văn bản với 5 mối quan hệ: liên văn bản, cận văn bản, siêu văn bản, kiến trúc văn bản và thượng văn bản (trong đó thượng văn bản bao gồm cơ chế cải biến và bắt chước).
- Michael Riffaterre: Tiếp cận liên văn bản qua ký hiệu học và phản hồi độc giả, xác định hai chặng đọc (đọc tìm hiểu và đọc phát hiện/ngược) cùng các dấu hiệu như sự tương hợp nghĩa (syllepsis), khoảng trống và sự phi ngữ pháp.
- Marko Juvan: Phân loại ba phương thức liên văn bản: mô tả liên văn bản (trích dẫn, chú thích, toát yếu, phê bình), chuyển vị liên văn bản (trích dẫn câu chữ, mô típ, tên nhân vật) và bắt chước liên văn bản (phong cách hóa, mô phỏng thể loại).
- Harold Bloom: Tiếp cận từ tu từ học và phân tâm học với khái niệm "sự lo lắng về ảnh hưởng" (anxiety of influence) và "bản đồ đọc sai".
- Umberto Eco: Xác lập tính liên văn bản tự giác/tự ý thức dựa trên sự tương tác ba nhân tố (chủ ý tác giả - chủ ý văn bản - chủ ý người đọc) và tính liên văn bản trớ trêu.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp lịch sử - loại hình: Khảo sát tiến trình hình thành lý thuyết liên văn bản từ Saussure, Bakhtin đến các nhà hậu cấu trúc; đồng thời soi chiếu bối cảnh lịch sử - xã hội Trung Quốc để đánh giá vị trí của Mạc Ngôn. Luận án chủ động giản lược việc phân tích các chức năng tự sự truyền thống để ưu tiên làm nổi bật các bình diện liên văn bản.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đối chiếu tiểu thuyết Mạc Ngôn với các tiền bản văn học dân gian, văn học cổ điển Trung Hoa, tác phẩm phương Tây (Faulkner, García Márquez) và các văn bản chuyển thể điện ảnh để chỉ ra sự tương đồng, khác biệt và tính phái sinh của văn bản.
- Phương pháp cấu trúc - hệ thống: Xem xét toàn bộ 11 tác phẩm của Mạc Ngôn như một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất để hệ thống hóa các mã chủ đề, nhân vật, biểu tượng và thủ pháp diễn ngôn.
- Thao tác bổ trợ: Sử dụng phân tích tiểu sử tác giả, thống kê, phân loại và thao tác phân tích ngữ văn.
Bảng tổng hợp khung lý thuyết và phương pháp của luận án:
| Khung thành phần |
Tác giả lý thuyết / Tên phương pháp |
Nội dung và phạm vi vận dụng trong luận án |
| Hệ thống lý thuyết cốt lõi |
Julia Kristeva, Jacques Derrida, Mikhail Bakhtin, Roland Barthes |
Quan niệm nền tảng về tính mở của văn bản, cấu trúc bức khảm trích dẫn, tính đối thoại và vai trò kiến tạo của người đọc. |
| Hệ thống phân loại thi pháp |
Gérard Genette, Marko Juvan, Michael Riffaterre, Umberto Eco |
Mô hình 5 dạng xuyên văn bản; 3 phương thức liên văn bản (mô tả, chuyển vị, bắt chước); hai chặng đọc; tính liên văn bản tự giác. |
| Giáo trình quy chiếu chính |
Nguyễn Văn Thuấn (2018) |
Giáo trình Lý thuyết liên văn bản (12 chương), định hình khung thuật ngữ và thi pháp viết lại, giễu nhại, cận văn bản. |
| Phương pháp nghiên cứu |
Phương pháp lịch sử - loại hình |
Xác định bối cảnh lý thuyết và hoàn cảnh lịch sử Trung Quốc chi phối tác phẩm Mạc Ngôn. |
| Phương pháp nghiên cứu |
Phương pháp so sánh - đối chiếu |
So sánh tiểu thuyết Mạc Ngôn với các tiền bản văn hóa, lịch sử, văn học dân gian và chuyển thể điện ảnh. |
| Phương pháp nghiên cứu |
Phương pháp cấu trúc - hệ thống |
Khảo sát 11 tiểu thuyết bản dịch tiếng Việt như một hệ thống mạng lưới văn bản đa tầng. |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chương này dành cho việc tổng thuật, đánh giá một cách toàn diện các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài. Tác giả chia nội dung thành hai phần lớn:
- Tổng quan về lý thuyết liên văn bản: Phân tích quá trình xuất hiện thuật ngữ từ nhóm Tel Quel, bài tham luận năm 1967 của Julia Kristeva, các giai đoạn du nhập và tiếp biến tại Trung Quốc (3 giai đoạn) và sự hình thành các công trình dịch thuật, chuyên luận, luận án tại Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2018. Tác giả khẳng định lý thuyết liên văn bản đã xác lập được vị thế vững chắc trong nghiên cứu văn học đương đại.
- Tổng quan về hiện tượng Mạc Ngôn: Tổng hợp các luồng tiếp nhận đối nghịch nhau về tác phẩm của Mạc Ngôn tại Trung Quốc và trên thế giới. Nhóm quan điểm phê phán tập trung vào tính chất bạo lực, tình dục và sự vượt ranh giới chuẩn mực (thiên mã hành không); nhóm quan điểm khẳng định đề cao việc Mạc Ngôn thẩm mỹ hóa lịch sử và kết hợp chất liệu dân gian với kỹ thuật hiện đại. Chương 1 chỉ rõ các công trình nghiên cứu chuyên sâu về liên văn bản ở tác phẩm Mạc Ngôn (như của Yang Wei năm 2014) còn rất ít, chứng minh cơ sở học thuật để luận án triển khai đề tài tại Việt Nam.
Chương 2. Khái lược về lý thuyết liên văn bản và cội nguồn tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn
Chương 2 thiết lập khung lý thuyết nền tảng và truy nguyên nguồn gốc sáng tác của tác giả:
- Khái lược lý thuyết liên văn bản: Trình bày khái niệm, lịch sử phát triển qua các trường phái (Hình thức luận Nga, Cấu trúc luận, Hậu cấu trúc luận) và các biểu hiện thi pháp cụ thể:
- Sự trùng lặp đề tài, chủ đề và tái sinh hình tượng (dẫn chứng từ các hiện tượng văn học như Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện, đề tài nông thôn của Sholokhov, Lỗ Tấn, Nam Cao, hình tượng nghịch dị của Rabelais, Cervantes, Kafka, Marquez).
- Kỹ thuật giễu nhại, ám chỉ, vay mượn, dẫn dụ văn bản (dựa trên phân loại thượng văn bản của Genette và mô tả liên văn bản của Juvan).
- Cội nguồn tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn: Xác định ba nguồn gốc trực tiếp chi phối văn bản nghệ thuật của nhà văn:
- Hoàn cảnh xuất thân trong một thời đại đau thương: Ký ức về nạn đói, thời kỳ Cách mạng Văn hóa và những chấn thương lịch sử đã trở thành hạ bản đời sống được chuyển hóa vào cấu trúc tiểu thuyết.
- Quê hương và con người Cao Mật: Vùng đất Đông Bắc Cao Mật đóng vai trò không gian văn hóa - thẩm mỹ trung tâm, nơi lưu giữ các truyền thuyết, bài ca dân gian, thói quen sinh hoạt và tính cách phóng khoáng của người nông dân.
- Truyền thống văn hóa dân tộc và giao lưu văn hóa toàn cầu: Sự kết hợp giữa tiểu thuyết chương hồi cổ điển Trung Hoa (Tam quốc diễn nghĩa, Tây du ký, Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh) với các trào lưu hiện thực huyền ảo Mỹ Latinh (Gabriel García Márquez) và kỹ thuật dòng ý thức phương Tây (William Faulkner).
Chương 3. Tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhìn từ đề tài, nhân vật và biểu tượng
Chương 3 triển khai khảo sát tính liên văn bản ở cấp độ nội dung tư tưởng qua ba bình diện:
- Đề tài - sự chuyển hóa giữa các văn bản:
- Quê hương: Hành trình sáng tạo nghệ thuật gắn liền với việc viết lại không gian Cao Mật qua nhiều thời kỳ, đối thoại với các mô hình nông thôn trong văn học cổ điển và hiện đại.
- Lịch sử: Thể hiện thái độ và ý thức trách nhiệm của nhà văn qua việc tái hiện lịch sử cận - hiện đại Trung Quốc bằng cái nhìn dân gian, phi chính thống, đối thoại và lật ngược các đại tự sự lịch sử quen thuộc.
- Nhân vật - sự vận động xuyên không gian, thời gian:
- Nhân vật nữ: Khảo sát quá trình biến chuyển từ nguyên lý tính mẫu (người mẹ vĩ đại trong Báu vật của đời) đến bản năng đàn bà, giải phóng nhục cảm tự nhiên.
- Nhân vật anh hùng: Được đặt trong sắc diện mới, không còn mang tính chất hoàn hảo theo quy phạm sử thi mà mang những phẩm chất nửa thảo khấu, nửa đời thường, đan xen giữa nghĩa khí và sự thô ráp.
- Nhân vật kỳ lạ, dị thường: Tái sinh các mô típ thần kỳ cổ xưa, xuất hiện dưới dạng thức những con người biến dị, quái đản, mang đậm tính chất nghịch dị (grotesque) chịu ảnh hưởng từ truyện chí dị dân gian và tiểu thuyết phương Tây.
- Biểu tượng - nguyên mẫu và tái sinh:
- Biểu tượng "bầu vú": Đóng vai trò trung tâm của sự tái sinh, biểu trưng cho sự phồn thực, nguồn sống và sự chở che mẫu tính.
- Biểu tượng "giấc mơ": Phản ánh những ẩn ức tâm lý bị kìm nén, đóng vai trò như cây cầu nối giữa cõi thực và cõi ảo, giữa quá khứ và hiện tại.
- Biểu tượng "cao lương": Hiện thân cho ngũ cốc, sự sống mãnh liệt, dòng máu và sinh lực văn hóa thuần khiết của cư dân bản địa vùng Đông Bắc.
Chương 4. Tính liên văn bản trong tiểu thuyết Mạc Ngôn nhìn từ thủ pháp cận văn bản, lối viết huyền ảo, trò chơi diễn ngôn và tích hợp thể loại
Chương 4 phân tích các kỹ thuật hình thức và thi pháp thể loại:
- Thủ pháp cận văn bản và lối viết huyền ảo:
- Cận văn bản: Khảo sát chức năng của nhan đề, lời tựa, lời bạt, lời đề từ và các chỉ dẫn ngoài lề văn bản trong việc định hướng, gợi mở hoặc đánh đố việc giải mã văn bản của người đọc.
- Lối viết huyền ảo: Sự pha trộn giữa hiện thực trần trụi và các yếu tố hoang đường, kỳ ảo, kế thừa từ truyền thống truyện ma quái dân gian (Liêu trai) và kỹ thuật hiện thực huyền ảo thế giới.
- Trò chơi phối kết các diễn ngôn:
- Diễn ngôn giễu nhại, ám chỉ: Sử dụng hình thức nhại văn phong chính thống, nhại kinh điển tôn giáo hoặc văn bản lịch sử nhằm tạo ra hiệu ứng mỉa mai, trào lộng.
- Diễn ngôn lệch chuẩn: Việc đưa các từ ngữ dân gian thô mộc, khẩu ngữ, tiếng chửi thề và các diễn ngôn mang tính thân xác vào tác phẩm, phá vỡ cấu trúc thẩm mỹ tao nhã quy ước.
- Sự hòa trộn, tích hợp các thể loại:
- Liên văn bản với các thể loại văn học: Đan cài thơ ca, hò vè, kịch bản, thư từ, văn tế vào cấu trúc tiểu thuyết.
- Liên văn bản với các thể loại phi văn học: Tích hợp diễn ngôn báo chí, biên bản hành chính, giáo lý tôn giáo, khẩu hiệu chính trị.
- Liên văn bản với điện ảnh và chuyển thể điện ảnh: Khảo sát mối tương tác hai chiều giữa tiểu thuyết gốc của Mạc Ngôn và các tác phẩm điện ảnh chuyển thể (như trường hợp Cao lương đỏ chuyển thể thành phim), chỉ ra cách thức hình ảnh điện ảnh tái tác động lên kỹ thuật trần thuật văn học.
Kết quả và những đóng góp mới
Theo các nội dung được xác định trong luận án, các kết quả và đóng góp mới bao gồm:
- Về mặt lý luận: Luận án là một trong những công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên tại Việt Nam ứng dụng toàn diện lý thuyết liên văn bản vào một hiện tượng tác gia văn học đạt giải Nobel Văn học. Công trình góp phần kiểm chứng tính khả dụng của các mô hình lý thuyết liên văn bản (của Julia Kristeva, Roland Barthes, Gérard Genette, Michael Riffaterre, Marko Juvan, Umberto Eco và giáo trình của Nguyễn Văn Thuấn) trong việc giải mã văn bản văn xuôi đương đại phương Đông.
- Về mặt thực tiễn:
- Cung cấp một cái nhìn tổng thể, đa tầng về cấu trúc nghệ thuật và tư tưởng trong 11 tiểu thuyết của Mạc Ngôn, giúp bạn đọc và giới nghiên cứu tại Việt Nam hiểu rõ hơn bản chất phong cách Mạc Ngôn cũng như diện mạo của văn học Trung Quốc thời kỳ cải cách mở cửa.
- Xác lập mô hình phân tích liên văn bản kết hợp đồng thời hai trục: trục nội dung (đề tài, nhân vật, biểu tượng) và trục nghệ thuật (cận văn bản, diễn ngôn, thể loại, chuyển thể điện ảnh).
- Về mặt ứng dụng học thuật: Luận án tạo tiền đề gợi mở hướng tiếp cận mới cho các nhà nghiên cứu văn học tại Việt Nam trong việc áp dụng thi pháp liên văn bản vào các hiện tượng văn học dịch và văn học trong nước; đóng vai trò là tài liệu tham khảo cho hoạt động đào tạo đại học và sau đại học ngành Ngữ văn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở 11 tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã được dịch và xuất bản bằng tiếng Việt, chưa thể bao quát toàn bộ các sáng tác nguyên bản tiếng Trung cũng như các truyện vừa, truyện ngắn và tản văn chưa được chuyển ngữ.
- Do tập trung giải quyết các biểu hiện của tính liên văn bản, luận án chủ động không đi sâu vào việc phân tích toàn diện loại hình học tiểu thuyết truyền thống (như kết cấu cốt truyện tuyến tính, chức năng ngữ pháp - tự sự thuần túy).
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi khảo sát sang các văn bản nguyên tác chữ Hán để đối chiếu chính xác các sắc thái ngôn ngữ địa phương và diễn ngôn gốc của Mạc Ngôn.
- Triển khai nghiên cứu so sánh liên văn bản cụ thể giữa tiểu thuyết Mạc Ngôn với các tác gia văn học phương Tây có ảnh hưởng trực tiếp đến ông, đặc biệt là William Faulkner và Gabriel García Márquez.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các đối tượng sau:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Lý luận văn học, Văn học nước ngoài, Văn học so sánh: Tham khảo Chương 1 và Chương 2 để nắm bắt hệ thống tư liệu tổng quan về lịch sử hình thành lý thuyết liên văn bản và khung thuật ngữ thi pháp liên văn bản của các trường phái phương Tây và Trung Quốc.
- Giảng viên giảng dạy học phần Văn học Trung Quốc và Lý luận văn học: Khai thác Chương 3 và Chương 4 làm tư liệu giảng dạy thực hành phân tích tác phẩm văn xuôi hiện đại, phương pháp giải mã biểu tượng ("bầu vú", "cao lương"), thủ pháp cận văn bản và kỹ thuật giễu nhại diễn ngôn.
- Người nghiên cứu về chuyển thể nghệ thuật: Tiểu mục liên văn bản với điện ảnh trong Chương 4 cung cấp hướng tiếp cận hữu ích trong việc nghiên cứu sự tương tác giữa tác phẩm văn học và phim ảnh.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án khảo sát những tác phẩm tiểu thuyết cụ thể nào của Mạc Ngôn?
Luận án khảo sát toàn bộ 11 cuốn tiểu thuyết của Mạc Ngôn đã được dịch sang tiếng Việt tính đến thời điểm nghiên cứu, bao gồm: Cao lương đỏ (2000), Báu vật của đời (2001), Cây tỏi nổi giận (2003), Rừng xanh lá đỏ (2003), Đàn hương hình (2003), Tửu quốc (2004), 41 chuyện tầm phào (2004), Sống đọa thác đày (2007), Tổ tiên có màng chân (2007), Thập tam bộ (2007) và Ếch (2010).
2. Khung lý thuyết liên văn bản của luận án chủ yếu dựa vào công trình nào ở Việt Nam?
Luận án dựa chủ yếu vào Giáo trình Lý thuyết liên văn bản do tác giả Nguyễn Văn Thuấn công bố năm 2018 (Nhà xuất bản Đại học Huế), gồm 12 chương, 430 trang chính văn. Công trình này đã hệ thống hóa các quan niệm và thuật ngữ của các đại biểu lớn trên thế giới từ Saussure, Bakhtin, Kristeva, Barthes, Riffaterre, Genette đến Juvan, Eco, Bloom.
3. Giới phê bình Trung Quốc có những quan điểm trái chiều nào về tiểu thuyết của Mạc Ngôn?
Văn giới Trung Quốc chia thành hai luồng ý kiến rõ rệt:
- Luồng ý kiến phê phán: Các nhà nghiên cứu như Vương Cán, Hạ Thiệu Tuấn, Phan Khải Hùng, Vương Kim Thành, Lý Kiến Quân và Tiêu Ưng cho rằng Mạc Ngôn sáng tác theo lối thiên mã hành không (phóng túng, tùy tiện), viết về vùng cấm tình dục, bạo lực tàn nhẫn, ngôn ngữ có phần thô tục, nhân vật giả tạo.
- Luồng ý kiến khẳng định: Các học giả như Trần Hiểu Minh, Trương Thành, Trương Thanh Hoa, Trình Đức Bồi, Lưu Tái Phục đánh giá cao Mạc Ngôn ở khả năng thẩm mỹ hóa và dân gian hóa lịch sử, kết hợp văn hóa bản địa Cao Mật với các phương thức tự sự đương đại.
4. Những biểu tượng nghệ thuật nào trong tiểu thuyết Mạc Ngôn được luận án phân tích dưới góc nhìn liên văn bản?
Luận án tập trung phân tích ba biểu tượng cốt lõi trong Chương 3:
- "Bầu vú": Biểu tượng cho cội nguồn sự sống, sự tái sinh, tính mẫu phồn thực và sự che chở.
- "Giấc mơ": Biểu tượng giải tỏa các ẩn ức tâm lý bị dồn nén, kết nối thực tại với cõi vô thức.
- "Cao lương": Biểu tượng của ngũ cốc, sự tồn sinh, sinh lực văn hóa bản địa và lịch sử truyền thống của vùng đất Cao Mật.
5. Luận án phân loại các hình thức trò chơi diễn ngôn trong tiểu thuyết Mạc Ngôn như thế nào?
Trong Chương 4, luận án phân tích trò chơi diễn ngôn qua hai nhánh chính:
- Diễn ngôn giễu nhại, ám chỉ: Kỹ thuật cải biến hạ bản, nhại lại văn phong kinh điển hoặc các diễn ngôn quyền uy nhằm tạo sắc thái trào lộng.
- Diễn ngôn lệch chuẩn: Sử dụng khẩu ngữ, tiếng lóng, từ ngữ thô mộc của đời sống dân gian nhằm phá vỡ quy chuẩn thẩm mỹ tao nhã truyền thống.
Kết luận
Luận án đã vận dụng hệ thống lý thuyết liên văn bản để giải mã toàn diện 11 tiểu thuyết dịch sang tiếng Việt của nhà văn Mạc Ngôn trên cả hai bình diện nội dung và hình thức nghệ thuật. Công trình chỉ ra rằng tiểu thuyết Mạc Ngôn là một mạng lưới văn bản đa tầng, được dệt nên từ ký ức cá nhân, cội nguồn văn hóa Cao Mật, truyền thống dân gian Trung Hoa kết hợp với các kỹ thuật tự sự hiện thực huyền ảo phương Tây. Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp tư liệu học thuật có giá trị cho việc tiếp cận văn học Mạc Ngôn nói riêng và việc ứng dụng thi pháp liên văn bản tại Việt Nam nói chung.