mở đầu, kết thúc, có nhân vật chi phối các sự kiện dién biến của câu chuyện đó. Cantoluna của Dinh Thị Như Thúy là một bài thơ tự sự bởi cầu trúc nội dung của bài thơ là dòng tự sự về việc người phụ nữ ném trải ban nhạc của tình yêu qua da dang cung bậc xúc cảm. Cả bài thơ là hành trình đi từ hạnh phúc đến khô đau, dé rồi đến cùng nhận ra rằng mình thật sự hạnh phúc, vi dau có đau thương day dứt, tình yêu kia đã là thật, cung bậc hạnh phúc kia đã là những điều chủ thé that sự đã trải nghiệm. Song, dẫu có là một bài thơ tự sự với sự xây dựng như một cầu chuyện, tính trữ tình của nó vẫn được thê hiện thông qua những triết lý về tình yêu.
Đó 1a câu hỏi chất van về ban chất của tình yêu, răng: “Con người ta yêu nhau cũng hạnh phúc và khổ dau như vậy sao?” (Cantoluna) Câu chuyện của Cantoluna cũng chính là nhằm thé hiện cảm nghiệm trên vẻ tình yêu, chứng minh rằng tình yêu vừa là hạnh phúc vừa là đau thương, vừa là trọn vẹn vừa là mat mát, in hẳn và khắc sâu trạng thai đau thương và bat lực của con người trong suốt hành trình cảm nghiệm của chính mình. Dé đến khi “nang” hạnh phúc vi dong suối trong cơn mộng — nơi khiến “nang” nêm trải mọi quăng quật thương đau — là có thật, cũng là lúc thê hiện trọn vẹn cảm quan yêu của Dinh Thị Như Thúy: đó là triết lý yêu trong sự chấp nhận cả hạnh phúc và đớn đau, có như thể mới có thé thật sự yêu và đạt đến một tình yêu trọn vẹn. Bên cạnh việc xuất hiện sự thâm nhập yếu tố tự sự vào yếu t6 trữ tình dé dưới đạng thức thể hiện của một bải thơ văn xuôi, có nhiều trường hợp yếu tố trữ tình xuất hiện riêng lẻ chéng lấn trong mạch trữ tình xuyên suốt tác phẩm. Ở Chứng ta đã không thuộc về thế giới nay, đó là sự dan xen câu chuyện về con sên đen trong dòng chảy của xúc cảm về nỗi sợ hãi cảm giác bất lực tuyệt vọng bi san đuổi và trốn chạy của mình.
167 “Toi hôm qua trước khi di ngủ nàng nhìn thay một con sén đen trong phòng tam. Màu den dam nhớt và vẻ cham chap của nó khiên nàng ghê tom. ` { Pa ` 2 + ` * # ˆ as ˆ = Nàng hat nó vào bon cau và xa nước. Con sên trôi tuột di.
Từ câu chuyện về con sén đen dé hình thành tiếp nối cảm thức không thuộc về của chính mình cùng với khát khao được ai đó mang trả chính mình vẻ nơi chính mình thuộc về, Dé là su tự vẫn về con sên đen, tự trách mình đã đối xử thiếu công bằng với một sinh thé và nghĩ đến hoàn cảnh của chính mình, khao khát được trả vé nơi mình thuộc về: “Bông dung trong nang bật lên những câu hỏi. Con sên đen. Nó có cảm giác gì không ? Nó sẽ làm gì? Sẽ ra sao? O nơi chon tối tăm và hôi thôi đó? Nàng rùng minh thay ân hận. Sao nàng nỡ đổi xử với con sên hiển lành đó như vậy? Lẽ ra né sẽ được sông tiếp một đời sống khác.
Néu nàng làm khác di. Nàng có thể mang nó ra vườn, Đặt nó vào đất ẩm. Giữa những cây rau dap cá. Là nơi chôn quen thuộc cua nó.
Có lẽ nó đã mong nang làm như thể. Mang nó về với noi chôn của no. Bởi lẽ nếu nàng là con sên nàng cũng mong có ai do mang nàng về với noi chôn của nàng. Nang làm sao có thé mong ai đó đổi xứ tàn nhân với nàng như cách nàng đã đối xứ tàn nhân vội vàng thiếu suy nghĩ với con sên kia.
Lúc còn nhỏ nang thường nghe mẹ nàng nói về kiép trước. VỀ sông mê bến itt. Con sén đen. Kiếp trước nó là ai? Và nàng nữa? Nàng là ai? Có phải món cháo hi được ăn trước lúc đầu thai đã không có may hiệu quả với nàng.
Và nàng có thé cing đã không uống đủ nước sông mê. Tại sao nàng cứ luôn ao ước được trở về. Một nơi nào đó? Đêm đêm trong giắc ngủ có khi nàng nạhe tiếng 168 gọi. Có khi chính tiếng nàng thì thầm giuc giã.
Hay ra di. Nhưng đó là nơi nào?" Hay đến với Chỉ chúng ta mới có quyền kết thúc cuộc chơi này, 46 là sự dan xen những dòng tự sự về budi đi xem phim với Vũ: “Nhớ buổi toi mùa dong. Vii đến nha che di BigC Da Nẵng coi phim Chang Vang. Các phòng chiếu phim déu ở lau tư.
Hai đứa giấu hai chai nước trong cái áo khoác rộng lùng phùng. Và hai 6 bánh mì dai. An nha nhan trên ghé bang. Noi tran ngập người mua sam lại qua.” Và đó còn là toản bộ quá trình chủ thé gặp gỡ con ran, đến những tranh đấu không ngừng trong việc tiếp cận con rắn và cuối cùng kết thúc ở việc chủ thể cần trọng đưa tay về phía sinh vật xanh đẹp dé kia: “Đúng lúc do thi con ran xuất hiện.] Tôi đến gan hơn chút nữa.] Tôi nhật một hòn đá ném vào nó cùng một tiếng suyt nhẹ.
Nó trườn đi rất nhanh. Nhung đúng lúc tôi quay người định bước đi. Thì thấy nó trở lại.] Tôi chợt có ý nghĩ: Cai gi sẽ xảy ra nêu tôi diva tay về phía nó? Cham vào làn da xanh non kia? Mướt rượt? Diu dàng? Mém mai? [. Tôi đưa tay về phía con ran.” Kê về nhiêu những điều đã xảy ra, những sự kiện ấy đóng vai trò như cho những cảm nghiệm về con người, vẻ đời sống cũng như vẻ triết lý sống của chủ thé.
Rang sau những đớn đau từ màu xanh bất tận, là màu xanh của cái chết, của những giả trả bất tận, thì suy cho cùng, “vinh cửu màu xanh lá cây”, những đớn đau của sự sông mãi 169 ton tại những một thực thé bat biến với thời gian. *ĐÐưa tay về phía con rắn", chap nhận cả nguy cơ bị nó “md vào ngón tay” chính la sự chấp nhận những giả trá lọc lừa, những nguy cơ tiêm an của cuộc đời dé vượt lên trên và tiếp cận, hướng đến cuộc đời với bản chất của chính nó: là tong hòa phức tap và đa dang các mang màu tối sáng, không thé phân định phiến diện. Vẻ kĩ thuật thé hiện yếu tố tự sự, có thé thay, dd cho đó là sự kết hợp giữa yếu tố trữ tình và yếu tố tự sự dưới hình thức của một bài thơ tự sự hay một bài thơ trữ tinh, các yếu tổ tự sự trong việc thẻ hiện thé giới chắn thương trong thơ Dinh Thị Như Thúy, dòng tự sự ấy thê hiện tính chất đa tuyến, tạo thành “những câu chuyện chồng chat lên nhau, những câu chuyện bao gồm nhiều câu chuyện" (Khé lêm, 2011). Đó là những chong lan từ thực tế đến tâm thức, mà ở Cantoluna là sự luân chuyên từ quá trình cảm nhận bài hát tình yêu đến với những khô sở đớn đau nơi dòng suỗi trong mo.
Hay đó còn là sự chong lắn thời gian phi tuyến tính, không cùng năm trên cùng một sự vận động từ quá khứ đến thực tại, mà đó có thể là sự truy nguyên từ thực tại đến quá khứ, từ câu chuyện con sên đen đến “hic nhỏ nàng thường được nghe mẹ nàng kề về kiếp trước” trong Chúng ta đã không thuộc về thé giới này. Hay hoặc đó có thể là sự chồng lắn của từng đoạn quá khứ không xác định thời gian, cứ ào ạt tuôn chảy thông qua sự vận hành của ký ức trong Chi chúng ta mới có quyền kết thúc cuộc chơi này. Mạch tự sự của các bài thơ trên cứ như thé được trình hiện hay tái hiện theo dong chảy của những miên man suy nghĩ không lối thoát, để từ đó làm nên một thé giới bat định trong sự nhập nhoạng của ý thức, với những chong lấn liên tục theo dòng suy nghĩ, để con người hình thành và ton tại trong trạng thái đớn đau liên tục bởi sự truy van khốc liệt của bản thé trong quá trình tôn tại đau thương. Như vậy, việc sử dụng thê thơ tự do với các đặc điểm như tự do về số tiếng, vận dung thơ văn xuôi, thơ văn xuôi không đấu câu và việc kết hợp các yếu t6 tự sự trong thơ trữ tinh đã tạo nên sự thống nhất đối với nội dung thé hiện chan thương.
Bởi không phải chỉ chú trọng vào việc tìm hiểu sự kiện cốt lõi gây nên chắn thương, việc “doc” chan thương trong các sáng tác văn học nói chung va thơ Dinh Thị Như Thúy nhất thiết phải là “doc” được quá trình vận động của trạng thái chan thương 170 trong sự cảm nghiệm nỗi đau của chủ thé. Và thé thơ tự do, với tat cả những đặc tính tự do của chính nó. là một công cụ đắc lực dé nhà thơ Như Thúy trình hiện vả phơi trải đời sống tinh thần day những mâu thuẫn và phức tap trong quá trình trải nghiệm và chiêm nghiệm đa dang các cung bậc xúc cam thông qua những câu thơ dai ngắn khác nhau. qua sự phá vỡ trật tự ngôn ngữ bởi những đoạn không dau câu hay sự thâm nhập và kết hợp của yếu tổ tự sự vào thơ trữ tình, làm nên một thé giới thơ không nguyên tắc được vận hành bởi nguyên tắc của tinh than, là một thé giới với những chông lan, dan xen, hòa lẫn, với những đứt gãy và bat lực bởi trạng thái chan thương của con người.
Chan thương trong thơ Dinh Thị Như Thúy nhìn từ phương diện không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật 3. Không gian nghệ thuật Không gian nghệ thuật, theo tác giả Trần Đình Sử (2017), là “sản phẩm sáng tạo của nghệ sĩ nhằm biểu hiện con người và thể hiện một niệm nhất định về cuộc song”. Đến với việc tạo dựng thé giới chân thương trong thơ Dinh Thị Như Thúy, có thé thấy, đó là một không gian hỗn độn, chồng lấn, có sự luân chuyên linh hoạt tử vật lý đến tâm tưởng, đồng thời có sự vận dụng linh hoạt ý nghĩa biểu hiện, được dựng lên từ các tiêu không gian như không gian khu vườn, không gian căn phòng, không gian biên và không gian giac mơ. Không gian khu vườn xuất hiện trong thơ của nữ thi sĩ ở những dang thức khác nhau, đó vừa là khu vườn tâm thức, đồng thời cũng vừa là khu vườn vật lý thấm đẫm trạng thái tâm thức của chủ thể chắn thương.
Đó là khu vườn đề người dan bà “buôn bã nhìn ra vườn” hay “đi khắp ray vườn nghe hơi nước mát lạnh giữa không gian long lộng phóng khoáng gió" (Nơi ngày đông giá thổi).