CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 1.Quan niệm về từ thuần Việt và Hán -Việt 1.1 Từ thuần Việt. Khái niệm từ thuần Việt thực ra không phải là một khái niệm dễ nhận biết và đến nay cũng chưa phải đã có sự thống nhất trong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học. Từ thuần Việt, theo Nguyễn Văn Tu là các từ vốn có từ lâu đời làm thành vốn từ vựng cơ bản riêng của tiếng Việt. Ví dụ: cha, mẹ, mưa, nắng, bếp, vườn, mặt trời, đẹp, xấu.
Ông cho rằng, từ thuần Việt như chúng ta thấy ngày nay chính là kết quả của sự Việt hoá các yếu tố từ vựng bắt nguồn từ nhiều ngôn ngữ họ hàng khác. Ông viết: “Những từ thuần Việt là những từ được dân tộc ta dùng từ thượng cổ đến nay. Những từ thuần Việt có quan hệ đến vốn từ vựng cơ bản của nhiều ngôn ngữ Đông Nam Á như: tiếng Thái, tiếng Môn – Khơ – me v. Có cùng quan điểm với Nguyễn văn Tu, Phan Ngọc cũng khẳng định: “khi nói đến thuật ngữ thuần Việt, một người không quen với ngôn ngữ học hiện đại có thể tưởng đâu rằng đó là những từ do chính bản thân người Việt tạo ra, không vay mượn ở đâu hết.
Sự thực thì khái niệm từ Việt, từ Nga, từ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Anh đều không phải là những khái niệm lịch sử mà chỉ dựa trên hình thức. câu trả lời đối với tiếng Việt là hết sức đơn giản; bất kỳ từ nào đơn tiết cũng là từ thuần Việt”. Tiến xa hơn một bước, Phan Ngọc lấy thái độ của người Việt làm tiêu chuẩn đầu để nhận diện đâu là thuần Việt, đâu là ngoại lai. Ông viết: “Bất kỳ từ láy âm nào cũng được xem là thuần Việt không kể nguồn gốc; Những từ như lặc lè, lập là, long tong mặc dầu là gốc Pháp cũng được người Việt Nam xem là từ thuần Việt” (Phan Ngọc [17, 116].
Tương tự như hai học giả trên, Nguyễn Thiện Giáp, trong các công trình của mình quan niệm: “Ngoài những từ có thể xác định chắc chắn là tiếng Việt tiếp nhận của tiếng Hán và các ngôn ngữ Ấn, Âu, tất cả các từ còn lại đều được gọi là các từ thuần Việt. Những từ được gọi là thuần Việt thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, chúng biểu thị những sự vật, hiện tượng cơ bản nhất, chắc chắn phải tồn tại từ rất lâu”. Rõ ràng, ngoài những từ có thể xác định chắc chắn đó là gốc Hán hoặc Ấn – Âu thì ông nhất loạt coi vốn từ vựng còn lại trong tiếng Việt đều là từ thuần Việt cả bất kẻ chúng có gốc từ ngôn ngữ nào. Nguyễn Như Ý, không gọi thẳng là từ thuần Việt mà gọi đó là từ gốc.
Ông viết: “Từ gốc: Từ vốn có trong thành phần từ vựng ban đầu của một ngôn ngữ, nằm trong vốn từ cơ bản của một ngôn ngữ, đối lập với từ vay 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mượn,; còn gọi là từ bản ngữ, từ chính gốc, từ thuần”. Theo Trần Trí Dõi: Lớp từ thuần Việt là cốt lõi của từ vựng tiếng Việt. Nó làm chỗ dựa và có vai trò điều khiển, chi phối sự hoạt động của mọi lớp từ khác. Nếu coi từ thuần Việt là kết quả của quá trình tiếp xúc, tác động lâu dài giữa các ngôn ngữ Nam Á và Tày-Thái thì các từ này hình thành nên một lớp từ vựng cơ bản và lâu đời nhất trong tiếng Việt, có thể chia ra như sau: Những từ tương ứng với tiếng Mường như: đuôi, móng, mồm, sừng.; cô gái, đàn ông, vợ, chồng.; cây, củ, cơm, mả.; bí, cỏ, chuối, hành., bướm, cáo, cầy, chuột.; bẩn, cay, chậm, dài.
Những từ tương ứng với các tiếng Tày-Thái như: bánh, bóc, buộc, đường, gọt, ngắt, ngọn, rẫy, vắng. Những từ tương ứng với các tiếng Việt-Mường và Tày-Thái như: bão, bể, dao, gạo, ngà voi, sống. Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và Bru ở tây Quảng Bình: bụng, bốc, bớt, củi, đêm, mặt trăng, mặt trời, núi, rắn, chuột. Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và Môn-Khơme ở Tây Nguyên: dốc, đèo, khói, mây, mưa, rừng, sấm.; da, đầu gối, mỡ, người, óc, tim, thịt.; bố, bọn, mày, mẹ, nó.; bếp, cày, chổi, cuốc, ruộng.; bịt, bóp, bú, bưng, cắn, cắt, đứng, gãi, hét, lắc, mặc, nghĩ, ngồi, phá, quăng, ôm, rụng, tát, về, xé.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Những từ tương ứng với nhóm Việt-Mường và các ngôn ngữ Môn-Khơme nói chung: một, hai, ba, bốn, năm.; con, cháu, mọi, người; đất, đá, gió, lửa.; cằm, chân, cổ, lưng.; bay, cắt, đẻ, kẹp, liếc.; cong, già, mới, ngát. Các ví dụ trên đây chứng tỏ rằng cội rễ của từ vựng tiếng Việt hết sức phức tạp. Chúng gồm nhiều nguồn đan xen, chồng chéo, thậm chí phủ lấp lên nhau. Nghiên cứu chúng sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc khảo cứu nguồn gốc tiếng Việt nói chung.
Quan điểm trên của Trần Trí Dõi rõ ràng là rất thống nhất với các cách quan niệm của các tác giả Nguyễn Văn Tu, Phan Ngọc, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Như Ý. nhưng ông đi vào chi tiết hơn, cụ thể hơn. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ cách quan niệm này và muốn nhấn mạnh hơn vào cái tiêu chí “thái độ của người Việt”, bởi vì, thật khó để chúng ta phân biệt được thế nào là một từ thuần Việt nếu không dựa vào cảm quan của người bản ngữ. Trên thực tế, xử lý tư liệu sẽ có một số trường hợp mà nếu xét một cách nghiêm ngặt thì đó là từ ngoại lai (gốc Hán chẳng hạn) nhưng trong quá trình sử dụng chúng đã trở nên gần gũi với người Việt, được người Việt coi như yếu tố gốc, yếu tố thuần Việt.2 Từ Hán-Việt Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán bắt đầu khi nhà Hán của Trung Quốc đô hộ Việt Nam.
Quá trình tiếp xúc lâu dài giữa hai ngôn ngữ này đã dẫn đến kết quả là tiếng Việt du nhập một khối lượng rất lớn từ ngữ gốc Hán. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hiện tượng này diễn ra với các mức độ khác nhau qua các thời kỳ. Giai đoạn đầu sự tiếp xúc vay mượn còn mang tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chủ yếu thông qua con đường tiếp xúc khẩu ngữ giữa người Việt và người Hán. Đến đời Đường, tiếng Việt mới có sự tiếp nhận các từ ngữ Hán một cách có hệ thống qua con đường sách vở.
Các từ ngữ gốc Hán này chủ yếu được đọc theo ngữ âm đời Đường tuân thủ nguyên tắc ngữ âm tiếng Việt gọi là âm Hán-Việt. Ví dụ: phiền, phòng, trà, trảm, chủ. Các từ ngữ gốc Hán nhưng không đọc theo âm Hán-Việt như: Các từ được du nhập vào tiếng Việt trước đời Đường, cũng gọi là âm Hán cổ (tương ứng với các âm Hán-Việt trên là buồn, buồng, chè, chém, chúa. Ngoài ra cũng cần kể đến những từ xuất phát từ các phương ngữ Trung Quốc khác nhau (như tiếng Quảng Đông, tiếng Triều Châu.) được du nhập thông qua đường khẩu ngữ như: ca la thầu, mì chính, xì dầu, bánh pía, sương sáo, lẩu.
Vấn đề nguồn gốc từ, đặc biệt là từ Hán - Việt vốn đã được các nhà Việt ngữ học chú ý từ lâu. Theo một số học giả thì từ Hán Việt được định nghĩa như sau: “từ Hán Việt đã nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt; còn gọi là từ Việt gốc Hán. Ví dụ: Chính phủ, quốc gia, giang sơn, nhân dân, tổ quốc, xã tắc. Theo Bùi Đức Tịnh: “Có thể định nghĩa một cách giản dị rằng tiếng Hán Việt là những từ tiếng Hán phát âm theo lối Việt.
Ban đầu đó là những chữ Hán mà khi học trong sách 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trung Hoa, các nhà trí thức ta đọc trại đi theo giọng Việt”; “ Những tiếng Trung Hoa học được, tổ tiên ta nói trại đi. Sự biến hoá các tiếng Hán theo âm hưởng Việt Nam ấy đã diễn ra bằng hai cách nói trại của dân chúng (dân hoá) và cách nói trại của các nhà trí thức (nho hoá). Những tiếng do các nhà trí thức nói trại sẽ được gọi là tiếng HánViệt”. Cũng theo Bùi đức Tịnh thì: “Tiếng Hán Việt có hai đặc tính.
Về chính tả, giữa âm và thinh có một sự liên quan trực tiếp. Ví dụ: Các tiếng hán Việt khởi đầu bằng một nguyên âm chỉ có thể có các dấu sắc, hỏi, hay không dấu; những tiếng khởi đầu bằng một phụ âm (l, m, n, ng, ngh, nh) chẳng hạn chỉ có dấu ngã hay dấu nặng. - ẩn, ổn, uỷ, ỷ, ảnh. - Lễ, mẫu, nỗ, ngũ, nghĩa, nhã.
Về vị trí tương đối của các tiếng dùng chung, tiếng chỉ định đứng trước tiếng được chỉ định. Các nhà ngôn ngữ học gọi đó là ngữ pháp đặt ngược. Ví dụ: - Hắc y “hắc” chỉ định, làm cho rõ nghĩa tiếng “y” - Ký sinh trùng: “kí” chỉ định “sinh”, “kí sinh” chỉ định “trùng” [1, 11]. Nguyễn Văn Tu, với một cách quan niệm mang tính hệ thống, đã đưa ra một nhận định rất đáng lưu ý: “Trái với từ gốc Hán cổ, những từ Hán Việt hoá 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ra đời sau khi ta đã mượn toàn bộ hệ thống từ gốc Hán.
Nhưng hai thứ đều giống nhau ở một điểm là chúng đi sâu vào sinh hoạt của quần chúng. Chính chúng đã biến đổi các dạng của từ Hán mượn có thể không được dùng như những từ Hán Việt hoá vẫn tồn tại” (Nguyễn Văn Tu [14,228]. Nguyễn Thiện Giáp, đưa ra một cách nhìn nghiêm ngặt hơn về từ Hán Việt. Ông viết: “Chỉ được phép coi là từ Việt gốc Hán những từ Hán nào thực sự nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt, chịu sự chi phối của các quy luật ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp của tiếng Việt”.
Như vậy, theo sự hình dung của chúng tôi, từ gốc Hán trong tiếng Việt sẽ gồm hai bộ phận chính: a. Các từ ngữ gốc Hán đọc theo âm hán Việt, gọi tắt là từ Hán Việt; b. Các từ ngữ gốc Hán không đọc theo âm Hán Việt. Cả hai bộ phận trên đây đều có những đặc điểm riêng khác với các từ Hán đọc theo âm Hán Việt” (Nguyễn Thiện Giáp [11, 276].
Cũng bàn về từ Hán Việt, nhóm tác giả cuốn “Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt” quan niệm: “Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai, mà người Việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình” [7, 254].