mở đầu cho Tiểu thuyết Mới, đồng thời như một báo hiệu cho kỷ nguyên của hoài nghi và phủ định. Các nhà văn thuộc trường phái này dần phủ nhận con người trong tác phẩm và thay thế vào đó bằng thế giới của đồ vật: con người bị đồ vật hóa. Thế giới tan hoang, tâm trạng con người rời rã và con người ngày càng chìm đắm vào nỗi cô đơn. Đặc biệt, với sự xuất hiện cảm quan chủ nghĩa hậu hiện đại từ sau thế chiến thứ hai, sự bất hòa giữa con người với xã hội lại càng được văn học khắc họa rõ nét.
17 Có thể nói vắn tắt, đó là một kiểu cảm nhận đời sống đặc thù thể hiện trạng thái tinh thần của thời đại: nhận thấy sự đổ vỡ của những trật tự đời sống, tính áp đặt của cái chính thống, của các phát ngôn lớn, sự đảo lộn trong các thang bảng giá trị đời sống, sự mất niềm tin, bơ vơ, lạc loài, vong thân, tâm trạng hồ nghi tồn tại và tình trạng bất an của con người. Đấy là tinh thần chung nhất. Còn sự thể hiện chúng trong văn chương lại khá đa dạng, phức tạp [144]. Đặc điểm chung nhất của chủ nghĩa hậu hiện đại là sự sụp đổ niềm tin, từ niềm tin vào những mô thức có sẵn đến niềm tin vào những điều được xem là đúng đắn trước nay.
Vì vậy, văn học hậu hiện đại thường phản ánh con người với những ám ảnh hoang tưởng, họ xem cuộc sống là vô nghĩa, như một cuộc chơi và cái chết cũng cũng không còn đáng sợ. Con người lao vào tình yêu, tình dục như một sự trốn chạy, như thể đó là cách duy nhất để họ tìm lại sự cân bằng của cuộc sống, để chống lại cảm giác cô độc, trống vắng của tâm hồn. Nhưng dù chống trả quyết liệt thế nào, con người vẫn không thể thoát khỏi cảm thức cô đơn, xa lạ và mất niềm tin vào cuộc sống. Với văn học hậu hiện đại, cuộc sống tiếp tục là sự phi lý, tuy nhiên, cùng miêu tả về con người phi lý, nhưng nếu trong các tác phẩm văn học hiện đại của A.
Kafka vẫn còn có chút trăn trở, băn khoăn khi tiếp xúc với yếu tố hoang đường, kỳ ảo thì trong văn học hậu hiện đại, con người đối diện với những điều bất thường, phi lý bình thản, xem đó như một điều hiển nhiên và sẵn sàng đối diện với những điều không có thật trong cuộc sống của mình. Từ sau đổi mới, với khuynh hướng hòa nhập với tiến trình văn học thế giới, văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ văn học phương Tây, tiếp thu nhiều tư tưởng, quan điểm, lý thuyết văn học mới. Con người bất hòa là thái độ xuất hiện như một phản xạ của con người chống chọi lại sự cô đơn và cái phi lý, và sự thể hiện con người bất hòa trong văn học Việt Nam đương đại, đặc biệt là trong tiểu thuyết - thể loại có nhiều ưu thế nhất trong việc thể hiện chân dung con người - ngày càng đậm nét. Con người bất hòa trong văn học Việt Nam Văn học là tiếng nói của tình cảm, hầu như tất cả cảm xúc, trạng thái của con người đều được đưa vào tác phẩm văn học.
Nhân vật con người bất hòa đã tồn tại từ rất lâu trong văn học Việt Nam, nhất là ở những mảng văn học quan tâm nhiều đến suy nghĩ, trăn trở của con người cá nhân. Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi của bối cảnh xã hội, con người bất hòa đã có những biến chuyển trong lịch sử văn học. Ngay từ truyện cổ tích, truyện truyền kỳ đã có con người bất hòa xuất hiện. Đó là những thân phận nhỏ bé không thể tự quyết định số phận của mình, phải trông cậy vào hỗ trợ của các thế lực siêu nhiên thoát khỏi sự đàn áp của cái ác, cái xấu.
Khi xã hội có bất công, họ tìm cách chống đỡ, hoặc trốn chạy. Chẳng hạn như motif hóa thân của Tấm trong truyện Tấm Cám chính là biểu hiện sự không hài lòng đối với xã hội, muốn chống trả nhưng không đủ sức mạnh nên phản kháng bằng cách chạy trốn, hóa kiếp. Hay motif về cái chết của Vũ Nương trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, cũng chính là phản kháng của người phụ nữ không có quyền được sống, được hạnh phúc, được lên tiếng minh oan cho bản thân. Khi nhận ra sự trong sạch của Vũ Nương, Trương Sinh hối lỗi, lập đàn giải oan xin vợ trở về, nhưng Vũ Nương từ chối - quay lưng lại với cuộc sống trần gian, không trở về xã hội còn nhiều bất công đối với thân phận người phụ nữ.
Giai đoạn văn học trung đại, thơ ca thường nói nhiều đến lẽ sống của nhà Nho với những khuôn thước đạo lý của Nho giáo như trung hiếu tiết nghĩa, tam cương ngũ thường, lý tưởng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, nói nhiều đến đạo vua tôi, đạo thánh hiền, chí tiên Nho… Tuy nhiên, nội dung của văn học giai đoạn này không chỉ đơn thuần như thế, mà chúng ta dễ dàng nhận ra ở các nhà thơ lớn thường có sự mâu thuẫn, đấu tranh giữa cái bản ngã và cái phi ngã, phần hướng tâm và phần li tâm, con người chức năng phận vị và con người cá nhân có lạc thú. Tùy thời, tùy tâm trạng mà có khi cái này đậm, cái kia nhạt và ngược lại. Khi xu thế hướng tâm lớn, con người thể hiện tính chất quan phương chính thống, còn khi xu thế li tâm rộng, con người càng đến gần hơn với chữ tình. Những nhà thơ lớn của dân tộc: Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi… luôn phải dằn vặt, trăn trở giữa xuất 19 và xử, hành và tàng, con người nhập cuộc và con người ẩn sỹ, con người chức năng và con người trữ tình.
Trong đó, ở xu hướng thứ hai, nghiêng về cái tâm, cái tình của con người, tâm lý bất hòa được bộc lộ. Mặc thị phi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Trãi đã vui thú tiêu dao cùng gió trăng, sống vui vẻ, chan hòa giữa chim chóc, muôn cây, vui niềm vui của bậc ẩn sỹ không màng sự đời. Từ một khía cạnh nào đó, họ là những con người bất hòa với thời cuộc vì không được chia sẻ lý tưởng, không tìm được người hiểu mình, nên đành từ bỏ chí lớn, bỏ chốn quan trường để trở về tìm niềm vui ẩn dật, điền viên. Bên cạnh đó, những tác phẩm viết về đề tài cung nữ, cung oán như Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều, Cung oán quốc âm thi tập của Nguyễn Bạch Liên, Cung oán thi tập của Vũ Trinh, Cung oán thi của Nguyễn Huy Lượng, Cung oán thi của Nguyễn Hữu Chỉnh… đã phản ánh cuộc đời éo le, tủi nhục của người cung nữ cùng những phản ứng của họ đối với xã hội lúc bấy giờ.
Trong đó, Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều là tác phẩm tiêu biểu nhất đã khắc họa hình ảnh một người cung nữ có ước mơ về tình yêu, hạnh phúc; mong muốn về một tương lai tươi sáng khi được vào cung hầu vua; chán nản, ngán ngẫm khi không được yêu thương, sủng ái nữa; bực dọc, khó chịu trong cảnh tù túng, thừa thãi của cung cấm: “Đang tay muốn dứt tơ hồng/Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra”. Và đặc biệt ấn tượng là hình ảnh một người cung nữ mạnh mẽ và táo bạo muốn chống lại cuộc đời, không chịu chấp nhận số phận nghiệt ngã mình đang phải gánh chịu, muốn phá toang tất cả để thoát khỏi số phận: “Thà rằng cục mịch nhà quê/Dầu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này”. Những bài thơ dí dỏm, bỡn cợt giàu tính ẩn dụ của Hồ Xuân Hương cũng thể hiện mạnh mẽ phản kháng của con người, đặc biệt là phụ nữ đối với sự bất công của xã hội phong kiến. Rồi Truyện Kiều, Văn tế thập loại chúng sinh… của Nguyễn Du, con người đã không chỉ buồn khổ, phê phán mà còn khao khát được thoát ra khỏi xã hội phong kiến, cũng chính là biểu hiện của sự bất hòa.
Ngoài ra, có những nhà thơ tỏ ra không hài lòng với tài mệnh, với chế độ thi cử như Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Tú Xương… đã cười nhạo, đả kích, hoặc 20 dửng dưng với sự đời, tách ra khỏi cách hành xử chính thống để “chơi ngông” với thiên hạ. Đến đầu thế kỷ XX, hình ảnh con người bất hòa tiếp tục được khai thác, thông qua cuộc đấu tranh giữa cái cũ và cái mới, giữa những quy định, ràng buộc, phong tục cổ hủ của xã hội phong kiến và những quan điểm tiến bộ ảnh hưởng từ phương Tây. Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách đã có phản ánh những mâu thuẫn và tranh đấu giữa con người truyền thống và con người hiện đại trong giai đoạn giao thời. Khác con người truyền thống luôn tuân theo quy định của lề thói, lễ nghi phong kiến, bị cấm đoán tuyệt đối những cuộc ái tình tự do; con người hiện đại có sự trỗi dậy của ý thức tình yêu, hạnh phúc cá nhân, nghi ngờ và muốn chống lại những khuôn phép cũ của cộng đồng, xã hội để tự do tìm đến hạnh phúc, tình yêu.
Mặc dù Tố Tâm và Đạm Thủy không dám chiến đấu đến cùng, con người cá nhân chưa đủ sức tách ra khỏi hệ thống cũ mà nó sinh ra, đã quay lại thỏa hiệp với chính hệ thống ấy, nhưng thông qua khao khát đòi hỏi giải phóng tình cảm, sự đau khổ khi tình yêu tự do bị tan vỡ vì tâm lý cá nhân không thể điều hòa với tâm lý cộng đồng, cuốn tiểu thuyết này đã thực sự đề cao tâm lý của con người cá nhân và đòi hỏi quyền hạnh phúc riêng tư của họ. Phải đến những tác phẩm của Tự lực văn đoàn, tiêu biểu là Nhất Linh, Khái Hưng… sự bất hòa của con người đối với hệ giá trị cũ mới được thể hiện rõ. Đó là hình ảnh của những cô gái tân thời dám chống lại lễ giáo phong kiến mà đại diện là một nhân vật, một thế lực cụ thể như bà Án, bà Phán…, dám yêu và sống cho tình yêu chân chính của mình. Đó là những chàng trai được miêu tả như những tráng sĩ phong sương, dám từ bỏ cuộc sống sung túc, từ bỏ tình yêu để dấn thân, nhập cuộc tìm kiếm lý tưởng.
Ở đây, nhập cuộc chính là từ chối - anh ta không chấp nhận hiện thực xã hội lúc đó và dấn thân vào một hành trình mới nhằm cải tạo xã hội. Đến Bướm trắng của Khái Hưng, sự bất hòa giữa con người với xã hội, với thời đại càng sâu sắc, vì nhân vật Trương đã hoàn toàn khước từ xã hội để trốn chạy vào tâm lý, nội tâm của chính mình.